Những nhân vật cải cách trong lịch sử : 2 - Lý Công Uẩn

Ngày đăng: 22/12/2014 00:00:00

Sự nghiệp đổi mới của Lý Công Uẩn là sự mở đầu và có hiệu quả lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc: Từ “Đổi mới triều đại đến đổi mới đế đô, đổi mới xã hội", trong đó đổi mới đế đô là cơ bản. Nhìn lại có thể coi đó là: “Nắm khâu chủ yếu để tiến hành đổi mới mà trước hết là đổi mới tư duy (biểu hiện ở "Chiếu dời đô”).



Đổi mới triều đại


Đầu thế kỷ XI, triều Tiền Lê lâm vào khủng hoảng sâu sắc, từ khủng hoảng xã hội dẫn đến khủng hoảng cung đình. Năm 1005, Lê Long Việt được Lê Đại Hành truyền ngôi cho, lên ngôi được 3 ngày đã bị em (con thứ cùng mẹ) là kẻ tham ô, tàn bạo Lê Long Đĩnh giết. Các em là Long Ngận và Long Kính chiếm giữ Phù Lan (sau là xã Phù Vệ huyện Đường Hào) vẫn chống lại triều đình. Long Đĩnh cho vây thành, lương cạn, Long Ngận bắt Long Kính đem nộp. Long Kính bị chém, Long Ngận được tha tội. Long Đĩnh lại cho quân đi đánh Ngự - Man Vương Long Đinh đang chiếm giữ Phong Châu. Long Đinh đầu hàng. Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) chiếm được quyền hành thi hành những chính sách tàn bạo: Lê Văn Hưu đã ghi “Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua, bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác...”. Ngô Sĩ Liên viết: “Vua làm việc càn dở, vua cướp ngôi thích dâm đãng...”. (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 1). Khủng hoảng xã hội, khủng hoảng cung đình đòi hỏi phải giải quyết. Lịch sử tất yếu phải dẫn đến “đổi mới triều đại": Nhà Lý thay Tiền Lê.


Từ đổi mới đế đô đến đổi mới xã hội


Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi. Đó cũng là thời điểm lịch sử mà sự nghiệp “đổi mới đế đô" đã đến độ chín muồi. Đổi mới đế đô là một sự kiện lịch sử trọng đại, có quan hệ đến tiền đồ, vận mệnh của quốc gia. “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ đã nêu rõ: “Ngày xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô, há phải các vua đời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm thế nào cốt để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ ở giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh".


Dời đô “cốt để mưu nghiệp lớn..., cho vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh". Rõ ràng việc dời đô ra Thăng Long có ý nghĩa kinh tế sâu sắc. Và thực tế là, Thăng Long với thế “Rồng cuộn, hổ ngồi bốn phương tụ hội" như Chiếu dời đô nói, đã góp phần đưa kinh tế Việt Nam, sau hơn 100 năm độc lập tự chủ (từ Khúc đến Tiền Lê, 907-1009) tiến lên đáng kể. Giao thông vận tải đã có dấu hiệu mở mang. Để thông thương giữa miền Bắc và miền Trung các đoạn sông đào (được gọi chung là “Kênh nhà Lê”) cứ tiếp nối nhau hoàn thành. Trước đã đào đến núi Đồng Cổ; năm 983 lại đào từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đến năm 1003 lại vét kênh Đa Cái thông tới Hoan Châu (Nghệ An). Năm 1009, đào sông từ cửa ải Chi Long qua núi Đinh Sơn đến sông Vũ Lũng (Thanh Hóa). Có thể nói, một thị trường dân tộc thống nhất tiền tư bản chủ nghĩa xuất hiện đòi hỏi phải có một đô thị trung tâm là đế đô. Nơi đó không đâu hơn là Thăng Long.


“Chiếu dời đô" đã từ đổi mới tư duy kinh tế dẫn đến “đổi mới đế đô" - một tất yếu lịch sử phải diễn ra, tạo tiền đề thuận lợi cho đổi mới chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội Đại Việt, củng cố vương nghiệp nhà Lý, giữ gìn cho được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.


Những thành công trong dựng nghiệp của triều Lý là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt với sự ra đời của bài thơ nổi tiếng “Nam quốc sơn hà” - một bài thơ được các sử gia coi như “Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Đại Việt.


Đó cũng là một trong những nguyên nhân để triều Lý tồn tại hơn 200 năm (1010-1225) một triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc. Tất cả không tách rời khỏi kết quả của sự nghiệp “đổi mới” ban đầu kể trên của Lý Công Uẩn, trong đó nổi bật nhất là “đổi mới đế đô”.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.