Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 8

Ngày đăng: Thứ năm 15/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

 

 

 

 

Lễ trí
Tranh dân gian Đông Hồ

Nhân nghĩa
Tranh dân gian Đông Hồ

Vinh hoa
Tranh dân gian Đông Hồ

Phú quí
Tranh dân gian Đông Hồ

Hình ảnh trong tranh chú bé ôm Rùa, ôm Cóc là những hình tượng rất đặc thù trong văn hóa Việt Nam. Có thể nói rằng: khó có thể chứng minh được những hình ảnh này đã xuất hiện đâu đó từ một nền văn hoá khác; hoặc có thể chứng minh được rằng: những hình tượng này xuất hiện từ thời Việt Nam hưng quốc. Hay nói một cách khác: nội dung và những hình tượng này đã có từ một thời rất xa xưa: Thời Hùng Vương, cội nguồn của văn hoá Việt Nam. Nội dung của những bức tranh Lạc Việt này, ngoài việc thể hiện những giá trị đạo lý và mơ ước của con người, còn thể hiện sự hoà nhập giữa con người và thiên nhiên qua hình ảnh những đứa trẻ bụ bẫm – thể hiện sự phú túc và tính thơ ngây thiên thần – với những sinh vật gần gũi trong cuộc sống. Đó là những ý niệm gần gũi dễ cảm nhận của bộ tranh. Nhưng trong nội dung sâu xa của bộ tranh này, chúng ta còn nhận thấy một tư duy tiếp nối và là hệ quả của một thuyết vũ trụ quan cổ. Đó là thuyết Âm dương Ngũ hành.
Trong đời sống con người thuộc văn hóa cổ Đông phương lưu truyền trong dân gian, khá phổ biến những hiện tượng liên quan đến con số “4”: Tứ trụ, tứ quí, tứ bình, tứ bảo, tứ bất tử..vv… Nhưng ý niệm về “tứ quí” bắt đầu từ đâu? Trong các sách cổ còn lưu truyền coi “tứ quí” là bốn tháng trong năm là: Tháng Tý (tháng một (*)) – thuộc Thủy, tháng Mão (Mẹo, tháng hai) – thuộc Mộc, tháng Ngọ (tháng năm) – Thuộc Hỏa, tháng Dậu (tháng tám) – thuộc Kim (Tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tứ Mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).
Trong quan niệm cổ Đông phương Ngũ hành được ghép với 4 mùa (**). Nhưng trong các sách cổ chữ Hán và kể cả các sách nghiên cứu mới nhất, đều không nói đến nguyên lý nào để ghép Ngũ hành với bốn mùa. Đây là một chứng lý nữa chứng tỏ sự thất truyền của thuyết Âm dương Ngũ hành. Thực ra việc Ngũ hành thể hiện qua 4 mùa là hệ quả của học thuyết Âm dương Ngũ hành – một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán tồn tại từ lâu trong văn minh cổ Đông phương. Cụ thể là văn minh Văn Lang, dưới triều đại của các vua Hùng. Để minh chứng điều này, chúng ta xem lại đồ hình Hà đồ.


Đồ hình Hà đồ
do vua Phục Hy phát hiện trên lưng Long Mã

* Chú thích: Theo cách gọi hiện đại thì tháng Tý là tháng mười một Âm lịch. Trong dân gian Việt Nam gọi tháng này là tháng một; tháng mười hai Âm lịch gọi là tháng chạp, tháng một Âm lịch gọi là tháng giêng. Sở dĩ tháng mười một Âm lịch gọi là tháng một, vì đây là tháng đầu tiên trong năm theo lịch tối cổ Đông phương và được biểu tượng cũng bằng con vật đầu tiên trong 12 con giáp là con chuột (Tý).
** Chú thích: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc ghép Ngũ hành với 4 mùa được thực hiện vào thời Hán, do phát minh của Kinh Phòng và Mạnh Hỉ. Đây là hệ quả của quan niệm cho rằng: thuyết Âm Dương Ngũ hành hòa nhập vào đời Hán. Người viết đã chứng minh đây là một quan niệm sai lầm (Xin xem: “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Nxb VHTT 2002).


Hà đồ cửu cung
(xoay
180o theo bản đồ hiện đại)

Đồ hình này được công bố vào đời Tống. Trước Tống trong các bản văn chữ Hán chỉ nhắc tới Hà đồ một cách mơ hồ và chẳng ai biết tới đồ hình này. Nhưng chính đồ hình này lại là một biểu tượng hoàn hảo việc thể hiện sự vận động của bốn mùa trên trái đất. Do đó, việc đồ hình Hà đồ xuất hiện vào thời Tống và được coi là sự tiếp tục phát triển việc thể hiện ghép Ngũ hành với bốn mùa từ thời Hán thì lại là sự vô lý. Bởi vì, trong các bản văn chữ Hán trước Tần đã nhắc đến Hà đồ và thực tế ứng dụng trong Hoàng đế nội kinh tố vấn (*) đã chứng tỏ: Hà đồ đã tồn tại từ lâu trong văn hóa cổ Đông phương. Nhưng trước Tần trong các bản văn nếu nói đến Âm Dương thì lại thiếu Ngũ Hành và thứ tự thời gian xuất hiện lại bị đảo ngược theo kiểu

“Sinh con rồi mới sinh cha
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông (*)”

* Chú thích: Xin xem “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, Nxb VHTT 2002. Tái bản có sửa chữa

Cho đến tận ngày nay, ngay trong giới học thuật cũng và bổ sung, coi Hà đồ là một đồ hình đầy bí ẩn; trong vòng 1000 năm – từ Hán đến Tống – họ cũng chưa hề nhìn thấy Hà đồ. Ngược lại, trong văn hóa dân gian Việt Nam, thì lại chứa đựng những yếu tố có khả năng hiệu chỉnh và làm thay đổi có tính rất căn để những vấn đề của thuyết Âm dương Ngũ hành còn lưu truyền trong cổ thư chữ Hán. Quan trọng hơn cả là những di sản văn hóa ít ỏi ấy lại có chức năng như cái chìa khóa mở cánh cửa huyền bí của nền văn hóa Đông phương. Trong đó, ngăn quan trọng nhất và chứa đựng sự bí ẩn lớn nhất chính là đồ hình Hà đồ. Trong bộ tranh dân dã của nền văn minh Lạc Việt trình bầy trong phần này, là sự tiếp nối và bổ sung hoàn hảo cho tranh thờ Ngũ hổ về sự vận động của bốn mùa. Sự giải mã bộ tranh này sẽ là một bằng chứng sắc sảo nữa chứng tỏ rằng: chính nền văn minh Lạc Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương.
Theo cái nhìn của người viết: Bốn bức tranh này thể hiện “Tứ quí” ngay từ cái tên gọi của nó (Phú quí, vinh hoa, nhân nghĩa, lễ trí), đồng âm với “Tứ quí” tức là 4 tháng nói trên của 4 mùa trong năm. Tất cả 4 tranh đều có hình ảnh các con vật được cường điệu lớn hơn so với tỷ lệ, và những đứa bé cho thấy một hình tượng của sự hòa nhập giữa con người với thiên nhiên. Trong các sách khác cùng tác giả, người viết đã chứng minh với bạn đọc: Đồ hình Hà đồ chính là sự phản ánh mối tương tác và vận động của vũ trụ đối với sự tồn tại và phát triển đời sống trên trái đất, trong đó có con người. Tranh “Bé ôm cóc” – ngoài hình tượng “cóc” chính là thầy của chú bé (vì chỉ có “cóc” mới có chữ để dạy cho đời) – thì “cóc” chính là tượng của quái Chấn. Trong kinh nghiệm dân gian Việt Nam đều biết rằng khi cóc nghiến răng thì trời mưa; mưa thì có sấm. Quái Chấn – trong Thuyết quái – tượng cho “sấm”; quái Chấn thuộc phương Đông. Nên bức tranh này nằm ở phía Đông của Hà đồ. Tranh “Bé ôm vịt”: Vịt là con vật ở dưới nước, nên bức tranh này nằm ở phía Bắc của Hà đồ. Phương Bắc thuộc quái Khảm – thủy. Tranh “Bé ôm gà”, gà gáy thì mặt trời mọc. Nên bức tranh này nằm ở phía Nam của Hà đồ. Phương Nam thuộc quái Ly; thuyết Quái viết: “Ly vi Nhật, vi Hỏa..”. Tranh “Bé ôm rùa” còn lại ở phương Tây của Hà đồ. Con rùa là hình tượng của văn bản, nơi qui tập tàng trữ tri thức của con người, thuộc về phương Tây, mùa thu.
Như vậy, từ bức tranh Ngũ Hổ hướng dẫn giải mã sự bí ẩn của Hà đồ, cho đến những bức tranh dân dã còn lại của nền văn minh Lạc Việt, lại là sự thể hiện tiếp tục của nền minh triết Đông phương cổ; đã cho chúng ta nhận thấy rằng: Chính nền văn minh Lạc Việt là nơi cội nguồn của nền văn minh Đông phương. Cho nên tất cả những sản phẩm văn hóa của nền văn minh Lạc Việt: từ những sản phẩm cao cấp nhất (thể hiện tín ngưỡng như tranh thờ Ngũ hổ), cho đến những bức tranh dân dã cho trẻ em Lạc Việt lưu truyền trong dân gian (bộ tranh “Tứ quí”), đều thể hiện những giá trị của nền văn minh này.
Trong tranh “Lễ trí”, qua hình tượng con rùa – phương tiện chuyển tải tri thức dưới thời Hùng Vương vào thời kỳ đầu lập quốc – chính là biểu tượng của sách học. Phải chăng, ý tưởng “Tiên học lễ” bắt đầu từ nền văn minh Lạc Việt? Trong tranh “Nhân nghĩa”, hình tượng con cóc chính là biểu tượng của người thày của chú bé (“Thầy đồ Cóc”, vì chỉ có Cóc mới có chữ Khoa đẩu – nòng nọc – để dạy cho đời).Nhân nghĩa chính là hai đức tính đầu tiên trong đạo lý cổ Đông phương. Phải chăng những ý niệm về “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn” của Nho giáo, chính là những ý tưởng đã có từ lâu trong thời Hùng Vương? Bởi vì hình tượng con Cóc và con Rùa bắt đầu và thuộc về nền văn minh Văn Lang.

*
*        *

Ngoài bộ “Tứ quí” trình bày ở phần này, Tranh dân gian Đông hồ còn có những bức tranh có hình tượng mang nội dung tương tự như những bức tranh người viết sưu tầm được và trình bày dưới đây:

 


Đặc điểm của những bức tranh trên là: chúng không có tựa đề như bộ “Tứ quí”, nhưng phong cách thể hiện rất giống tranh “Tứ quí”. Bởi vậy, người viết cho rằng cả hai bức tranh trên là những phần còn lại của một bộ tranh khác, nhưng đã mất đi hai tranh. Người viết cho rằng hai bức tranh bị mất có thể vẽ em bé ôm cua và em bé ôm ốc.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Lời nói đầu
  2. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần dẫn nhập
  3. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I
  4. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 1
  5. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 2
  6. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 3
  7. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 4
  8. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 5
  9. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 6
  10. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 7
  11. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần II
  12. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần II - 1
  13. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần II - 2
  14. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần II - 3
  15. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần II - 4
  16. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần III
  17. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần III - 1
  18. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần III - 2
  19. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần III - 3
  20. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần IV
  21. Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần kết luận

Bài viết cùng chuyên mục

Chọi trâu: Nội dung trực tiếp của bức tranh này thể hiện một tục lệ thường thấy trong lễ hội ở một số địa phương của Việt Nam. Giữa tranh là một ...

Tam dương khai thái: Đây là một trong những bức tranh đẹp vì tính cân đối với đường nét sinh động và màu sắc hài hòa. Hình tượng trong tranh này vừa có ...

Tranh Trê và Cóc: Bức tranh Tranh Trê và Cóc này thực chất là sự minh họa cho câu truyện truyền miệng trong dân gian: “Truyện Trê và Cóc”. Do đó, người viết ...

Nguyễn Vũ Tuấn AnhTrung tâm nghiên cứu Lý học Đông PhươngNhà xuất bản văn hóa thông tinThầy đồ CócĐây là một bức tranh khá phổ biến thuộc dòng tranh dân ...

Tranh Đàn Lợn và Nguyên lý “Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi”Một trong những bức tranh dân gian phổ biến và nổi tiếng của làng Đông Hồ là tranh ...

Hà Đồ Lạc thư và tranh thờ Ngũ Hổ: Bức tranh dân gian được trình bày ở trang bên chắc không xa lạ với các bậc huynh trưởng. Đó là bức tranh thể hiện ...

Phần I - Thuyết âm dương ngũ hành và tranh dân gian Việt Nam. Lưỡng nghi sinh tứ trượng: Bức tranh này tự nó đã khẳng định nội dung triết học về sự khởi ...

Phần dẫn nhập: Người viết đã hân hạnh trình bầy với bạn đọc ba cuốn sách (Nxb VHTT tái bản 2002, có sửa chữa và bổ sung) là:”Thời Hùng Vương qua ...

Lời nói đầu: Nền văn minh của nước Việt Nam hiện nay là sự kế tục một truyền thống văn hiến trải gần năm ngàn năm lịch sử. Đây là niềm tự hào ...

Trong khoa học, những thông tin làm thay đổi những “hiểu biết đã được nhiều người công nhận” không phải không có tiền lệ. Chính những hiểu biết mới ...