Vết tích liên hệ long-rồng và sông qua ngôn ngữ

Ngày đăng: Thứ tư 23/02/2011 12:00:00 (GMT +7)

 

 

 

 

Sông tự nhiên

và rồng Việt Nam thời Lý

 

1. Giới thiệu tổng quát

Có nhiều tác giả đã liên kết rồng với sông - khuynh hướng rõ nét nhất là từ các tác giả người Nga hay học từ bên Nga1. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn 'Cơ sở Văn hoá Việt Nam' NXB Giáo Dục (tái bản lần thứ hai - 1999) trang 135 '... Hình tượng con rồng vốn xuất phát từ vùng Đông Nam Á - đó là điều đã được giới khoa học khẳng định. D. V. Deopik (1993, tr. 13) viết '..rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá Trung Hoa..' Còn Jạ V. Chesnov (1976, tr. 265) thì cho biết '...hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của châu Âu..'. Nếp sống tình cảm, hiếu hoà của người nông nghiệp đã biến con cá sấu ác thành con rồng hiền. Hình cá sấu là môtip trang trí khá phổ biến trong các đồ đồng Đông Sơn ... Cá sấu - rồng được coi là chúa tể cai quản vùng sông nước với tên gọi là Bua Khú (Vua Sấu) ở người Mường, Long Quân, Long Vương ở người Việt. Chữ rồng (Việt) và Long (Hán Việt) đều bắt nguồn từ krong, krông, klong trong tiếng Đông Nam Á cổ có nghĩa là sông nước ... Con rồng mang đầy đủ hai nét đặc trưng cơ bản của tư duy nông nghiệp là tổng hợp và linh hoạt là kết hợp của cá sấu và rắn, sinh ra từ nước hay bay lên trời ... Rất nhiều địa danh Việt nam được đặt tên rồng ... Người dân Nam Bộ tin rằng cá sấu tu lâu năm (nằm im một chỗ cho đất cát phủ lên thành cù lao) tới ngày đắc quả sẽ hoá thành rồng bay lên trời (hiện tượng đó được gọi là cù dậy)...'

Liên hệ rồng và sông còn thấy trong bài viết 'Rồng Việt Nam và dòng sông Nga Volgá tác giả N. I. Niculin '...Tên sông Volga bắt nguồn từ từ vlaga (nước). Tên gọi đó gắn liền với toàn bộ quan niệm thần thoại của người Xlavơ về nước, như vodoanưi (thuỷ thần), ruxanka (nàng tiên cá)... Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con rồng - một con vật tưởng tượng - trở thành biểu tượng quan trọng nhất ... Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá ... Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng.... Rồng Việt Nam và sông Volga của nước Nga - hai biểu tượng quốc gia - đã gặp nhau như vây. Tại đây, biểu tượng của nước Nga (Volga) gần với sắc thái ngữ nghĩa được long thể hiện trong cụm từ Cửu Long'- trích từ cuốn 'Dòng chảy văn hoá Việt Nam' của N. I. Niculin - Hồ Sĩ Vinh, Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu - NXB Văn Hoá Thông Tin - Hà Nội (2006).

Trong cuốn 'Bản sắc văn hoá Việt Nam' - NXB Văn Học - Hà Nội (2002), tác giả Phan Ngọc cũng đưa ra nhận xét 'Từ chỗ thờ hiện tượng thiên nhiên người ta thờ động vật. Hai con vật phổ biến nhất trong huyền thoại Đông Nam Á là chim và rắn. Rồi chim thành tiên và rắn thành rồng bằng cách kết hợp chim với người và rắn với cá sấu. Rồng là sản phẩm của Đông Nam Á, chúa tể các sông, chim là chúa tể các rừng và có mặt trong các huyền thoại, trước khi mang hình thức Trung Quốc ...' Tác giả cũng trích bài viết 'Về gốc tích con rồng' của Phạm Huy Thông trong Khảo Cổ Học, số 1-2, 1988.

Các nhận xét trên còn có thể được hỗ trợ qua những tương quan ngôn ngữ và dữ kiện cụ thể hơn trong vốn từ Hán, Hán Việt, Việt ... tóm tắt ở phần sau.

2. Các chữ liên hệ đến long-rồng

2.1 Nhiều tài liệu cổ Trung Hoa viết về rồng - đa số là thần thoại và rất mơ hồ, dễ được hiểu tự do. Tuy nhiên có ba chú thích quan trọng theo thứ tự thời gian đáng được phân tích thêm : đó là Mao Thi (Kinh Thi, A) , Thuyết Văn Giải Tự/TVGT thời Đông Hán (B) và Khang Hy/KH (năm 1716, C)

(A) 小雅・南有嘉魚之什・蓼蕭 : Tiểu Nhã . nam hữu gia ngư chi thập . liệu tiêu

龍,寵也。箋云為寵為光,言天子恩澤光耀,被及己也 : Long , sủng dã . Tiên vân vi sủng vi quang , ngôn thiên tử ân trạch quang diệu , bị cập kỷ dã

(B) 鱗蟲之長, 能幽能明, 能細能巨, 能短能長, 春分而登天, 秋分而潛淵 . . : Lân trùng chi trưởng, năng u năng minh, năng tế năng cự, năng đoản năng trường, xuân phân nhi đăng thiên, thu phân nhi tiềm uyên. tòng nhục. tòng phi tỉnh. đồng tỉnh thanh.

(B) 寵 : 尊居也. 宀 龍 . Long : tôn cư dã . tòng miên long thanh

(C) 寵 : . . Sủng : Sửu lũng thiết . Sửu dũng thiết .

(C) 瀧 : long HV, tên sông, mưa, ướt ... nhưng còn một cách đọc là song ghi ở cuối phần định nghĩa của Khang Hy! Chữ này ít gặp với tần số dùng là 178 trên 171894734 - giọng Bắc Kinh (theo pinyin/ bính âm) là lóng, lòng ... giọng Quảng Đông/QĐ đọc là lung4, soeng1 so với Hẹ lung2 - để ý dạng soeng1 của QĐ tương ứng với dạng sông của Việt Nam.

2.2 Có nhiều tác giả dẫn giải về định nghĩa của Mao Thi 'Long : sủng dã' như đã ghi ở trên2. Theo học giả Đoàn Ngọc Tài (1735-1845) thì '... 謂龍即寵之假借 也.勺傳曰: 龍和也. 長發同. 謂龍為邕和之假借字也...' (vị long tức sủng chi giả tá dã. Chước truyện viết: Long hoà dã. Trường phát đồng. Vị long vi ung hoà chi giả tá tự dã) : Nói long tức là nói chữ giả tá của sủng. Chước truyện nói: Long tức là hoà. Đồng nghĩa với trường phát (bằng phát triển lâu dài). Nói long tức là nói chữ giả tá của ung hoà (bằng hoà mục, hoà hiệp) trích từ vi.wikipedia chủ đề rồng. Theo lời chú của Đoàn Ngọc Tài, trong cổ văn, chữ long ngoài ý nghĩa là một linh vật còn được dùng như chữ giả tá của sủng và hoà với các ý nghĩa đã nêu trên. Cách lý giải như vậy dựa vào nghĩa mà quên đi phần âm; Hiện tượng này rất thường gặp vì âm thanh đã thay đổi nhiều sau một thời gian dài - và lúc đó không có các dữ kiện về giọng địa phương như QĐ, Hẹ ... và các ngôn ngữ láng giềng - thường lại duy trì âm cổ hơn! Theo người viết thì sủng chính là một âm đọc khác của long, điều này thấy rất rõ trong định nghĩa của sủng trong Thuyết Văn Giải Tự. Nói cách khác, sủng là một chữ với long là thành phần hài thanh. Vì hai chữ đọc quá khác nhau (sủng, chong3 BK so với long/rồng long2 BK) nên ít người nhận ra được liên hệ ngữ âm này. Ngoài ra, theo cách đọc Trung Cổ của sủng (Sửu dũng thiết, KH) thì âm đầu s- của sủng tương ứng với âm đầu s- của Sửu - nhưng ta cũng đã biết rằng âm đầu s- của Sửu chính là một dạng của tr/tl- (âm trâu, tlu)3; Thành ra ta có cơ sở liên kết phụ âm đầu lưỡi vô thanh s- với âm biên (lateral) l- . Tương quan l-s như trên rất khó nhận ra khi chỉ phân tích ngữ âm tiếng Hán đồng đại, tuy nhiên khi so sánh tiếng Hán qua các giọng địa phương hay HV và Việt thì sẽ thấy rất rõ nét :

lực - sức

郞 lang - chàng

朗 lãng - sáng

浪 lãng - sóng

蓮 liên - sen

髏 lâu - sọ

蠟 lạp - sáp

覽 lãm - xem

藍 lam - chàm - xám

籠 lung - chuồng - lồng - lộng

龍long - *chong - rồng - sông

寵long - chong3 BK - sủng

…v.v…

Nếu tác giả Đoàn Ngọc Tài biết đến Nguyễn Trãi (1380-1442) từng dùng chữ Nôm sông (hay long HV) hay các liên hệ l-s trên thì có lẽ ông sẽ đi đến một kết luận khác hơn về tương quan long-sủng thay vì là giả tá4!

2.3 Không những chữ long 龍 đã có dạng đọc là song, một số âm Hán long cũng có thể đọc là *chong , *zhang/zhong hay *song/shuang cho thấy khuynh hướng biến âm này không chỉ hiện diện trong hệ thống âm thanh HV - điều đáng chú ý là các chữ này đều liên hệ đến tên sông, nước, ướt ... như trường hợp của chữ long 瀧 đã nói ở trên :

淞 tùng HV - song1, song2 BK - sung1 QĐ - siung1 Hẹ ... tên sông ở tỉnh Giang Tô

湘 : song , sương, tương ... HV - shuang1, xiang1 BK - soeng1 QĐ - siong1 Hẹ - tên con sông5 chảy qua tỉnh Hồ Nam, hay tên gọi tỉnh Hồ Nam ...

: zhang1 BK – zoeng1 QĐ – siong1 Hẹ - trương, giương, giăng ... giang-siông -

tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam, tên một con sông ở Phúc Kiến ... Để ý các âm dạng gi- s- (giang, sông, 'shông') cho các tên sông ở phía nam sông Hoàng Hà (khu vực có các dân nói tiếng Nam Á thời Thượng Cổ). Các từ Hán, HV chỉ sông nước với phụ âm đầu lưỡi ồn như s-, z/gi- (hay kl/tl/tr- > s-) như trên là một đề tài cần nghiên cứu chi tiết để thêm phần chính xác, nhất là từ các ngôn ngữ có ảnh hưởng lẫn nhau thời Thượng Cổ ở miền Nam Trung Hoa.

2.4 Theo định nghĩa của TVGT ở trên, cách đọc long thời Đông Hán là đồng, đây là thanh phù đặc biệt quan trọng để cho ta thêm chứng tích của liên hệ long-rồng và sông. Liên hệ của phụ âm đầu đ-tr/ch để lại khá nhiều tàn tích trong sử liệu thượng cổ, như sách Xuân Thu ghi Trần Hoàn thì sách Luận Ngữ ghi Điền Hoàn, sách Luận Ngữ ghi Thân Trành thì Sử Ký ghi Thân Đường6 ... Ngoài ra, một dạng âm thượng cổ phục nguyên của long-rồng là *Crong với C chỉ phụ âm đầu như t,k,m... rất phù hợp với các dạng krong, krung, klong ... chỉ con sông trong các ngôn ngữ dân tộc ở miền Nam Trung Quốc bây giờ. Chính vì âm đầu lưỡi đ- mà có tác giả đã từng liên hệ rồng với cây thông hay tùng HV 松 - như theo tác giả Y Vinh Phương, rồng vốn là cây tùng, loài xanh tươi quanh năm phản ánh hình dạng và thuộc tính của loài rồng ... Xem thêm bài viết về Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Thìn/Thần (phần 8). Nhưng trong tiếng Việt, phụ âm đầu tr- và s- lại có tương quan rất gần7 như từ các chữ Nôm cổ cho thấy trống cũng dùng như sống, son dùng như tròn ... Tóm lại ta có cơ sở cho chuỗi biến âm tr/tl/kl-đ > s để giải thích liên hệ *Crong với sông. Ta hãy xem thêm các liên hệ đ-tr qua thành phần HT đồng 童 : ngoài nghĩa thường gặp là trẻ thơ, ta còn có các nghĩa khác hơn như trâu dê không có sừng, núi không có cây cỏ, tuổi già trụi tóc ... mà tiếng Việt còn dùng chữ trống - để ý tổ hợp phụ âm đầu tr-. Đồng 潼 còn là một tên sông (KH) ... Các dữ kiện này đều cho thấy dạng *krong/sông của âm đồng, cách đọc chữ long thời Đông Hán.

Tóm lại, các dữ kiện ngôn ngữ trên đều cho ta thấy tuơng quan long-rồng hay đồng - *kl/trong - sông dựa trên thành phần HT. Không phải ngẫu nhiên mà tiếng Mường có từ long nghĩa là tròn8, cũng như tiếng Inđônêsia có từ sungai để chỉ sông Điều này chỉ thấy rõ nét khi so sánh các cách đọc của tiếng Hán, Hán Việt và Việt cùng với một số ngôn ngữ láng giềng ở miền Nam Trung Quốc. Theo người viết, các học giả Trung Quốc như Đoàn Ngọc Tài, Y Vinh Phương ... đã quá chú trọng về nghĩa mà không để ý đến âm hay thanh phù trong quá trình cấu tạo chữ Hán (long, sủng, tung..) : chính ở thanh phù và các vết tích ngôn ngữ láng giềng mà ta có thể tìm ra được nhiều kết quả đặc biệt như long - rồng và sông. Những kết quả này thường được hình thành từ trực giác qua các huyền thoại và truyền thuyết mà ta phải cẩn thận kiểm tra vì nhiều khi đưa ra những nhận xét trái ngược nhau.

3. Phụ Chú

(1) có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến 'khuynh hướng' lý giải phi-Trung Hoa của rồng từ các học giả người Nga như ảnh hưởng của các kết quả nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá rất phong phú về phương Đông ở Nga ...v.v...

(2) xem thêm http://ist-socrates.berkeley.edu/~hh/odes/P171.html#m173

(3) xem thêm bài viết phần 8 'Nguồn gốc Việt nam của tên 12 con giáp - Thìn/Thần Long-Rồng' . Các liên hệ của sông với các dạng krong/klong ... thường gặp trong các ngôn ngữ thuộc Đông Nam Á (như hệ Môn Khme)- xem thêm bài viết 'Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Sửu/trâu/tlu - phần 11) cùng tác giả

(4) theo các tác giả Lý Lạc Nghị và Jim Waters trong cuốn 'Tìm về cội nguồn chữ Hán' (NXB Thế Giới - Hà Nội 1998) thì sủng 寵 có miên chỉ nghĩa và long龍chỉ âm đọc - nhưng tác giả lại không bàn thêm về âm đọc khác nhau của long và sủng.

(5) sông Tương có nhiều điển tích và tình sử nổi tiếng trong văn học Trung Quốc (và Việt Nam) - nếu tương chỉ là ký âm của *siơng hay sông thì câu 'đồng ẩm tương giang thủy' (cùng uống nước sông Tương) có 3 chữ đã từng có một nghĩa (sông) : tương, giang, thủy. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895) cũng ghi rằng 'ngân hà : sông giang hà, ở trên trời' (ba chữ sông, giang, hà cùng một nghĩa). Các cách dùng lặp lại nghĩa như vậy cho thấy phần nào giao lưu văn hóa theo thời gian, chữ hay âm cổ dùng chung với các dạng mới hơn.

(6) xem thêm 'Nghiên cứu về chữ Nôm' của tác giả Lê Văn Quán - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội (1981) và 'Một số vấn đề về chữ Nôm' của tác giả Nguyễn Tài Cẩn - NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp - Hà Nội (1985).

(7) trang 195 – cuốn 'Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt' của Nguyễn tài Cẩn - NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội (in lần thứ 3, 2004)

(8) tiếng Mường Póch tũa cho long (vót đũa cho tròn) - xem thêm 'Từ Điển Mường Việt' chủ biên Nguyễn Văn Khang - Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành - NXB Văn Hóa Dân Tộc - Hà Nội (2002)

Bài viết cùng chuyên mục

Mèo trong ca dao Việt ( 08/02/2011)

Khi nói đến Mèo, hầu hết người Việt thường lại nhớ đến bốn câu ca dao bất hủ sau đây: “Con mèo mà trèo cây cauHỏi thăm chú chuột đi đâu vắng ...

Để hiểu rõ truyền thuyết, huyền sử và cổ sử Việt ta hãy thử đi tìm mã số DNA hay mã số di truyền học (genetic code) của Hùng Vương. Muốn thế trước ...

KNTL - Từ hàng ngàn năm nay đã có nhiều người quan tâm tìm hiểu thực chất của truyền thuyết “ngày tận thế”. Sau đây là một bài khảo cứu khá đầy đủ ...

Nghĩa chữ ( 02/12/2010)

Trong tiếng Việt, từ KẺ là để chỉ một con người. Đó là một từ trân trọng, nên tầng lớp được trân trọng nhất trong xã hội , từ xưa đến nay người ...

Các nhà khoa học Trung Quốc khi nghiên cứu về ngôn ngữ của dân tộc Bách Việt đã nhận định rằng Bách Việt ngữ là ngôn ngữ dính 黏著語 (chứ không phải ...

Tác giả người Mỹ Souren Melikian vừa có bài viết “Vén bức màn bí ẩn bao phủ hàng thế kỷ của nghệ thuật Việt Nam”, với những thông tin hết sức thú ...

Hấy? với Hầy! ( 06/08/2010)

“Trăm năm bia đá thì mòn. Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trên chuyến xe lửa du lịch từ Hà Nội vào Huế,tầu đang giảm tốc độ,chắc là sắp ...

Trong thành ngữ tiếng Việt có câu: "Nôm na là cha mách qué" xưa nay nhiều người biết, nhiều người dùng... nhưng ý nghĩa thực của câu này là gì? Chưa thấy có ...

MẸ tròn con vuông.Dương có trước, Âm có sau(bánh dầy đặt trên, bánh chưng đặt dưới,linga đặt trên, yôni đặt dưới).Vũ trụ(bầu trời) có trước, trái ...

Sự kiện 82 bia đá các khoa thi tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là ...