Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch - 4

Ngày đăng: Thứ hai 05/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Theo ông Sung kể, cô dâu đã tự nguyện rời bỏ quê hương và tài sản hiện có để theo chồng đến bất cứ nơi nào mà ông phải thuyên chuyển đến. Tuy nhiên, bà không để ông Lượng quên gốc gác tổ tiên của mình. “Bà có một điều ước là cùng chồng quay trở lại quê hương ông nên sẽ xây dựng ở quê nhà một ngôi nhà thờ họ. Để thực hiện được mơ ước này, bà đã phải tìm những cây cột bằng gỗ lim, mỗi cây dài sáu mét và đường kính hơn nửa mét ở Thanh Hóa và vận chuyển về Đình Bảng. Khó khăn nhất là khi những con ngựa phải kéo những khúc gỗ ngược dòng sông đến quê hương Đình Bảng”, ông Sung kể.


Đình Bảng

Được bắt đầu xây dựng năm 1700 và hoàn thành năm 1736, ngôi nhà thờ của dòng họ Nguyễn Thạc được công nhận là kiểu kiến trúc cổ của quốc gia, một trong những ngôi nhà cổ kính nhất đất Kinh Bắc. Khi hoàn thành, ngôi nhà trở thành tài sản của dòng họ, được sử dụng để thờ cúng, làm nơi ăn chốn ở. Ngôi nhà đã cuốn hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu thuộc địa; học giả người Pháp Pierre Gourou đã dành một vài trang trong bài nghiên cứu địa lý xã hội đồng bằng Sông Hồng để phác thảo những bản vẽ, tấm ảnh, mô tả ngắn gọn về ngôi nhà và khen ngợi kiểu kiến trúc đơn giản mà tao nhã của nó.
Ông Sung nhớ lại, khi ông còn là một cậu bé, “người Việt cũng như người Trung Quốc cho rằng một ngôi nhà có bốn thế hệ cùng sinh sống (tứ đại đồng đường) thì rất hạnh phúc. Ngôi nhà thờ họ lúc đó là một ngôi nhà như thế. Các cụ của tôi, ông bà tôi, bố mẹ tôi và tôi, tất cả đều sống ở đây, vì vậy trong ngôi nhà này có bốn thế hệ cùng sinh sống”. Ông nhớ lại, gian nhà chính lúc đó là gian nhà đặt bài vị tổ tiên. Đối với cậu bé Sung lúc ấy, gian thờ là một nơi “lạnh lẽo và đáng sợ”, một khoảng không gian thiêng liêng, hạn chế trẻ con và những người không thuộc dòng họ bước chân vào. Xung quanh ngôi nhà còn có một sân rộng, một bể nước và một hồ cá. Bắt đầu từ năm 1932, mẹ ông phát triển nghề nhuộm quần áo tại và công việc ngày càng phát triển, bà phải thuê thêm hơn 20 công nhân và bán quần áo nhuộm ở những nơi xa như Sài Gòn.

Nhưng mọi thứ đã thay đổi khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất nổ ra, thực dân Pháp chiếm đóng làng Đình Bảng và chiếm luôn ngôi nhà thờ họ này từ năm 1949 đến 1954. Đầu tiên, gia đình ông Sung tản cư lên vùng kháng chiến ở Thái Bình và sau đó về Hà Nội khi cuộc chiến kết thúc. Ông Sung xem sự tồn tại của ngôi nhà thờ là một điều kì diệu, một phần do sự bảo vệ của tổ tiên, một phần do sự uy nghiêm, linh thiêng của nó.
“Có lẽ công trình xây dựng này có một tính chất đặc biệt, đó là lý do tại sao quân Pháp đã không phá hủy nó, mặc dù họ phá hủy toàn bộ các ngôi nhà quanh đấy. Có lẽ điều này là một sự may mắn quá lớn đối với chúng tôi, và có thể cũng vì người Pháp cảm nhận được vẻ đẹp kiến trúc và sự linh thiêng của ngôi nhà thờ nên họ không dám phá huỷ nó. Khi chúng tôi từ vùng kháng chiến trở về thì tất cả các phòng vẫn nguyên vẹn như trạng thái ban đầu, chỉ một vài viên đá lát nhà bị cạy mất”, ông Sung nói.
Trong suốt thời kì cải cách ruộng đất 1957-1958, gia đình ông Sung và dòng họ Nguyễn Thạc rơi vào hoàn cảnh khó khăn và mất đi một vài người chủ chốt. Bố mẹ của ông Sung do buôn bán thuận lợi nên đã trở nên phát đạt. Họ tiếp tục sống trong ngôi nhà nhưng có một thời gian họ cho một công ty dệt của những người ngoài dòng họ đến ở và sản xuất. Cho đến khi bố ông cảm thấy không chịu nổi những tiếng ồn ào của những chiếc máy dệt, ông Sung đã quyết định không cho công ty này thuê nữa.
Thời chiến, các nghi lễ tại ngôi đình được tiến hành không thường xuyên và nếu có thì chỉ ở làm rất đơn giản, do ông trưởng họ chủ trì. Trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, thỉnh thoảng thực dân Pháp cho phép bố của ông Sung về để quản lý và kiểm soát việc thờ cúng vào những ngày giỗ chính. Ông Sung ngờ rằng, Pháp ban cho bố ông đặc quyền đó là vì mẹ ông đã khéo léo mang cho lính Pháp những mặt hàng mà họ ưa thích. Sau khi Pháp rút, từ năm 1954 đến chiến tranh Đông Dương lần thứ hai xảy ra và cả sau khi hòa bình được lập lại, mọi thứ đều công hữu hóa, dòng họ không có điều kiện làm những cuộc giỗ tết chung như trước đây..


Đình làng Đình Bảng

Cuối những năm 1980, thời kì Đổi Mới bắt đầu, người ta được phép khôi phục lại các lễ hội và các phong tục cũ, đồng thời tôn tạo lại đình chùa và các ngôi nhà thờ họ. Giữa những năm 1990, không lâu sau thời điểm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt - Nhật, Nhật Bản bắt đầu cấp kinh phí cho việc bảo tồn văn hóa của Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản từ trường Đại Học Showa, Tokyo đã điều tra 676 căn nhà truyền thống ở Bắc Ninh và cho rằng căn nhà của dòng họ Nguyễn Thạc là nơi cần được khôi phục nhất. Và họ đã tiến hành khôi phục lại ngôi nhà với số tiền đầu tư lên đến một triệu đôla, do Hội hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ. Ngôi nhà của dòng họ Nguyễn Thạc được chọn không chỉ vì giá trị lịch sử và sự tinh xảo của lối kiến trúc dân tộc mà còn vì những bức vẽ tỉ mỉ của Gourou từ những năm 1930. Những người đứng đầu dòng họ Nguyễn Thạc, Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhóm nghiên cứu Nhật Bản và những người thợ thủ công lành nghề đã cùng nhau góp công sức để tôn tạo lại ngôi đền giữa năm 2001 và nó đã được UNESCO công nhận là một trong sáu ngôi nhà cổ của Việt Nam.
Song song với việc tiến hành những cải cách chính trị, kinh tế, luật pháp và ngoại giao có ảnh hưởng sâu rộng trong thời kì đổi mới, thì với nguồn động viên của chính phủ, người Việt Nam đang dần khôi phục lại các yếu tố tôn giáo truyền thống và các lễ hội làng. Và tất nhiên, các giá trị văn hóa và các phong tục này vẫn sẽ tiếp tục phát triển trên nền tảng của những thay đổi của xã hội mới.
Mọi người dân Việt Nam xem việc thờ cúng tổ tiên là một “truyền thống dân tộc”, có lịch sử lâu đời và được truyền từ đời này đến đời khác trên khắp đất nước. Tuy nhiên, trong suốt những năm trước cách mạng, việc thờ cúng tổ tiên được xem là công việc của từng cá nhân vì ba lý do chính. Thứ nhất, mọi nguồn lực phải huy động vào việc chiến đấu giành độc lập và xây dựng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không khuyến khích các lễ hội tốn kém và mang nặng tính chất tôn giáo vì đất nước còn quá nghèo ,đồng thời kẻ địch có thể lợi dụng tôn giáo để làm lung lay ý chí của người dân. Thứ hai, như đã đề cập ở trên, Đảng đã tiến hành các chính sách và các cuộc vận động nhằm bại trừ nạn “mê tín dị đoan”, xoá bỏ các hủ tục như lên đồng và hoá vàng. Thứ ba, trong thời chiến, các gia đình ở phân tán và đời sống khó khăn, khó có cơ hội tập trung cả một dòng họ rất đông người để tổ chức chung các buổi lễ tưởng nhớ tổ tiên.Hình thức phổ biến nhất của những người Việt theo tục lệ thờ cúng tổ tiên là tìm những nơi kín đáo, để bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ những người đã khuất bằng những buổi cúng lễ đơn giản nhất trong phạm vi gia đình nhỏ của mình.
Sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với cả nước, làng Đình Bảng bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào những năm 1990, khi chính phủ không còn quá khắt khe đối với các hoạt động tôn giáo thì các dòng họ trong nước bắt đầu tổ chức lại hoạt động chung của cả một đại gia đình. Nguyễn Thạc là một trong những dòng họ như vậy. Điều này chứng tỏ rằng đây là một dòng họ có sức tồn tại vững vàng qua các thập kỉ và sẽ tiếp tục trường tồn. Chính vì vậy mà nó đã lôi cuốn các nhà nghiên cứu Nhật Bản tìm kiếm và đầu tư để khôi phục. Nhờ nguồn vốn của Nhật Bản cùng với kiến thức của các nhà khoa học, những bức vẽ của người Pháp và kiến trúc của Việt Nam, hay nói đúng hơn là của dòng họ, đã được phục hồi.
Làng Đình Bảng đã chỉ ra bốn đặc điểm mà sự phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng đến tôn giáo nói chung và việc thờ cũng tổ tiên nói riêng.

Thứ nhất, quần chúng được tăng thu nhập, mức sống ngày càng cao, các chính sách văn hoá xã hội thoải mái đã tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc phục hồi các phong tục tôn giáo.
Thứ hai, như đã đề cập ở trên trong trường hợp của bà Thuý về sự chênh lệch của đời sống vật chất thời hiện tại với cuộc sống nghèo túng mà cha mẹ bà trước đây đã phải trải qua, nên trong thời kinh tế thị trường con cháu có điều kiện để tỏ lòng biết ơn tổ tiên bằng các nghi lễ truyền thống như các ngày giỗ để tưởng nhớ họ.
Thứ ba, xã hội phát triển không làm cho đời sống của người dân xao lãng chuyện thờ cúng tổ tiên, đại bộ phận có xu hướng “khuếch đại mối quan hệ họ hàng”, nối lại mối quan hệ đã một thời lỏng lẻo, bằng cách tổ chức những buổi làm giỗ, và các buổi thờ cúng tại các nhà thờ họ.
Cuối cùng, với những cách tiếp cận thông tin trong thời hiện đại và sự hòa nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế, mạng lưới tôn giáo xã hội trong thời Đổi Mới đang mở rộng thành các lĩnh vực tôn giáo trên toàn quốc, thậm chí phát triển trên toàn cầu. Một ví dụ điển hình ở đây là sự liên kết giữa hai chi khác nhau của dòng họ Nguyễn Thạc ở Bắc Ninh và Nghệ An và sự phối hợp của dòng họ với những chuyên gia nước ngoài và các tổ chức quốc tế.

Xem các phần khác:

  1. Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch - 1
  2. Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch - 2
  3. Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch - 3
  4. Tục thờ cúng Tổ tiên: Chén nước trong soi lòng trinh bạch - 5

Bài viết cùng chuyên mục

Một năm có bốn mùa. Mỗi mùa có ba tháng, gọi theo thứ tự là mạnh, trọng, quý. Tứ quý là bốn tháng cuối của bốn mùa. Tháng ba: Quý xuân. Tháng sáu: Quý ...

Tuy chỉ là một lễ hội ở quy mô nhỏ, hội rước pháo làng Đồng Kỵ (xã Đồng Quang, Từ Sơn) vẫn nổi tiếng khắp cả nước bởi duy trì được nét truyền ...

Nhà vua gương mặt uy nghiêm, mình khoác long bào, đầu đội mũ ngự ngồi trên ngai vàng, xung quanh cờ lọng rợp trời, trống chiêng rộn rã, đoàn người kéo dài ...

Lễ rước Mục Đồng - lễ hội dành cho trẻ chăn trâu - ngày xưa được tổ chức ở làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Theo cụ Ngô Tấn Nhã, ...

Hội đua voi diễn ra vào mùa xuân (khoảng tháng 3 âm lịch). Hội đua voi thường diễn ra ở Buôn Ðôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêvepốc (Ðak Lak). Bãi đua là ...

Đồng bào Dao có một số tín ngưỡng về thần linh, ma quỉ và có một số tục lệ thờ cúng truyền từ đời này qua đời khác, một trong các tục thờ cúng ấy ...

Một nét đẹp đã trở thành truyền thống trong đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên dải đất Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương và biết ơn sâu ...

Trên mỗi làng quê Việt Nam, có biết bao điều kỳ lạ và hấp dẫn quanh tục lệ đón xuân. Dù có khác nhau ở từng dân tộc, song những tục lệ đó đều toát ...

Trong kho tàng những huyền thoại Việt Nam, câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh hay chuyện tình Ngọc Hoa đã trở thành quen thuộc với nhiều người, nhiều thế hệ.

Mbăng Katê là lễ hội của người Chăm, lễ có quy mô lớn và kéo dài nhiều ngày và cũng là dịp để người Chăm tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, các vị ...