Tị húy trong sinh hoạt của người Việt Nam - 1

Ngày đăng: Thứ năm 30/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

I. Khái niệm:
Phàm khi muốn tìm hiểu về tiếng nói, phong tục và tập quán, nguồn tài liệu chính của tôi là lịch sử bởi lẽ một bên là cái bóng và bên kia là cái hình; hai cái không thể tách rời ra được. Các sự kiện lịch sử giúp giải thích được rất nhiều nghi vấn, đặc biệt về tục tị húy cùng các ảnh hưởng của nó trong ngôn ngữ, địa danh và nhân danh.
Trong quá trình Trung và Nam tiến, khởi sự từ thời vua Lê Đại Hành (năm 980, chiếm tỉnh Quảng Bình) kéo dài mãi cho đến năm 1847 là năm vua Thiệu Trị phong vương cho Nặc Ông Đôn làm Cao Miên quốc vương, người Việt Nam đã hoàn toàn xâm chiếm và tiêu diệt các nước Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp (tức miền Trung và Nam Việt Nam ngày nay). Nhưng sau đó, miền Nam bị Pháp chiếm làm thuộc địa (régime colonial), còn miền Bắc là xứ bảo hộ (forme protectorale, cai trị bởi chức quan Kinh Lược, Pháp dịch là Vice-roi) và miền Trung được "tự trị" bởi triều đình nhà Nguyễn trong khoảng 100 năm. Thực ra, ba xứ Bắc, Trung, Nam là ba trong năm xứ thuộc Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Trải qua các biến cố lịch sử vừa nói, nhiều dấu vết đã lưu lại trong đời sống người Việt Nam, đặc biệt khi xét đến các khác biệt về tiếng nói và phong tục của người miền Bắc và miền Nam.
Có lẽ vì ở giáp ranh giới phía Nam Trung quốc nên người miền Bắc Việt Nam dùng khá nhiều tiếng Hán, càng đi vào phía Nam thì ảnh hưởng của tiếng Hán càng phai mờ dần. Thử lấy một tiếng thông thường trong đời sống làm thí dụ. Tiếng miền Bắc gọi tên người anh hay chị lớn nhất trong gia đình là "anh Cả, chị Cả", tiếng miền Nam gọi là "anh Hai, chị Hai". Tại sao có sự khác nhau này?
Cả là tiếng Việt thuần túy, có nghĩa là to lớn (cả cười, cả gan, ao sâu nước cả, ông cả, cả vú lấp miệng em), bao gồm hết (cả thảy, vơ đũa cả nắm, cả đời lận đận). Người miền Bắc gọi người con lớn nhất là anh hoặc chị Cả, người kế tiếp gọi theo thứ tự số đếm là anh hoặc chị Hai, Ba, v.v... Đối chiếu với cách gọi của người Trung quốc thì thấy cách gọi của người miền Bắc giống y như vậy. Trung quốc có hai tiếng chung để gọi. Nếu là anh trai, em trai thì gọi là ca ca , đệ đệ còn chị gái, em gái thì gọi là tỷ tỷ , muội muội . Người anh hay chị lớn nhất thì họ gọi là đại ca, đại tỷ (dàige, dàijie). (Trong giới giang hồ, tiếng lóng đại ca, đại tỷ dùng để gọi kẻ cầm đầu một nhóm ăn cướp, ăn trộm, bất lương nào đó.). Người miền Nam không dùng tiếng Cả mà lại bắt đầu bằng thứ tự Hai, Ba, Tư, v.v...
Theo thiển kiến, tôi nghĩ cách gọi anh hoặc chị Hai của người miền Nam so với anh hoặc chị Cả của miền Bắc là do vấn đề tị húy.
Ở Việt Nam, làng xã là một đơn vị rất quan trọng. Ý thức quốc gia không mạnh bằng làng xã: phép vua thua lệ làng. Khi bị Pháp chiếm làm thuộc địa, cơ quan cai trị ở mỗi xã miền Nam được gọi là Hội Đồng Tề, trong đó người đứng đầu được gọi là Hương Cả. Nếu gọi người con lớn nhất là Cả, thí dụ: "Thằng Cả đâu, vô đây biểu" thì vô tình đã gọi trùng với tên Hương Cả. Điều này có thể bị suy diễn là hỗn láo, mỉa mai và bị kết tội phạm húy. Vì vậy, người miền Nam tránh tiếng Cả mà gọi người con lớn nhất là anh Hai hoặc chị Hai.
Tiếng Hán Việt kỵ , tị có nghĩa là sợ hãi mà tránh đi, kiêng tránh (thành ngữ: kiêng rượu, kiêng thịt, kiêng kỵ, có kiêng có lành). Người ta lo sợ tai họa có thể xảy ra nếu không biết kiêng kỵ hoặc vì tai họa nên phải bỏ chạy tìm chỗ tị nạn. Cụ Ngô Đức Thọ viết:
"Húy theo Thuyết Văn (1) có nghĩa là khuyên răn (húy, kỵ dã). Theo từ điển cổ Quảng Vận (2), húy nghĩa là tránh (húy, tị dã), theo Ngọc Thiên, húy nghĩa là giấu, tránh (húy, ẩn dã, kỵ dã).
Từ hai nghĩa nói trên, húy còn có nghĩa mở rộng là tên của người đã quá cố. Nhập môn nhi vấn húy (vào nhà phải hỏi tiếng cần tránh của chủ nhà - Lễ Ký, Đàn Cung). Trịnh Huyền chú thích: "Húy là tên của gia tiên chủ nhà". Sở dĩ như vậy là vì theo tục lệ từ đời Chu bên Trung quốc, tuy mỗi người đều có tên riêng (danh ), nhưng trong giao tiếp người ta thường xưng hô bằng họ (tính ) còn tên chỉ dùng khi cần kê khai sổ sách giấy tờ v.v... để tiện phân biệt. Sau khi chết, đến lễ tốt khốc (3) thì người nhà viết chữ tên riêng ấy vào bài vị để thờ, và cũng từ lúc ấy tránh không nói đến tên người quá cố vì thế gọi là tên húy.
Nghĩa thường dùng của húy là như vậy nên các từ điển đời sau như Khang Hi, Từ Hải đều ghi thẳng nghĩa: húy là tên người đã chết (Khang Hi (4): sinh viết danh, tử viết húy / tên người khi còn sống gọi là danh, sau khi chết gọi là húy. Từ Hải: Tử giả chi danh viết húy / tên người đã chết gọi là húy." (5)
Tên thụy và tên tự cũng được kiêng nhưng ở mức độ nhẹ nhàng hơn bằng cách viết bớt nét hoặc gia dạng thêm bằng các dấu gãy <<<< trên mặt chữ. Tên thụy, còn gọi là tên hèm, tức là tên đặt cho người sắp chết, căn cứ vào đức hạnh và tính tình của họ khi còn sống. Vì vậy, khi cúng giỗ, người ta phải khấn bằng tên húy hoặc tên thụy để người được khấn biết mà trở về chứng giám lễ giỗ và phù hộ cho con cháụ Còn tên tự, theo kinh Lễ, là tên đặt cho con trai khi tới tuổi trưởng thành (20 tuổi), làm lẽ đội mũ (Cổ giả nam tử nhị thập nhi quán vị chi thành niên) hoặc cho con gái khi đã nhận lời gả chồng và lúc đó mới được cài trâm. (Nguyên tự có nghĩa gốc là việc sinh sản con cái, gọi văn tự để ngụ ý văn sinh sôi nảy nở ra như người ta sinh con vậy! ).
Trên thế giới, tục tị húy là một tục chỉ có ở Trung quốc từ thời xa xưa và tồn tại mãi đến nay. Do hoàn cảnh lịch sử và địa lý, tục này đã truyền qua Việt Nam từ đời nhà Trần và đặc biệt rõ nét nhất là vào các đời vua triều Nguyễn, ảnh hưởng sâu rộng trong sinh hoạt của người Việt Nam qua thi cử, nhân danh và địa danh.
II. Ảnh hưởng của tục tị húy qua thi cử:
Tục tị húy là tục được tuyệt đối tôn trọng. Nếu trong phạm vi gia đình, dòng họ thì chỉ có gia đình, dòng họ đó kiêng cữ (gia húy, tộc húy) nhưng nếu vua đã ban lệnh những chữ nào phải kiêng húy thì cả nước phải tuân theo. Nhân danh và địa danh nào mà trùng với chữ húy thì khi gọi phải đổi âm và khi viết phải đổi hình dạng chữ. Chữ đây là chữ Hán bởi vì Việt Nam dùng chữ Hán trong văn tự từ lúc có nước cho đến khoảng năm 1900 mới bỏ chế độ thi cử chữ Hán.
Một thí dụ quy định về âm còn được ghi lại như sau:
"Mùa xuân năm Quang Thiệu thứ 2 (1517) đời vua Lê Chiêu Tông: sai Lễ bộ thượng thư Đàm Thận Huy hiệu định miếu húy và ngự danh (miếu húy 20 chữ, ngự danh là hai chữ Y và Huệ) Phàm khi viết chữ hay khắc in sách đều không cấm, nhưng tiếng đọc thì phải tránh, hai chữ liền nhau như Trưng Tại đều không được viết" (7)
("Phàm lâm văn tả dụng, san thư tịch, giai bất chi cấm, thanh độc giai ưng hồi tị, liên tự như Trưng Tại chi loại bất đắc tả dụng").
Thí dụ về cách viết kiêng chữ húy:
- Không tự: tức là bỏ trống ô chữ,
- Cải dụng: tức là dùng chữ khác để thế,
- Viết biến dạng: tức là đảo bộ, thêm nét, bớt nét, dùng chữ dị thể.
Lều chõng trong giờ thi
Quy định về tị húy vào đời nhà Trần thường là viết bỏ bớt nét hoặc thêm vòng tròn nhỏ kế bên chữ.
Quy định về tị húy vào đời đời nhà Lê thường là viết thêm trên chữ húy 4 hay 3 nét gãy (<<<< hay <<<), hoặc bỏ trống, không viết chữ húy hoặc đổi chữ. Riêng đời vua Lê Thánh Tông đã 4 lần ban lệnh kỵ húy (vào các năm 1460, 1461, 1462 và 1466.) (8).
Tị húy có tính chất "luật pháp" phải được tuân thủ nghiêm chỉnh trong giới sĩ phu Việt Nam. Bất cần thông minh, tài cao học rộng đến đâu nhưng nộp quyển có chữ phạm húy thì không cách nào đỗ đạt, mà không đỗ đạt thì không sao tiến thân được! Thi nhân Trần Tế Xương đã chua chát than rằng:
Rõ thực nôm hay mà chữ dốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui.
(Thi Hỏng, Trần Tế Xương)
Trong cuốn Lều Chõng, cụ Ngô Tất Tố đặc biệt mô tả rất chi tiết tất cả các điều tị húy và khéo léo lồng vào khung cảnh của các thí sinh đi thi. Đại khái các điều kiêng kỵ đó như sau:
- Tất cả chữ húy đều bị cấm đọc, cấm viết, phải coi như chữ bỏ đi. Trọng húy chính là tên vua. Khinh húy là tên những bà mẹ vua hay tiên tổ lâu đời của vua.
- Trường hợp trọng húy thì thường phải tách chữ ra. Thí dụ: đọc thấy bên trái viết chữ nhật và bên phải viết chữ ương thì biết đó là chữ ánh (vì kiêng húy nên phải viết tách ra như vậy). Hoặc đọc thấy bên trái viết chữ hòa và bên phải viết chữ trọng thì biết đó là chữ chủng.
- Trường hợp khinh húy (húy nhẹ) thì phải kính khuyết nhất bút, nghĩa là cung kính mà viết sót một nét của chữ húy; nếu viết đủ nét tức là phạm húy.
- Khiếm tị tức là sơ ý viết hai chữ húy kế bên nhau. Thí dụ: lăng vua Gia Long là Thiên Thụ thì khi làm văn không được viết liền hai chữ này, hoàng cung có điện Cần Chánh thì cũng phải kiêng, không được viết liền.
- Khiếm trang tức là thiếu sự kính trọng, dùng các chữ có nghĩa không hay, như bạo (tợn), hôn (tối), cách (đấm), sát (giết) và nhất là không được viết trên các chữ hoàng, đế, quân, vương, chủ.
- Cổ húy tức là phạm tên húy đời cổ. Thí dụ: làm bài chiếu đời vua Thái Tôn nhà Đường thì phải kiêng chữ uyên, dân.
- Trường hợp có sự chấm điểm bất đồng giữa các Chủ khảo, Phân khảo thì phải lập tức làm Sớ đàn hặc đưa về triều đình.

Xem tiếp:

Bài viết cùng chuyên mục

Ném còn là nét đẹp văn hoá thể hiện bản sắc dân tộc của cư dân miền núi phía Bắc. Mùa xuân về, cứ đến ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm là ...

Hội vật Liễu Đôi ( 28/10/2008)

Hội vật Liễu Đôi được tổ chức ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Ở các lễ hội khác, vật võ chỉ là trò vui thể thao thì trong lễ ...

Người Chăm theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng, để đến được với nhau, đôi trai gái phải qua quá trình tìm hiểu hoặc có người làm mối. Khi hai bên ...

Yên Lạc, một làng nhỏ ven sông Tích Giang,  con sông ngoằn ngoèo  chạy dọc xứ Đoài. Cả thôn có 6, 7  xóm với những dòng họ Đỗ, Kiều Cả, Kiều Hai, ...

Theo các bậc cao niên thuộc vùng trung du tỉnh Nghệ An, hội vật cù ở đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15.

Khua luống bắt nguồn từ lao động. Trong quá trình giã gạo, để đỡ nhàm chán, mệt nhọc, thi thoảng người ta khua thêm một vài nhịp vào thành luống (cối ...

Lễ hội Phủ Giầy là lễ hội tôn vinh Thái Mẫu Liễu Hạnh - một bậc "Thiên hạ mẫu nghi", vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị Thánh trong ...

Ở nước ta, dân tộc Pà Thẻn có khoảng 6 nghìn người, sống chủ yếu ở 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Văn hóa vật chất, tinh thần của người Pà Thẻn ...

Rượu cần luôn hiện hữu trong đời sống sinh hoạt của các dân tộc thiểu số trên dải Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung, miền núi Phú Yên nói riêng. Rượu ...

Hội Lim ( 08/10/2008)

Vùng đất Kinh Bắc không chỉ là đất võ mà còn là đất văn, nơi đây đã sản sinh cho đời rất nhiều thuần phong mỹ tục. Hệ thống hội hè, đình đám và ca ...