Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN - 2

Ngày đăng: Thứ hai 29/09/2008 12:00:00 (GMT +7)

IV. Phương pháp nghiên cứu

Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phương pháp y khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới đâ. Tôi đã được giáo sư Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường Giang tới vịnh Thái Lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc, phía Ðông tới biển Nam hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa Nam, và Ðông Dương.

1. Dùng biện chứng y khoa vào khảo cổ.

Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y khoa là:

"Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do"

Biện chứng này đã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi đã trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân đều theo đó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những đền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua. Tôi lại suy nghĩ khác:

"Không có nguyên do, sao có chứng trạng?"

Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú. Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim quy do vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày nay. Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên đồng của nỏ nàỵ(4)

Trước tôi đã có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ đá, thì 29/38 cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam Á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các học giả Việt Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời đại Đồ sắt (1000 năm trước Tây lịch đến 300 sau Tây lịch), thì 22/27 thuộc chủng loại Mongoide. Với 32 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoide.

Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ số xương sọ để kết luận. Nhưng y học đã tiến bộ, căn cứ vào chỉ số xương sọ để định nguồn gốc đã bị đánh đổ. Nguyên do: Khi con người di cư đến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay đổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận: lãnh thổ Văn lang, tới hồ Ðộng đình. (5)

2. Những vấn đề.

Ranh giới phía Nam của nước Văn Lang tới nước Hồ Tôn đã quá rõ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba Thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc qua tới hồ Động Đình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba Thục và phía Đông phải giáp Đông Hải. Có thực như thế không?

Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc. Dưới đây là huyền thoại, huyền sử mà tôi đã bấu víu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra:

Vấn đề thứ nhất, Cổ sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng Đình. Có thực như vậy không? Truyền thuyết nói Ðế Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên hạ làm hai. Từ Ngũ Lĩnh về Bắc cho Ðế Nghi, sau thành Trung Quốc. Từ Ngũ Lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh Đương sau thành Văn Lang. Núi Ngũ Lĩnh, hồ Ðộng Đình nay vẫn còn. Nhưng liệu có di tích gì chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ Lĩnh, hồ Ðộng Đình.

Vấn đề thứ nhì, Truyền thuyết nói: Sau khi vua Kinh Đương, vua Lạc Long kết hôn, đều lên núi Tam sơn trên hồ Ðộng Đình hưởng thanh phúc ba năm. Lúc ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải đi tìm núi Tam sơn ở hồ Ðộng Đình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm nghìn năm trước chăng?

Vấn đề thứ ba, Truyền sử nói: Sau khi Quốc tổ Lạc Long, Quốc mẫu Âu Cơ cho các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng: Mỗi năm về Tương đài chầu Quốc tổ, Quốc mẫu một lần. Cổ sử nói: Quốc tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương. Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Văn lang tới hồ Ðộng đình. Tôi phải đi tìm.

Vấn đề thứ tư, Chứng tích thứ nhất xác định: Bộ Sử ký của Tư mã, Nam Việt liệt truyện có thuật việc: vua nước Nam Việt là Triệu Ðà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt Hán là Nam quận, Trường sa (Mậu Ngọ 183 trước Tây lịch). Như vậy biên giới Nam Việt (Tức Việt Nam) với Hán (Tức Trung Quốc) ở vùng này. Ngày nay Trường Sa là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường giang.

Vấn đề thứ năm, Huyền sử nói rằng: trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng: Khi Trưng Nhị, Trần Năng, Phật Nguyệt, Lại Thế Cường, Trần Thiếu Lan đem quân đánh Trường sa (39 sauTây lịch), thì nữ tướng Trần Thiếu Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm Giang (sự thật đó là Tương Giang thông với hồ Ðộng Đình).

Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh Nam và Hán (42 sau Tây lịch). Tướng Lĩnh Nam tổng trấn hồ Ðộng đình là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lưu Long (40 sau Tây lịch). Có thực thế không? Có hai trận Trường sa, hồ Ðộng đình không? Nếu có thì ranh giới thời Lĩnh Nam (40 43 sau Tây lịch) quả tới hồ Ðộng đình.

Vấn đề thứ sáu, Năm 42, sau Tây lịch, ba tướng thống lĩnh Kỵ binh thời vua Trưng là Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống, Đào Tam Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ lăng thuộc Tượng quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ lăng ở đâu? Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh giới Lĩnh Nam phía Tây quả tới Ba thục (Tứ xuyên.)

Nhưng các sử gia gần đây (1900 1975) đều đặt nghi vấn rằng: Làm gì biên giới thời Văn Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những người dốt nát (1975 1991), không đủ sách đọc, không theo kịp sự tiến triển của y học, họ chỉ đọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt quá, nên không trả lời, cũng như giải thích. Tôi căn cứ vào những chứng trạng trên mà đi tìm nguồn gốc.

V. Ði tìm biên giới nước Văn Lang

1. Núi Ngũ lĩnh

Cuối năm Canh Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc Kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc Kinh đi Trường Sa. Trường Sa là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam. Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Động Đình, núi Tam sơn, núi Ngũ Lĩnh, sông Tương, Thiên đài, Tương đài, cánh đồng Tương đều nằm ở tỉnh nàỵ Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y khoa chỉ xin được giúp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du lịch, ty văn hóa địa phương, họ đều tưởng tôi tới Trường sa để nghiên cứu sự cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đâỵ Thành ra tôi bị mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề nàỵ Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường sa tân điếm nằm trên đại lộ Nhân dân.

Tôi mua cuốn địa phương chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty văn hóa, sở bảo vệ cổ tích, đại học văn khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên văn khoa cũng ít ai ghé mắt tới. Đầu tiên tôi đi tìm núi Ngũ lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dãy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung Quốc.

Một là Ðại đữu lĩnh. Hai là Quế đương, Kỳ điền lĩnh. Ba là Cửu chân, Ðô lung lĩnh. Bốn là Lâm gia, Minh chữ lĩnh. Năm là Thủy an, Việt thành lĩnh.

Về vị trí: Ngọn Thủy an, Việt thành chạy từ tỉnh Phúc kiến, đến huyện Tuần Mai tỉnh Quảng Đông. Ngọn Ðại đữu chạy từ huyện Ðại đữu (Nam An), tỉnh Giang Tây đến huyện Nam Hùng tỉnh Quảng Đông. Ngọn Cửu chân, Ðô lung chạy từ Ðạo huyện tỉnh Hồ Nam tới Gia  huyện tỉnh Quảng Tây. Ngọn Lâm Gia, Minh Chữ chạy từ Lâm huyện tỉnh Hồ Nam đến Liên huyện tỉnh Quảng Ðông. Ngọn Quế đương từ Toàn huyện tỉnh Hồ Nam tới huyện Quế lâm tỉnh Quảng Tây. Lập tức tôi thuê xe đi một vòng thăm các núi này. Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số.

Như vậy là Ngũ lĩnh có thật, nay có núi đã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao khi vua Minh phân chia từ Ngũ lĩnh về Nam thuộc Lộc Tục mà lĩnh địa Việt tới hồ Động Đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này:

Một là vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia địa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa đông, mà sông Trường giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc Ngạn mà thôi. Còn vua Kinh Đương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng đình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia.

Hai là dân chúng Nam ngạn Trường giang với vùng Nam Ngũ lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng đình mới thuộc lãnh địa Việt.

Kết luận: "Quả có núi Ngũ lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung Quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lãnh thổ Văn Lang và Trung Quốc khi xưa" Ánh sáng đã soi vào nghi vấn huyền thoại.

2. Thiên đài nơi tế cáo của vua Minh

Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế đương, phân chia lãnh thổ Lĩnh Bắc tức Trung Quốc, Lĩnh Nam tức Đại Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên đài. Nhưng dãy núi Quế đương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên đài là ngọn nào? Trên bản đồ không ghi. Sau tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên đài nằm gần bên bờ Tương giang. Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài Gòn. Nhưng trong dân chúng, họ vẫn nhớ tên cũ.

Tôi đi thăm Thiên đài.

Thiên đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những câu đối, chữ còn, chữ mất.

Tại thư viện Hồ Nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi:

Thiên đài di sự lục Trinh quán tiến sĩ Chu Minh Văn soạn. Trinh quán là niên hiệu của vua Đường Thái Tông, từ năm Đinh Hợi (627) đến Đinh Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến sĩ năm nào?

Tuy sách do Chu Minh Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Văn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh Văn, của một sư ni tên Đàm Chi, không rõ chép vào bao giờ.

Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang Hy (1662 1772). Chu Minh Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loại văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ thư, Ngũ kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên đài núi cũng mang tên Thiên đài sơn, Minh Văn còn kể thêm:

"Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh Đương. Đến thời Đông Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển Hiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa Khi rút tới Quế đương ông cùng nghìn quân lên Thiên đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm đươc núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh Nam mới cho xây chùa tại đây."

Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn tướng Ðào Hiển Hiệu là em con chú của Bắc Bình Vương Ðào Kỳ. Ngài Ðào Kỳ lĩnh chức Ðại Tư mã thời vua Trưng. Còn tướng Ðào Hiển Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổ nha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường Sa, hồ Ðộng Đình, đã sai Hiển Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên Đài, đợi quân Lĩnh Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thời Quốc tổ, Quốc mẫu, đã không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây.

Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối:

Thoát thân Nam thành xưng sư tổ, Thọ pháp Tây thiên diễn Phật  kinh.

Hai câu này ngụ ý ca tụng Thái tử Tất Ðạt Ða đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây thiên, đi giảng kinh.

Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận, Phật công hiển hách quốc thái an dân.

Hai câu này là ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.

Nơi có dấu vết Thiên đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:

Thiên đài đại đại phân Nam, Bắc. Lĩnh địa niên niên dữ Việt thường.

Nghĩa là: Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở đây, đài thành Thiên đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ lĩnh năm này qua năm khác với giòng giống Việt thường. Chỗ miếu thờ của Ðào Hiển Hiệu có đôi câu đối:

Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ đế, Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long.

Nghĩa là: Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Ðộng đình làm kinh tâm vua Quang Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ tướng Phật Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Ðộng đình. Một nghìn tay đao do Hiển Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ lĩnh trấn Lưu Long.

Kết luận:

"Như vậy việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật. Vì có Thiên đài nên thời Lĩnh Nam mới có trận hồ Động đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn Lang xưa qua tới Ngũ lĩnh, hồ Động đình."

3. Cánh đồng Tương

Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương: Một là Quốc tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc mẫu dẫn năm mươi con lên núi, mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần. Hai là Quốc tổ, Quốc mẫu truyền các hoàng tử đi khắp bốn phương quy dân lập ấp, mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.

Tôi đoán: Cả hai vị Quốc tổ Kinh Đương, Lạc Long sau khi kết hôn đều đem Quốc mẫu lên núi Tam sơn trên hồ Ðộng đình hưởng thanh phúc ba năm. Vậy thì cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên hồ Ðộng đình. Phía Nam hồ Ðộng đình là sông Tương giang, chảy theo hướng Nam Bắc dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ đôi tỉnh Hồ nam với Quảng Tây. Vậy cánh đồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương giang.

Tôi thuê thuyền đi từ cảng Dương lâm nơi xuất phát ra Tương giang là hồ Động đình, xuống Nam, qua Tương âm, tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm chùa Bạch mã. Đây là địa phận quận Ích đương. Vô tình tôi tìm ra một nhánh sông Âu giang và một cái hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4, 5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ còn 2, 3 mẫu mà thôi. Suốt lộ trình từ hồ Động đình trở xuống, trên cửa sông Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơi. Đặc biệt trên Âu giang, Âu hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu giang, tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường sa thủ phủ của Hồ nam rồi tới các quận ly. Tương đàm, Chu châu, Hành đương, Quế đương. Không khó nhọc tôi tìm ra:

"Cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động đình, Nguyên giang. Phía Nam là Linh lăng, Hành giang. Phía Tây là vùng Chiêu đương, Lãnh thủy. Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương giang, Nguyên giang, Liên thủy, Thạch khê thủy"

Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên đài, cùng những đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:

"Quốc tổ Lạc Long kết hôn với công chúa con Đế Lai, hẳn công chúa cũng có tên. Nhưng vì lâu ngày người ta không nhớ được tên ngài, nên đã lấy con chim Âu, rất hiền hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động đình, Tương giang mà gọi là Âu Cơ (Cơ là vợ vua). Vì người ta gọi Quốc mẫu là Âu Cơ, thì họ nghĩ ngay đến Quốc mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thì phải đẻ ra trứng. Còn con số một trăm, là con số triết học Việt Hoa dùng để chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa là tất cả dân ttrong nước đều là con Quốc mẫu"

Kết luận: "Đã có cánh đồng Tương, thì chuyện Quốc tổ, Quốc mẫu hẹn mỗi năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ lĩnh, có Thiên đài. Nay chứng cớ được kiểm điểm, thì lãnh địa của tộc Việt xưa quả tới hồ Động đình".

4. Hồ Ðộng đình và Tam sơn

Hồ Động đình nằm ở phía Nam sông Trường giang. Hồ được coi như nơi phát tích ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường giang được gọi là tỉnh Hồ bắc, tức đất Kinh châu thuở xưa. Địa khu phía Nam sông Trường giang được gọi là tỉnh Hồ nam. Hồ Động đình nằm trong tỉnh Hồ nam. Hồ thông với sông Trường giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như nơi chứa nước sông Trường giang, rồi đổ vào Tương giang. Trên Bắc ngạn hồ có núi Tam sơn. Tôi đã lên đây ba lần.

Tương truyền các nữ tướng thời vua Trưng như Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu Lan đánh chiếm Trường sa vào ngày đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rõ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong bộ Cẩm khê đi hận (6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về mùa nước lớn là 39,20 mét. Tra trong chính sử thì quả hồ Động đình thuộc lãnh địa Văn Lang. Như trên đã nói, triều đại Thần Nông Bắc đến đời vua Du Võng thì mất vào năm 2696 trước Tây lịch, chuyển sang thời đại Hoàng Đế. Sử gia Trung Quốc cho rằng Hoàng Đế là tổ lập quốc.

Nói theo triết học Tây phương thì vua Du Võng gốc từ Thần Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng đồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm đế. Còn vua Hoàng đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống. Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nghiệp giàu nhưng không giỏi võ bị nên bị thua. Bộ Sử ký của Tư mã Thiên, quyển 1, Ngũ đế bản kỷ chép rằng:

"...Thời vua Hoàng đế, họ Thần Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Triều Thần Nông không đủ khả năng chinh phục. Vua Hiên Viên Hoàng Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung ác. Vì vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu thì Suy Vưu mạnh nhất.

Vua Du Võng triều Thần Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng Đế. Vua Hoàng Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mã, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với vua Du Võng ở Bản tuyền, thành công.

Suy Vưu làm loạn, không tuân đế hiệu. Hoàng Đế triệu tập chư hầu cùng Suy Vưu đại chiến ở Trác Lộc, bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn ngài làm Thiên tử thay họ Thần Nông. Trong thiên hạ nơi nào không thuận vua Hoàng Đế đem quân chinh phục.

Lãnh thổ của Hoàng Đế, Đông tới biển, vùng núi Hoàn sơn, Đại tông. Phía Tây tới núi Không động, Kê đầụ Nam tới Giang, Hùng, Tương... "(7)

Sông Giang đây tức là sông Trường giang, Hùng đây tức là Hùng Nhĩ Sơn, Tương là Tương sơn. Bùi Nhân đời Tống lập giải Sử ký nói rằng Tương sơn thuộc Trường Sa.

Kết luận: "Từ chính sử, huyền sử đều cho biết lĩnh địa Văn Lang tới hồ Động đình. Khi vua Hoàng Đế dứt triều Thần Nông Bắc, thì triều Thần Nông Nam tức họ Hồng bàng còn kéo dài đến 2439 năm nữa. Lãnh thổ Trung Quốc thời Hoàng Đế cũng chỉ tới sông Trường Giang. Phía Nam bao gồm Trường Sa, hồ Động đình vẫn thuộc Văn Lang."

Khi chính sử ghi chép như vậy thì việc Quốc tổ, Quốc mẫu với hồ Ðộng đình, núi Tam sơn không còn là huyền thoại nữa. Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử.

5. Biên giới lĩnh địa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch

Sử Hán là bộ Sử ký của Tư Mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhì trước Tây lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh địa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Trường sa, hồ Ðộng đình.

Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Ðà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh Nam. Tần Thủy  Hoàng sai Ðồ Thư mang quân sang đánh Âu Lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba quận:

Nam hải (Quảng đông và một phần Phúc kiến), Quế lâm (Quảng tây, Hồ nam và một phần Quí châu), Tượng quận (Vân nam và một phần Quý châu).

Vua An Đương sai Trung tín hầu Vũ Bảo Trung và Cao cảnh hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Ðồ Thư và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An Đương cũng không chiếm lại vùng đất đã mất.

Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam hải, đem quân chiếm vùng Tượng quận, Quế lâm, rồi dùng gián điệp trong vụ án Mỵ Châu, Trọng Thủy mà chiếm được Âu lạc lập ra nước Nam Việt. Lãnh thổ nước Nam Việt bao gồm những vùng nào? Không một sử gia nào chép rõ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa Nam Việt là lãnh địa thời Văn Lang.

Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lưu Bang lên ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đúng ra Triệu Đà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhưng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Đà đều ở vùng Chân định. Đà sợ nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước. Năm 183 trước Tây lịch, Cao tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã hậu chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường Sa, Nam quận.

Kết luận: "Trường sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ Nam Việt, Bắc tới Trường Sa Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường giang. Mà Nam quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam Việt ít nhất tới Nam ngạn sông Trường giang"

6. Lĩnh địa thời vua Trưng

6.1. Vua Bà theo cách gọi của Trung Quốc là vua Trưng

Trong những năm 1978 - 1979 khi dẫn phái đoàn Ủy ban y học Pháp Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên... tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung Quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ nam, nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ, tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:

"Ngày xưa, Ngọc hoàng Thượng đế ngự trên điện Linh tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc hoàng Thượng đế nổi giận đầy hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì Tiên lại giữ sổ tiên giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa. Ngọc hoàng Thượng đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi. Ngọc hoàng Thượng đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theo.

Thanh y đồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông Hán.

Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi Sách.

Thi Sách làm phản, bị Thái thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung Quốc ở phía Nam sông Trường giang: Cửu chân, Nhật nam, Giao chỉ, Quế lâm, Tượng quận, Nam hải. Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà.

Quang Vũ nhà Hán sai Phục ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện. Long nhương tướng quân Thận hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga mi, một tay nhổ núi Thái sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường giang, hồ Ðộng đình, oán khí bốc lên tới trời.

Ngọc hoàng Thượng đế sai thiên binh, thiên tướng trợ chiến cũng bị bại. Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim cương, ba ngàn La hán trợ chiến cũng bị bại. Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật Nguyệt với Quan Âm đấu phép ba ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu. Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tích trù Ðộng đình uy trấn Hán, Phương lưu thanh sử lực phù Trưng

(Một trận Ðộng đình uy trấn Hán Tên còn trong sử sức phù Trưng).

Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ vương Phật Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung Quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lạị Vua Bà mà người Trung Hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.

Kết luận: "Khi đã có nữ tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường sa, hồ Động đình. Mà có trận hồ Động đình thì lãnh thổ thời Lĩnh Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường giang."

6.2. Quả có trận Trường sa, hồ Ðộng đình năm 39 sau Tây lịch Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng: Khi bà Trưng Nhị cùng các tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu Lan, Lại Thế Cường đánh Trường sa vào đầu năm Kỷ Hợi (39 sau Tây lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng Trần Thiếu Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm giang (8). Thẩm giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểụ Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do sở du lịch Trường sa cấp, một đoạn chép:

"Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá".

Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.(9)

Kết luận: "Thời Lĩnh Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần Thiếu Lan, Lại Thế Cường đánh trận Trường sạ Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu Lan tuẫn quốc. Khi có trận đánh này, thì lãnh địa thời Lĩnh Nam quả gồm có hồ Trường sa, hồ Động đình."

6.3. Quả có trận Bồ lăng, năm 42 sau Tây lịch

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu Hiển, Đô Thống và Tam Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng quận (Vân nam). Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huỵ Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

Tượng quận dương uy nhiêu tướng lược, Bồ lăng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghĩa là: Trận Tượng quận dương oai, rõ tài tướng giỏị Bến Bồ lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.

 

Các phần khác:

  1. Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN
  2. Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN - 1

Bài viết cùng chuyên mục

Quốc Mẫu Âu Cơ (Khoảng 2800 Tr.TL): Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ dòng dõi tiên. kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được ...

Truyện Họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái, thế kỷ XV) có chi tiết đáng chú ý: Lạc Long Quân dạy dân vùng cao xăm mình để tránh bị giao long làm hại. Con rồng ...

I. Trở về: Nếu như mỗi người trong mọi người chúng ta đều tự thấy con đường của chính mình cùng với lịch sử dân tộc đã, đang và sẽ trải qua (trôi ...

Khu di tích đền Hùng gồm bốn đền, một chùa và một lăng Tổ được xây dựng trên núi Hùng.

Nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương bao gồm ca hát và nhảy múa, là thành phần quan trọng trong nền văn hóa Văn Lang mà dấu tích còn ghi lại trên những ...

Những nhận thức mới nhất về niên đại thời Hùng Vương: Tại Hội nghị Hùng Vương 3, chúng ta càng nhận thức được rõ sự cần thiết phải luôn luôn bám ...

Chứng minh thời Hùng Vương là có thật:Lòng nhân dân ta trước sau tưởng nhớ tổ tiên: đó là một điều khẳng định. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin hiểu rằng ...

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng :Vua Hùng đã già bèn nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các Lang) ...

Dịch học họ Hùng ( 11/08/2008)

Dịch học hình tượng.Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính:Hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ...

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm ...