undefined

Y phục thời Hùng Vương phần 4

Thứ sáu 21/03/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu lý học Đông Phương - Nhà xuất bản Văn hóa thông tin


Bức tranh bên thể hiện lễ hội dân gian có tựa đề “Đánh vật” thuộc dòng tranh Đông Hồ, miêu tả trang phục người tham gia lễ hội ở trần đóng khố, nhưng chắc chắn bạn đọc sẽ không nghĩ rằng y phục phổ biến trong sinh hoạt xã hội ở thời điểm xuất hiện bức tranh này đều ở trần đóng khố. Tương tự như võ sĩ Sumô của Nhật Bản hiện đại, nhưng điều chắc chắn là y phục của người Nhật Bản hiện đại không phải là y phục của võ sĩ Sumô thượng đài, tức là cũng “ở trần đóng khố”.

Một  thời đại đã đi vào huyền sử, chịu sự tàn phá của thời gian lịch sử hàng  ngàn năm với đội quân chinh phục của các triều đại phong kiến Bắc  phương. Những di vật khảo cổ tìm được thuộc về thời đại này, không c̣òn  đủ để chứng minh một cách sắc xảo cho y phục phổ biến của con người  trong nền văn minh Văn Lang. Những giá trị văn hóa trong trang phục tìm  thấy trong di vật khảo cổ chỉ duy nhất có chiếc cán dao đồng, thể hiện  một mẫu y phục của thời Hùng Vương. Làm sao có thể tìm thấy những bộ  quần áo trong những ngôi cổ mộ có niên đại cách đây vài thiên niên kỷ?  Bởi vây, hết sức ngạc nhiên và thật sự đau lòng trước một kết luận võ  đoán về y phục dân tộc với quan niệm cho rằng: ”Không có một di vật khảo cổ nào tìm thấy chứng minh được truyền thống lịch sử 5000 năm của dân tộc Việt”.Người  viết bài này hoàn toàn không phủ định giá trị cao của những di vật khảo  cổ tìm thấy được. Nhưng, cần khẳng định rằng:

“Di  vật khảo cổ không phải bằng chứng duy nhất  chứng minh cho một luận điểm lịch sử".

Sự chu đáo của tổ tiên đă để cho  con cháu có những cơ hội tìm về cội nguồn của nền văn hiến Việt Nam . Đó là những di sản văn hoá lưu truyền trong dân gian như những tia sáng  mong manh – nhưng rất sắc nét – còn sót lại trong những cổ thư vẫn lưu  truyền hàng thiên niên kỷ, đã chứng minh cho nền văn hiến của dận tộc Việt trải 5000 năm. Những sự trùng khớp những hình ảnh giữa cổ vật thời  các vua Hùng với những di sản văn hóa dân gian còn lại, sự phát triển  minh chứng tiếp nối với tính hợp lý giữa những hiện tượng liên quan, là  một điều kiện cần yếu chứng tỏ khả năng phản ánh thực tế và là cơ sở  khoa học của giả thuyết về y phục thời Hùng Vương trong bài viết này.

Trong sách Luận ngữ, thiên Hiến vấn, khi nhận xét về vai trò của Quản Trọng đối với nước Tề và ảnh hưởng của nó tới xă hội Trung Hoa, chính Khổng tử đă nói: “Nếu  không có Quản Trọng thì chúng ta phải búi tóc và vắt vạt áo bên tả như  người Man Di”

Bạn đọc có thể tìm thấy câu nói đă dẫn của Khổng tử ở trên  trong hầu hết các sách dịch ra Việt ngữ liên quan đến Luận Ngữ, như: "Luận  Ngữ – thánh kinh của người Trung Hoa". Nxb Đồng Nai 1996, Hồ Sĩ Hiệp  biên soạn, Trần Kiết Hùng hiệu đính, trang 208; hoặc ngay trong cuốn  "Lịch sử văn minh Trung Hoa". tác giả Witt Durant, do Nguyễn Hiến Lê dịch.  Nxb Văn Hoá Thông Tin – 1997. trang 32 ...)... Không lẽ cái quan điểm phủ  định giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt được "hầu hết những nhà khoa học trong nước" và cả cái gọi là "cộng đồng khoa học thế giới" ấy, chưa có một ai xem cuốn sách Luận Ngữ này chăng?

Quản  Trọng – tướng quốc nước Tề thời Xuân Thu – sống vào giai đoạn đầu thế  kỷ thứ 7 trước Công nguyên, không rõ năm sinh, mất năm 654 tr.CN, người  đưa nước Tề trở thành một cường quốc, bá chủ các chư hầu nhà Chu. Đây  là thời điểm tương đương với thời kỳ mà không ít những nhà nghiên cứu  đă căn cứ vào Việt sử lược, cho rằng: "Đó là giai đoạn khởi đầu của thời Hùng Vương".

Việt sử lược viết:

Vào  thời Trang Vương nhà Chu (698 – 682 tr.CN), ở bộ Gia Ninh có người lạ  dùng ảo thuật khuất phục các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương”

Như vậy,  qua sự trích dẫn ở trên quí vị cũng nhận thấy sự tương đương sát sao về  niên đại của thời Quản Trọng (mất năm 654 tr.CN và thời Trang Vương nhà  Chu: 698 – 682 tr.CN) và thời điểm lập quốc của các Vua Hùng theo cái  nhìn mới – mà họ cho rằng:

"Thời Hùng Vương chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VII tr. CN". Thật là một sự vô lý, khi chính Khổng tử thừa nhận một nền văn minh phát triển ở ngay bên cạnh địa bàn cư trú của người Hoa Hạ, có khả năng ảnh hưởng và chi phối đến sự phát triển của nền văn minh này. Đă có nhà nghiên cứu cho rằng: "Người Man di ở phía Bắc Trung Quốc" (?). Trên thực tế, trong các thư tịch cổ chữ Hán chưa lần nào dùng từ “Man di” để chỉ giống người phương Bắc Trung Hoa. Ngược lại, trong các thư tịch cổ chữ Hán, “Man di” là từ được dùng nhiều lần để chỉ người Việt. Từ “người Man” trong câu nói của Khổng tử không phải là một danh từ chung để chỉ những tộc người có trình dộ phát triển khác nhau, cư ngụ ở miền Nam sông Dương Tử. Ở đây, Khổng tử đă nói đến nền văn minh Lạc Việt. Để chứng tỏ điều này, xin bạn đọc xem những hình di sản văn hóa dân gian Việt Nam sau đây:

Hình ảnh mà người viết trình bày với bên đây được chép lại từ tạp chí Heritagf số tháng 9/ 10 năm 1996 của Cục Hàng không Việt Nam . Hoàn toàn không có sử dụng kỹ thuật vi tính để lật ngược lại bức tranh. Bạn đọc có thể kiểm chứng điều này qua tay phải của một số nhân vật cùng đứng trong tranh.

Chắc chắn các bạn sẽ nhận ra ngay: đây chính là hình nhân vật trong các trò múa rối nước, một nghệ thuật dân gian độc đáo của người Việt. Bạn

đọc cũng thấy vạt áo của nhân vật rối nước này ở phía bên “tả”  (trái) và mấy cái búi tóc của những hình rối nước này. Cho đến đầu thế kỷ 20, phần lớn đàn ông của dân tộc Việt vẫn búi tóc. Điều này chắc không cần phải chứng minh. Đến đây, vấn đề được đặt ra tiếp tục là: Căn cứ vào đâu để những nghệ nhân rối nước truyền thống tạc hình nhân vật có vạt áo bên “tả” này? Hiện tượng các con rối nước có vạt áo bên trái là một sự ngẫu nhiên, hay xuất phát từ một thực tế đă tồn tại từ cội nguồn văn hóa đă sản sinh ra nó? Khi đă hàng ngàn năm trôi qua, chúng ta quen nhìn vạt áo cài bên “hữu”, thì vạt áo bên “tả” của hình rối nước liên hệ gì với câu của Khổng tử trong sách Luận ngữ: “Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải cài vạt áo bên tả và búi tóc như người Man di”.

Những nhân vật rối nước lưu truyền trong dân gian, phải chăng đă phản ánh thực tế y phục sinh hoạt của thời kỳ Hùng Vương. Rất tiếc! Những con rối nước cài vạt áo bên trái ngày nay rất hiếm gặp. Người ta đă hiện đại hoá nó bằng cách tạo cho nó một cái vạt áo bên phải. Nhưng cũng may mắn thay! Đây không phải bằng chứng duy nhất cho y phục dân tộc thời Hùng Vương.

Xin tiếp tục xem hình dưới đây:

Y phục dân tộc Dao ở Phú Thọ Trích từ bài “Cạy cửa tìm nhau” Ngọc Vinh & Lương Ngọc An
(Báo Tuổi Trẻ ra thứ 7 ngày 08/06/2002 )

Tất nhiên tác giả bài báo này không có nhã ý nhằm giới thiệu y phục dân tộc Dao và giúp minh chứng cho luận điểm của người viết. Dân tộc Dao là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời tồn tại trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Bởi vậy; y phục dân tộc này cũng còn giữ được những nét văn hoá cổ truyền của nước Văn Lang xưa: Trên y phục của cặp vợ chồng ở hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy người đàn ông áo vạt đưa sang bên trái, người phụ nữ vạt đưa sang bên phải. Vấn đề cũng không chỉ dừng ở đây.



Hình bên đây được người viết chụp trực tiếp hình ảnh trên chương trình truyền hình VTV3. có nội dung miêu tả đám cưới người dân tộc Mông. Chúng ta lại một lần nữa tìm thấy dấu ấn y phục từ ngàn xưa của tổ tiên với người nam mặc áo bên "tả" và nữ bên "hữu":

Chưa hết, một dấu chứng tuyệt vời dưới đây là hình khắc nổi tiếng trên một hang động ở tình Hồ Nam, thuộc Nam Dương tử, có niên đại trên 2000 năm, mà người sống ở vùng này vẫn tương truyền rằng: Đó là hình bà Nữ Oa và vua Phục Hy. Chúng ta lại nhận thấy vạt áo cài bên trái của vua Phục Hy và bên phải của bà Nữ Oa.

 


Dân tộc Dao và Mông sống trong vùng rừng núi hẻo lánh, cho nên ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán. Do đó, hiện tượng cài vạt áo bên trái của người đàn ông trong y phục của những dân tộc này còn lại đến nay, cùng với các tư liệu đã trình bày ở trên cho thấy: Đó là những chứng cứ có sự tiếp nối văn hóa từ ngàn xưa và cho đến tận bây giờ trong nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ ở nam Dương tử. Những chứng cứ rõ ràng đó và luận điểm trình bày hoàn toàn phù hôp với những tiêu chí khoa học:  "Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó lý giải một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó; có tính khách quan; tính hệ thống, tính quy luật và có khả năng tiên tri.” . Những vấn đề được hân hạnh tường với bạn đọc, nhằm chứng minh cho một nền văn hoá cao cấp tốn tại ở miền Nam sông Dương tử mà chính Khổng tử nói tới. Qua sự liên hệ ở phần trước, sự minh chứng“Y phục dân tộc thời Hùng Vương”được tiếp tục qua những hình ảnh sau đây. Hình dưới đây là một hình ghép được chép lại trong sách Thời đại Hùng Vương (sách đă dẫn) chiếc cán dao bằng đồng miêu tả y phục thời Hùng Vương và hình nhân vật rối nước trong trò “Múa Tiên”.

Qua hình ảnh trên, chắc quí vị sẽ nhận thấy một sự trùng hợp hoàn toàn về hình thức cái mũ trên đầu hình rối nước và cái mũ trên cán dao đồng. Ngoài sự trùng hợp về cái mũ, còn một số nét tiêu biểu khác trên y phục của hai vật thể này cũng trùng hợp gần như hoàn toàn. Từ đó có thể dẫn đến sự liên hệ hợp lý cho một cấu trúc đặc thù chung của y phục thời Hùng Vương qua y phục rối nước. Hay nói một cách khác: Hoàn toàn có căn cứ khoa học thực sự khi dùng những hình mẫu có chọn lọc của những con rối nước truyền thống để phục chế lại y phục thời Hùng Vương.

Vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây, khi chúng ta tiếp tục so sánh chiếc mũ trên hình cán dao đồng – được khẳng định niên đại từ thời Hùng Vương – với chiếc nón trong hình rối nước “Múa Tiên” và chiếc nón trên hai bức tượng Tiên Dung và Ngọc Hoa công chúa hiện đang thờ ở đền Hùng Phú Thọ dưới đây:

Tượng công chúa thời Hùng Hình tư liệu được chụp tại đền Hùng Phú Thọ

Hiện nay, có rất nhiều trò rối nước được sáng tác ngay thời hiện đại, hoặc vào những thế kỷ trước. Nhưng trò “Múa Tiên” là một trò truyền thống có từ rất lâu trong nghệ thuật rối nước Việt Nam , tất cả các đoàn rối đều có trò này. Do đó, hình rối nước trong trò “Múa Tiên” chắc chắn đă xuất hiện từ thời xa xưa. Qua một khoảng cách thời gian của hơn 1000 Bắc thuộc, nghệ thuật rối nước được ghi nhận lần đầu tiên trong văn bia Sùng Thị Diên Linh – đời Lý – của chùa Đội Sơn (Huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà), tức là vào đầu thời hưng quốc của Đại Việt, cách đây cả ngàn năm. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng múa rối nước chỉ xuất hiện vào thời kỳ này. Đền thờ Tổ 18 thời Hùng Vương xác định xây dựng (hoặc được trùng tu vào thế kỷ XIV). Chiếc cán dao bằng đồng có cách đây khoảng 2500 năm và chỉ mới được phát hiện vài chục năm gần đây.

Trước hết chúng ta cần phải khẳng định rằng: Trò “Múa Tiên”, tượng công chúa đền Hùng và chiếc dao đồng là những sản phẩm của trí tuệ sáng tạo. Tṛò “Múa Tiên” và tượng công chúa đền Hùng đều có trước khi tìm ra chiếc cán dao đồng với khoảng cách hơn 2000 năm cho sự sáng tạo ra hai vật thể này. Do đó, nó không thể được coi là sự sao chép từ chiếc cán dao đồng hoặc là một sự trùng khớp ngẫu nhiên. Hình thức tồn tại giống nhau của những di sản văn hoá nói trên với khoảng cách tính bằng thiên niên kỷ, cho thấy chúng phải có cùng một cội nguồn văn hoá của sự sáng tạo ra nó, tuy chưa xác định được thời điểm bắt đầu cho hình thức tồn tại của nó. Nhưng chắc chắn không thể sau thời Hùng Vương. Những sự trùng khớp gần như hoàn toàn về hình thức y phục của những di sản văn hoá với di vật khảo cổ – được tìm thấy sau sự tồn tại di sản văn hoá – lại khẳng định cội nguồn văn hoá và thời điểm bắt đầu cho hình thức của nó là thời đại Hùng Vương.

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

rss