Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý chủ quyền quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Ngày đăng: 18/05/2014 00:00:00

Quần đảo Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Hiện nay, có một số nước và vùng lãnh thổ cũng có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi và có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.




Xét về góc độ vị trí địa lý: quần đảo Trường Sa nằm ở Đông - Đông Nam bờ biển Việt Nam, trong khoảng vĩ độ 6050' đến 12000' Bắc, kinh độ 111030' đến 117020' Đông, gồm hơn 100 đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm, trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam 360 hải lý, có diện tích khoảng 180.000 km2. Trong quần đảo, hòn đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách Cam Ranh khoảng 460 km; hòn đảo gần Trung Quốc nhất cũng cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) trên 1.150 km.

Xét về chứng cứ lịch sử và pháp lý: Theo các chứng cứ lịch sử của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, Nhà nước Việt Nam là người đầu tiên chiếm hữu (ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII) và đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


- Thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), trong "Toàn tập Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư", đã lập bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa, lúc đó gọi là "Bãi cát vàng" và "Vạn lý Trường Sa" (Nguyên bản này hiện đang lưu giữ tại Tô-ki-ô, Nhật Bản).


- Thế kỷ thứ XVIII, trong "Đại Nam nhất thống toàn đồ" đã ghi rõ Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa là những đảo của Việt Nam.


- Lê Quý Đôn (1726 - 1786) trong cuốn "Phủ biên tạp lục" đã mô tả khá kỹ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.


- Phan Huy Chú (1782 - 1840) trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí" và "Hoàng Việt địa dư chí", đã mô tả việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.


Rất nhiều sử liệu quý khác, như "Việt sử cương giám khảo lược" của Nguyễn Thông cũng đề cập khá cụ thể về những hoạt động của binh lính Triều đình trong việc tuần tra, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, lập bia, dựng miếu, trồng cây làm dấu, đánh bắt thủy hải sản, lập trạm hải đăng,... ở trên hai quần đảo này. Hiện nay, viện bảo tàng của các tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa cũng còn lưu giữ rất nhiều cổ vật có giá trị củng cố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, nhất là Sắc chỉ (còn nguyên vẹn bản gốc) của Triều đình nhà Nguyễn liên quan tới việc canh phòng quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng gìn giữ suốt 147 năm qua.


- Thời kỳ nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, từ ngày 06-6-1884, sau khi Triều Nguyễn ký với Chính phủ Pháp Hiệp ước Giáp Thân công nhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam, Pháp bắt đầu thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Năm 1887, Chính phủ Pháp và Triều đình Mãn Thanh ký công ước hoạch định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc; xác định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương I. Brévie ký Nghị định số 156-SC, quyết định tổ chức hành chính quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ngày 21-12-1933, Thống đốc Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP, sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp bàn giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Chính quyền Bảo Đại. Để quản lý về hành chính, nhà Vua đã cho sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Tháng 9-1951, tại Hội nghị San Franxico, Trần Văn Hữu - Thủ tướng Chính phủ của Bảo Đại, Trưởng phái đoàn của Việt Nam ra tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đại diện của 51 quốc gia tham dự đều không có ý kiến phản đối. Rất nhiều tài liệu nước ngoài trong thời kỳ này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam1.


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý hành chính của Chính quyền Sài Gòn. Ngày 22-10-1956, họ ra Sắc lệnh số 143/VN quy định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngày 13-7-1962, Chính quyền Sài Gòn ký quyết định chuyển quyền quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên cho tỉnh Quảng Nam.


Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tiếp tục quản lý, bảo vệ và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã quyết định nâng đơn vị hành chính đối với hai quần đảo lên cấp huyện: huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28-12-1982, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VII đã ra Nghị quyết đưa huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là Khánh Hòa).


Từ những chứng cứ lịch sử; căn cứ vào tập quán quốc tế và các quy định của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982)2, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có đầy đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với các tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo này và chủ trương giải quyết với các bên liên quan bằng đàm phán hòa bình, trên cơ sở nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển 1982 và các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên Biển Đông.


------------------------------------------------------


Chú thích:


1 - Tài liệu lưu giữ của Pháp đề ngày 10-4-1768 mang tên "Note sur I'Asedemandés pas M. de la bonde à M.d' Etaing"; các bài viết của các tác giả Le Poivre (1740), J Chaigneau (1816 - 1819), Taberd (1833), Gutzlagip (1840),... cũng từng khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhiều học giả Trung Quốc trước đây cũng viết sách khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Tài liệu "Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên" do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép các dấu tích do các Triều đình phong kiến Việt Nam gây dựng ở Hoàng Sa và Trường Sa; khẳng định hai quần đảo này là của Việt Nam. Đặc biệt, trong bản đồ "Đại Thanh đế quốc toàn đồ", xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910, cũng chỉ rõ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam; khẳng định cho đến thế kỷ XX, lãnh thổ Trung Quốc chưa bao giờ gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


2 - Quy định về các đảo, đá tự nhiên (Điều 6, Điều 121); bãi cạn nửa nổi nửa chìm (Điều 13); quần đảo (Điều 46b); đường cơ sở quần đảo (Điều 47); các đảo nhân tạo (Điều 60); quốc gia quần đảo (Phần IV),...

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.