Việt Dịch trên bãi đá cổ Sapa

Ngày đăng: Thứ tư 02/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Từ lâu tôi đã hân hạnh trình bày quan niệm về cội nguồn Kinh Dịch thuộc về một nền văn minh vĩ đại trong cổ sử nhân loại: Nền văn minh Lạc Việt – cội nguồn của dân tộc Việt hiện nay. Đã có một số người tìm cách chứng minh điều này với những phương pháp khác nhau. Trong bài này, tôi xin giới thiệu một hiện tượng trên bãi đá cổ Sapa liên quan đến quan điểm trên.
Đó là hình một quẻ Dịch trên bãi đá cổ Sapa kèm theo những hình tượng độc đáo lý giải sự khởi nguyên và tính tuần hoàn của vũ trụ.

Trước khi trình bày hiện tượng trên; tôi cũng xin có đôi lời giới thiệu về bãi đá cổ Sapa.

Sapa là một thị trấn sát biên giới Việt Trung phía Tây Bắc – Bắc Việt, cách tỉnh lỵ Lao Cai khoảng 100 km. Từ tình lỵ Lao Cai có thể đến đây bằng xe hơi trên một con đường ngoằn ngoèo băng qua những triền núi. Đây là một nơi nghỉ mát nổi tiếng từ thời thuộc Pháp. Ở đây còn toạ lạc một số những biệt thự sang trọng với kiến trúc cổ của các chức sắc người Pháp ở Đông Dương. Cách thị trấn Sapa khoảng 40 – 50 km là bãi đá cổ Sapa nổi tiếng.
Đây là một trong ba hoặc bốn bãi đá cổ lớn có những ký tự bí ẩn còn lại trên thế giới. Bãi đá cổ này được phát hiện vào khoảng từ năm 1924 đến 1926 do các nhà khoa học Pháp. Các nhà khảo cổ cho rằng chúng được tạo nên từ khoảng hơn 2000 năm nay và thuộc di sản của người Việt cổ (*). Hiện nay chúng chỉ còn lại 198 hòn. Một số khoảng từ 18 đến 20 hòn bị hư hại do khi làm một con đường đi xuyên qua bãi đá đến làng Pò Lùng Chải. Tất cả những phiến đá ở đây đều được khắc những hình vẽ và những ký tự bí ẩn. Đã có rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cố gắng giải mã những ký tự này. Nhưng chưa có ai có được một sự lý giải thoả đáng. Rất tiếc mặc dù tác giả bài này đã tìm gặp trực tiếp người chỉ huy đội làm đường, nhưng anh không nhớ chính xác số hòn đá bị hư hại (ít nhất là 18, nhiều không quá 20 hòn).
Con số những hòn đá (hiện hữu và đã mất) không chính xác này xấp xỉ con số 216. Tức là xấp xỉ độ số hào Dương trong 64 quẻ Dịch.
Rất tiếc đây chỉ là giả thuyết. Vì số lương những hòn đá đã mất không khảo chứng được. Nhưng trong số những hòn đá này, có một hòn liên quan đến điều mà tôi trình bày trong bài này có hình vẽ như sau

Hình trên này đã có nhiều nhà nghiên cứu giải mã khác nhau. Nhưng đáng chú ý là sự lý giải sau đây của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn vì tác giả cho rằng:

Toàn bộ bãi đá cổ Sapa là những kiến thức về vũ trụ có liên quan đến Kinh Dịch. Đây là một ý kiến đồng với giả thiết của tôi. Vấn đề còn là phương pháp chứng minh và khả năng phân tích để chứng minh những điều này.
Tôi xin được trích đăng sau đây đoạn liên quan đến hình vẽ trên để quí vị tham khảo.

Trích:
Nổi bật trên bức chạm đá là hình mặt trời 1 (Số 6 trên hình - số 1 trong nguyên văn của tác giả; số 6 là của tôi hiệu chỉnh vì một sự lý giải khác. Trong đoạn trích dẫn này, số của tác giả ghi nguyên văn trong bản trích dẫn này. Số của người viết thể hiện trong vòng tròn trên hình vẽ thể hiện rong ngoặc kế bên); 2 Trái đất (3) bố cục ở hai phía Đông Tây, nhưng hơi chếch nhau phải chăng là sự diễn tả cao thấp khác nhau của các hành tinh này theo sự nhận biết của con ngườI lúc đó. Bao quanh trời đất là hai dảI các hình song song không khép kín; bên trái gồm ba giải song song không đều nhau, chạy dài liên tục bắt đầu từ Tây Bắc chạy xuống sát gần Trái Đất rồI hơi uốn lượn về phía Đông Nam 9 (2). Bên phảI cũng là ba giải song song 10 (10) bắt đầu từ giữa hình khắc; rồI uốn vòng lên theo xích đạo Trái Đất; uốn vòng lên theo hướng Đông Bắc, bao lấy mặt trời ở phía Đông. Nửa trên của các dải này chỉ còn hai dải song song kéo dài liên tục lên Đông Bắc kết thúc ở điểm cao ngang vớI mặt trời và ba dải ở phía Tấy Bắc. Dải thứ 3 ở ngoài cùng bên Đông chỉ có một đoạn vòng cung đến ngạng tầm điểm cực Bắc của Trái Đất thì kết thức. Dải này có 3 đoạn dài ngắn không đồng đều, đoạn ngắn nhất ở khoảng giữa có hai vạch đứt ở hai đầu.
Sách Dịch cổ cho ba dải số 9
(2) là Nội Quái tượng trưng cho các lớp vỏ trái Đất, còn ba dải số 10 (10) là Ngoại Quái tượng trưng cho các giải sông Ngân hà. Nhà nghiên cứu Dịch học Hồng Quang cho đây là Lục Quyển bao gồm: Vũ Quyển nói về thời kỳ hỗn mang chưa có hình dáng cụ thể ban đầu, Khí Quyển, Tầm Quyển, Sinh Quyển,Trí Quyển. Linh Quyển thuộc về giai đoạn vũ trụ đã định hình từ trạng thái hỗn mang Vô Cực đã thành Thái Cực….

[…lược một đoạn nói về lịch sử thiên văn học Tây Phương…]

Nhận thức của nhân loại đến thời Trung Cổ, mới cách chúng ta khoảng 400 trăm năm mà còn tranh cãi quyết liệt nhức nhối như vậy (Các vấn đề liên quan đến tri thức Thiên văn phương Tây vào thời cổ và Trung cổ - Thiên Sứ). Thế mà từ 3000 – 4000 năm trước CN tổ tiên ta đã chạm khắc “mô hình vũ trụ” vào đá cổ Sapa, khẳng định cả Mặt trời và trái Đất đều là khối cầu tròn và đang quay. Chiều quay của Trái Đất từ Tây sang Đông ngược chiều kim đồng hồ, đúng như chiều quay của các hình đúc trên mặt trống đồng cổ kính của dân tộc. Sự chuyển động được biểu hiện bằng hình xoáy ốc từ tâm ra ngoài thật độc đáo. Đó là biểu trưng sức mạnh nội tâm của tinh cầu, không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Ở vòng xoáy ốc ngoài cùng nẩy lên một nhánh cây, phải chăng đây là biểu hiện của sụ sống, của Sinh Quyển. Nhánh cây này có hai chòm lá ngả về phía Đông là phía mùa xuân. Như vậy quá đúng vớI triết lý Âm Dương Ngũ hành của các vị kỳ lão hiền triết Phục Hy, Thần Nông thời thượng cổ. Vòng xoay của mặt trời cũng do nội lực xoáy ốc từ trong ra ngoài, ngược hướng vớI chiều quay của trái Đất từ Đông sang tây. Một chi tiết cần được chú ý là tổ tiên ta mô tả Mặt Tròi và Trái Đất đường kính gần ngang nhau, như một “cặp sao đôi”. Đây là ngẫu nhiên hay có chủ định từ trước? Từ nguồn trí thức linh giác nào mà ông cha ta khắc như vậy? Điều này rất đáng được suy nghĩ.
Bên cạnh trái Đất tròn còn có một hình vuông nhỏ 3
(4). Đây không lặp lại sai lầm của Hoa tộc thời cổ là “trời tròn đất vuông” (Một số người tới nay còn giải thích chuyện “bánh chưng bánh dày” theo hướng này là không đúng). Ở đây hình vuông đặt cạnh Đất tròn thì làm sao nói chệch đi là trời tròn cho được? Phải thấy ở đây người nghệ nhân vô danh đã nắm Kinh Dịch rất vững và đã chuyển hình chạm khắc sang một đề tài mới:” Mẹ tròn con vuông”. Theo luận thuyết Âm Dương đất thuộc về Âm, về người mẹ, còn trời thuộc về Dương, thuộc về người cha. Thành ngữ tiếng Việt nói cha Trời, mẹ Đất chính là vì vậy. Trong hình khắc mảnh vuông nhỏ đặt cạnh mẹ Đất phải hiểu là “Mẹ tròn con vuông”, một thành ngữ nói lên sự mong mỏi, coi như lời chúc tụng đốI với các bà mẹ bước vào kỳ sinh nở phải được “vuông tròn” nghĩa là thuận lợi, ko gặp rủi ro trắc trở khi vượt cạn một mình. Ý nghĩa nhân văn ở đây quá rõ, nó hoàn toàn khác với quan điểm tĩnh tại “Trời tròn đất vuông” của người Trung Hoa cổ đại.
[..lược một đoạn…]
Trở lại với “Mô hình vũ trụ” (Hình đã dẫn – Thiên Sứ), cả mảng giữa của hình khắc dành cho con người. Tư tưởng chủ đạo ở đây là sự thể hiện rất rõ “luận điểm tam tài” của Kinh Dịch.
Ở đây dưới ký hiệu quẻ Càn 7
(8) gồm ba vạch liền xếp chồng chéo lên nhau đặt hơi chếch về hướng Tây Nam – Đông Bắc là hai hình ngườI một nữ một nam được thể hiện bằng hình song song mang tính ước lệ nhiều hơn tả thực. Người nữ 4 (7) đứng hai chân giang rộng phía trên giải ngoại quái, bộ phận sinh dục khuyếch đại rất rõ. Tư thế chếch theo hướng Đông Bắc – Đông Nam; đầu nhô gần sát vạch giữa quẻ Càn. Tay phải cầm một khí cụ dài dơ thẳng chếch ở khoảng trống giữa Mặt trời và ký hiệu quẻ Càn. Người Nam 5 (1) đứng ở tư thế khom lưng trên giải Nội quái, song từ phần ngang hông trở xuống không được thể hiện. Bộ phận sinh dục ở đây cũng phóng to hơn bình thường. Phía trên đầu ngườI nam là ký hiêu quẻ Sơn Địa Bác 8 (9) gồm quẻ Chấn chồng lên quẻ Khôn, đặt xoay dọc giữa quẻ Ngoại quái và hình vuông nhỏ. Ký hiệu cuối cùng đặt ở dưới vòng cung ngoại quái, phía bên hông gần đoạn ngắn ở giữa nối với hai đoạn dài hai bên là ký hiệu phồn thực 6.

Trích Phạm Ngọc Liễn

Qua đoạn trích dẫn ở trên tôi chỉ có mục đích giới thiệu về một hiện tượng giải mã những hình vẽ trên bãi đá cổ Sapa của các nhà nghiên cứu. Việc này đã có từ khi bãi đá cổ được phát hiện. Nhưng cho đến mãi gần đây mới có những ý kiến liên hệ những hình vẽ này với một học thuất cổ Đông phương là Kinh Dịch qua đoạn trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn – đã trình bày ở trên .
Nhưng theo cách phân tích giải mã của tôi thì hình vẽ này chứng tỏ một nội dung khác so với sự kiến giải của ông Phạm Ngọc Liễn.
Với một cái nhìn khác, tôi xin được tường sở ngộ của mình, hy vọng có sự cống hiến với quí vị và anh em một ý tưởng về cội nguồn của Kinh Dịch và những giá trị đích thưc của nó. Lần lượt những ký hiệu được đánh số trên hình được giải mã theo thứ tụ dưới đây:

1) Người đàn ông biểu tượng của tính thuần Dương ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm “Dương trước, Âm sau” thể hiện trong các cổ thư liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành.

2) Trong Kinh Dịch quái Càn thuộc Dương, ba vạch dài biểu tượng tính thuần Dương ko có giới hạn (vô lượng vô biên). Hay nói cách khác: Đây chính là tình trạng của Thái Cực. Thái cực có tính viên mãn, không giới hạn, vô lượng vô biên được thể hiện bằng hình tròn – cái có trước (Mẹ tròn).

3) Tính Động xuất hiện tạo vòng xoáy ngược chiều kim đồng hồ. Đây cũng là chiều vận động của các Thiên Hà hiện nay (trong đó bao gồm cả các sao và hành tinh).
Chữ Vạn có chiều ngược chính là biểu tượng của tính động xuất hiện ở giai đoạn đầu của vũ trụ.

4) Hình vuông bên cạnh vòng xoáy cho biết khi tính động xuất hiện tức là sinh Âm, đối đãi với trạng thái tĩnh khởi nguyên (mẹ tròn con vuông). Đây là một quan niệm minh triết hợp lý chỉ có ở Việt Dịch là Dương tịnh Âm Động, khác với quan niệm này trong sách Hán cổ và các nhà nghiên cứu kế tục cho là “Âm tịnh, Dương động”.

5) Khi Âm xuất hiện thì sự vận động và phát triển tiến hoá trong vũ trụ bắt đầu. Điều này được hình tượng bằng một cái cây tiếp nối từ sự vận động của vòng xoáy.

6) Vòng xoáy thuận chiều kim đồng hồ là biểu tượng cho thấy sự tương tác của vũ trụ theo chiều ngược với chiều vận động của các thiên thể.
Chữ Vạn có chiều thuận chính là biểu tượng của chiều tương tác vũ trụ. Xin các bạn lưu ý là: Qua các di vật khảo cổ có niên đạI xấp xỉ 10.000 năm cho thấy chữ “Vạn” đã tồn tại rất lâu trong văn minh nhân loại.

7) Sự chuyển hoá từ Dương sang Âm được biểu tượng bằng người đàn bà.

8) Khi Âm cực thịnh thì sinh Dương được biểu tượng bằng quái Càn trên đầu người đàn bà.

9) Hình này theo tác giả Phạm Ngọc Liễn là quẻ Sơn Địa Bác. Nhưng theo sở ngộ của tôi thì đây là quẻ Địa Lôi Phục, nếu lật 90 độ theo chiều ngược kim đồng hồ là chiều vận động cũa các thiên thể trong vũ trụ. Theo Kinh Dịch thì ý nghĩa của quẻ này là "Sự trở lại". Như vậy với hình tượng của quẻ Địa lôi Phục cho thấy vũ trụ vãn động tới cực điểm sẽ là sự quay trở về.

Hay nói một cách khác:

Toàn bộ bức tranh này nói về cách giải thích theo thuyết Âm Dương Ngũ hành về nguyên lý của sự vận động vĩ mô từ khời nguyên của vũ trụ mà khoa học hiện đại gọi là “Giây 0 trước Bicbang” cho đến khi vụ trụ kết thúc và có tính chu kỳ của nó..

Sự trùng khớp trong cách lý giải sự khởi nguyên vũ trụ trên bãi đá cổ Sapa đã chứng minh trong bài: "Định mệnh có thật hay không?".
Nội dung bức tranh của người Lạc Việt trên bãi đá cổ Sapa đã chứng tỏ nguyên lý vũ trụ đã được phát hiện từ lâu và thuộc về nền văn minh này. Kinh Dịch thuộc về nền văn minh Việt với những ký hiệu quẻ trùng khớp với ý nghĩa của bức tranh. Qua sự phân tích nội dung của một bức tranh đá trên bãi đá cổ Sapa, chúng ta sẽ không thể tìm thấy nội dung tương tự trong các cổ thư chữ Hán liên quan trong lý học Đông phương. Điều này cũng chúng tỏ rằng tên gọi đích thực của cuốn kỳ thư Đông phương gọi là “Chu Dịch” – vốn theo truyền thuyết và sách Hán cổ có nguồn gốc từ trên Lạc Thư ở lưng rùa - phải gọi chính xác là: “Lạc thư chu dịch”. Tức là sách của người Lạc Việt nói về sự vận động tuần hoàn của vũ trụ.

Bài viết này lần đầu tiên được đăng tải trên website tuvilyso.com năm 2004 và một số trang web liên quan đến Lý học Đông phương, được bổ sung và sửa chữa đưa lên blog này. Nó chỉ nhằm lưu ý những nhà nghiên cứu một giả thiết về nội dung đích thực của bãi đá cổ Sapa chính là những mật ngữ của người Việt đã ghi lại những trí thức của nền văn hiến một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương Tử và người ta có thể hiểu được nội dung này. Nhưng Thiên Sứ tôi đã nhiều lần phát biểu trên các diễn đàn liên quan đến lý học Đông phương và xin nhắc lại ở đây là:

Trong các tiểu luận, các bài nghiên cứu của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh không bao giờ coi việc giải mã bất cứ một di sản văn hoá nào làm bằng chứng cho các luận điểm của mình. Ít nhất trong giai đoạn hiện nay. Sự giải mã bất cứ một di sản văn hoá nào của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong các bài viết trên các diễn đàn và các sách chỉ có giá trị với chính tác giả, có tác dụng hướng dẫn tác giả định hướng nội dung và phương pháp chứng minh. Vì không phải luận cứ chứng minh, nên nếu có xoá bỏ tất cả mọi hiện tượng giải mã của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì những luận cứ minh chứng cho lịch sử Viêt trải gần 5000 năm văn hiến vẫn giữ nguyên giá trị.

Tất nhiên, một khi sự giải mã trong các tiểu luận, bài viết và sách đã xuất bản của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh không coi là bằng chứng chứng minh trong luận điểm của mình thì tất cả mọi sự phản biện nhằm vào sự giải mã cũng chỉ để thẩm định khả năng tư duy của người phản biện.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của các bạn đã tham khảo bài viết này

Bài viết cùng chuyên mục