Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN - 1

Ngày đăng: Thứ hai 29/09/2008 12:00:00 (GMT +7)

Chế độ phong kiến của nước tôi đã chấm dứt từ năm 1945, hiện (1991) vị Hoàng đế cuối cùng của Ðại Nam là Bảo Ðạị Ngài vẫn còn sống ở quận 16 Paris.

Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại trường tiểu học do chính phủ Pháp mở tại Việt Nam. Thời gian 1943 1944 rất ít gia đình Việt Nam còn cho con học chữ Nho. Bởi đạo Nho cũng như nền cổ học không còn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính trị nữa. Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi, đánh đáọ Nhưng vì muốn làm vui lòng ông tôi mà tôi học. Hơn nữa học chữ Nho, tôi có một kho tàng văn hóa vĩ đại để đọc, để thỏa mãn trí thức của tuổi thơ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Các bạn hiện diện nơi đây không ít thì nhiều cũng đã học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khó như thế nào. Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng đã thuộc làu bộ Tam tự kinh, sáu tháng để thuộc bộ Ấu học ngũ ngôn thi. Năm bẩy tuổi tôi được học sử, và năm chín tuổi bị nhét vào đầu bộ Ðại học.

Chương trình giáo dục cổ bắt học sinh học hai loại sử. Bắc sử tức sử Trung Quốc. Nam sử tức sử của Việt Nam. Tôi được học Nam sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai tâm bằng chữ Quốc ngữ vào năm bảy tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu có những bộ sử viết bằng chữ Quốc ngữ, rất giản lược, để dạy học sinh; không bằng một phần trăm những gì tôi học ở nhà. Thầy giáo ở trường Pháp biết tôi là cái kho vô tận về sử Hoa Việt, nên thường bảo tôi kể cho các bạn đồng lớp về anh hùng nước tôi. Chính vì vậy tôi phải lần mò đọc những bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như:

Ðại Việt sử ký toàn thư (ÐVSKTT), An Nam chí lược (ANCL), Ðại Việt thông sử (ÐVTS), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (KÐVSTGCM),

Ðại Nam nhất thống chí (ÐNNTC). Ðại cương mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc Việt Nam sau:

Vua Minh cháu bốn đời vua Thần Nông, nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng:

"Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ lĩnh làm cương giớị Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hoà mà ở với nhaụ Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn".

Xét triều đại Thần Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây thì chia làm hai:

1. Thần Nông Bắc.

Vua Nghi (2889 2884 trước Tây lịch) Vua Lai (2843 2794 trước Tây lịch) Vua Ly (2795 2751 trưước Tây lịch) Vua Du Võng (2752 2696 trước Tây lịch).

Ðến đây triều đại Thần Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng đế từ năm giáp Tý (2697 trước Tây lịch). Các nhà chép sử Trung Quốc lấy thời đại Hoàng đế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ đế bản kỷ, coi Hoàng đế là Quốc tổ Trung Quốc, không chép về thời đại Thần Nông.

2. Triều đại Thần Nông Nam.

Thái tử Lộc Tục lên làm vua năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổị Sau người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm, vì vậy người Việt tự hào rằng đã có năm nghìn năm văn hiến. (1)

[Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý của dân tộc  Trung hoa, và dân tộc Việt Nam trong khoảng thời gian 4870 năm từ năm 2879 trước Tây lịch cho đến năm nay 1991. Còn như đi xa hơn về những thời tiền cổ, thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, quá phức tạp, quá dài, tôi không luận đến ở đâỵ]

Xét về cương giới cổ sử chép:

"Thái tử Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương (2), đặt tên nước là Xích quỷ, đóng đô ở Phong Châu nay thuộc Sơn Tâỵ Vua Kinh Dương lấy con gái vua Động đình là Long nữ đẻ ra Thái tử Sùng Lãm. Thái tử Sùng Lãm lại kết hôn với công chúa Âu Cơ con vua Đế Lai (3). Khi vua Kinh Đương băng hà thái tử Sùng Lãm lên nối ngôi vua, tức vua Lạc Long, đổi tên nước là Văn Lang. Nước Văn Lang Bắc tới hồ Động đình, Nam giáp nước Hồ tôn, tây giáp Ba thục, đông giáp biển Đông hải)

Cổ sử đến đây, không có gì nghi ngờ, nhưng tiếp theo lại chép:

"Vua Lạc Long lấy công chúa Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Ngài truyền cho các hoàng tử đi bốn phương lập ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nối.

Hoàng tử thứ nhất tới thứ mười lập ra vùng hồ Ðộng đình. (Nay là Hồ Nam, Quý Châu, Trung Quốc.) Hoàng tử thứ mười một tới thứ hai mươi lập ra vùng Tượng quận. (Nay là Vân Nam và một phần Quảng Tây, Tứ Xuyên thuộc Trung Quốc) Hoàng tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi lập ra vùng Chiêm thành. (Nay thuộc Việt Nam, từ Thanh Hóa đến Ðồng Nai) Hoàng tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi lập ra vùng Lão Quạ (Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái Lan.) Hoàng tử thứ năm mươi mốt tới sáu mươi lập ra vùng Nam Hải (Nay là Quảng Đông, và một phần Phúc Kiến, Trung Quốc.) Hoàng tử thứ sáu mươi mốt tới bảy mươi lập ra vùng Quế Lâm. (Nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc.) Hoàng tử thứ bảy mươi mốt tới tám mươi lập ra vùng Nhật Nam. (Nay thuộc Việt Nam từ Nghệ An tới Quảng Bình.) Hoàng tử thứ tám mươi mốt tới chín mươi lập ra vùng Cửu Chân. (Nay thuộc Việt Nam từ Ninh Bình tới Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.) Hoàng tử thứ chín mươi mốt tới một trăm lập ra vùng Giao Chỉ. (Nay là Bắc Việt Nam và một phần tỉnh Quảng Tây, Vân Nam thuộc Trung Quốc.) Ngài hẹn rằng: Mỗi năm các hoàng tử phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết, để chầu hầu phụ mẫu".

Một huyền sử khác lại thuật:

Vua Lạc Long nói với Âu Cơ rằng: "Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem năm mươi con xuống nước, nàng đem năm mươi con lên rừng. Mỗi năm gặp nhau tại cánh đồng Tương một lần"

Các sử gia người Việt lấy năm vua Kinh Đương lên làm vua là năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch), nhưng không tôn vua Kinh Đương với Công chúa con vua Ðộng đình làm Quốc tổ, Quốc mẫu, mà lại tôn vua Lạc Long làm Quốc tổ và Công chúa Âu Cơ làm Quốc mẫu Cho đến nay Quý vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại rằng tổ là ai, họ đều tự hào:

"Chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên. Quốc tổ tên Lạc Long, Quốc mẫu tên Âu Cơ"

Chủ đạo của tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin nàỵ

3. Triều đình, dân tộc.

Tôi đã trình bày với Quý vị về hai triều đại đầu tiên cai trị vùng Á Châu Thái Bình Dương: Phía Bắc sông Trường Giang sau thành Trung Quốc. Phía Nam sông Trường Giang tới vịnh Thái Lan, sau thành Ðại Việt.

Hai triều đại Thần Nông Nam Bắc cai trị dân chúng: Không có nghĩa là dân chúng cùng một chủng tộc; Không có nghĩa là tộc Hoa, tộc Việt là một; Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng tộc Hoa, tộc Việt đều là huyết tộc của vua Thần Nông. Trung Quốc, Ðại Việt là anh em về phương diện chính trị. Giòng Thần Nông cai trị vùng đất Trung Quốc, Ðại Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em. Dân chúng hai nước bao gồm nhiều tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien, Indonésien, Australoid, và cả Négro Australoid...v.v.

Người Hoa, người Việt nhân triều đại Nam Bắc Thần Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ mà thôi. Chứ hai vùng hồi đó có hàng nghìn, hàng vạn bộ tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau.

Sau này các văn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng Hà, lưu vực sông Hán, nhân có chữ viết, lại không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sách, tự cho mình là con trời, tự trời mà xuống; sau đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên hạ), người sau lấy làm chủ đạo của họ. Tôi sẽ bàn đến ở dưới.

Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quý vị nhìn rõ hơn. Ông Washington là vị Tổng thống đầu tiên lập ra nước Hoa Kỳ, chứ ông không phải là tổ của các sắc dân đến từ châu Phi, châu Âu, cũng như dân bản xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dương không phải là tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về chính trị mà thôị

II. Chủ đạo Trung Quốc, Việt Nam

Như Quý vị đã thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu hiệụ Người Pháp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật tượng trưg là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư tử. Người Hoa Kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung Hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âu. Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc Long là loài rồng, công chúa Âu Cơ là loài chim.

Người Do Thái họ tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chúa chọn. Vì vậy, sau hai nghìn năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóạ Khi tái lập quốc, với dân số bằng một phần trăm khối Ả Rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc tấn công để tồn tạị Ðó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa chọn.

Tôi xin nói rõ về chủ đạo của Trung Quốc và Việt Nam. Như Quý vị đều biết, hiện Trung Quốc, Việt Nam đều là những nước theo chủ nghĩa Cộng sản, đặt căn bản trên thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels. (Lược một đoạn/ Thiên Sứ)

Con rồng Trung Quốc mà Hoàng đế Napoléon bảo rằng hãy để nguyên cho nó ngủ. Bằng như nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giớị Thưa Quý vị, con rồng Trung Quốc đã thức dậy rồi, nhưng nó chưa làm rung động thế giới!

1. Chủ đạo của Trung Quốc.

Người Hoa thì tin rằng mình là con trờị Cho nên trong các sách cổ của họ, vua được gọi là Thiên tử, còn các quan thì luôn là người nhà trời xuống thế phò tá cho vuạ Chính niềm tin đó cùng với văn minh Hoa hạ, văn minh Nho giáo đã kết thành chủ đạo của họ. Cho nên người Hoa dù ở đâu, họ cũng có một tổ chức xã hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hãnh con trời cho dù họ lưu vong đến nghìn năm họ cũng không bị đồng hóa, không quên nguồn gốc.

Cũng chính vì vậy, mà từ một tộc Hoa nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng hà, họ đánh chiếm, đồng hóa hàng nghìn nước xung quanh, và nước của họ rộng lớn như ngày nay. Hầu hết những nước khác đến cai trị họ, đều bị họ đồng hóạ Mông Cổ, Mãn Thanh bị đồng hóa, bị mất hầu hết lãnh thổ. Nhưng chủ đạo và sức mạnh của người Trung Quốc phải ngừng lại ở biên giới Hoa Việt. Chủ đạo của Trung Quốc bắt nguồn từ thời nào từ sách nào do ai khởi xướng?

Ðầu tiên là Kinh thư, không rõ tác giả là ai, xuất hiện trước Khổng Tử, thiên Vũ cống gọi thế giới chúng ta ở là Thiên hạ (Dưới trời). Thời cổ, các văn nhân Trung Quốc không đi xa hơn vùng sông Hán, sông Hoàng Hà, họ tưởng đâu thế giới chỉ có Trung Quốc, nên gọi Trung Quốc là Thiên hạ. Thiên hạ là Trung Quốc, tức là nước ở giữạ Bốn phía Trung Quốc là biển, nên gọi Trung Quốc là hải nội, các nước khác là hải ngoại.

Kinh thư thiên Vũ cống chia Thiên hạ thành 9 châu: Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung. Lại dùng khoảng cách, chia làm năm cõi, gọi là Ngũ phục, mỗi cõi cách nhau năm trăm dặm (250 km). Ngũ phục là Ðiện phục, Hầu phục, Tuy phục, Yêu phục, Hoang phục.

Trung ương là kinh đô của nhà vua Ðiện phục ở ngoài kinh đô năm trăm dặm.

Hầu phục ở ngoài cõi Ðiện phục năm trăm dặm: trong năm trăm dặm cõi Hầu thì khoảng cách một trăm dặm để phong thái ấp cho các quan khanh, đại phụ Hai trăm dặm nữa phong cho các tước Nam. Hai trăm dặm nữa phong cho các chư Hầu.

Kế tiếp Hầu phục là Tuy phục. Trong năm trăm dặm cõi Tuy thì ba trăm dặm là nơi truyền bá văn chương, giáo hóa quần chúng; còn hai trăm dặm để hưng thịnh võ bị, bảo vệ quốc giạ Sau cõi Tuy là cõi Yêu. Trong ba trăm dặm cõi Yêu là nơi cho rợ phương Ðông ở. Hai trăm dặm còn lại là nơi để đầy tội nhân.

Cõi cuối cùng là cõi hoang, năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần dành cho mọi phương Nam ở, hai trăm dặm cuối cùng để đầy người có tội nặng. Ra khỏi cõi Hoang là... biển.

Với lối phân chia lẫm cẩm, hài hước ấy, năm nghìn năm qua, dân Trung Quốc coi là Kinh, tức những gì không thể thay đổi, rồi trở thành chủ đạo của tộc Hoạ Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả truyện, Tả Khâu Minh cũng viết:

Trời làm chủ Thiên hạ, Vua nối trời mà cai trị. Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên tử. Ðến Mạnh tử, thiên Ly lâu viết: Thiên hạ là quốc gia, Gốc của thiên hạ là quốc, Gốc ở quốc là gia

Vì ảnh hưởng của sách cổ nên người Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng "Nội Hoa hạ, ngoại Di, Ðịch". Nghĩa là trong Ngũ phục thì là chốn văn minh, còn ngoài ra thì là mọi rợ. Kinh lễ, thiên Vương chế nói:

Ðông phương viết Di, Tây phương viết Nhung, Nam phương viết Man, Bắc phương viết Ðịch. Nghĩa là: Người ở Ðông phương gọi là Di, Tây phương là Nhung, Nam phương là Man, Bắc phương là Ðịch.

Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ để chỉ mọi rợ. Bốn chữ đó khi viết thì có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển ở cạnh. Có nghĩa các sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo!

Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi thế kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch quỷ! (Thính giả cười ồ lên!). Họ còn phân ra người Âu là Tây đương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ lan tây Quỷ. Người Anh là Hồng mao Quỷ. Người Nga là La sát Quỷ.

Từ nguồn gốc kinh điển cổ, người Hoa tự cho mình là con trời (Thiên tử), cho nên hầu hết các tiểu thuyết của họ thì vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh y đồng tử trên thượng giới giáng sinh. Các quan võ thì luôn là Vũ khúc tinh quân, các quan văn là Văn khúc tinh quân. Quần thần thì là Nhị thập bát tú giáng hạ. Với chủ đạo này, họ đã đánh chiếm mấy trăm nước tạo thành một Trung Quốc vĩ đạị

2.  Chủ đạo của Việt Nam.

Như trên đã trình bày, với nguồn gốc lập quốc, người Việt có niềm tin mình là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch lại thêm vào tinh thần của vua AnĐương. Sang đầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng, trong đó có hơn trăm là nữ.

Cuộc khởi nghĩa đuổi ngoại xâm Trung Hoa, lập lên triều đại Lĩnh Nam. Phụ nữ đó là vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời đại đều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc.

Tộc Việt đã chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghìn năm của người Họa Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa đến đâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau để bảo vệ quốc gia. Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ đạo tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân.

Gần đây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945 1975). Nhưng nay, Việt Nam đang trên đà phục hưng chủ đạ. Ý tôi muốn nói sự cố gắng phi thường của hơn hai triệu người Việt ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, đã là bó đuốc sáng chuyển chủ đạo trở về nước mình.

Trong thời gian 1954 1975, miền Bắc theo chế độ Cộng sản, theo chủ thuyết Quốc tế. Nhưng họ biết khai thác cái chủ đạo của Việt Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng.

Cũng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963 1975, không biết khai thác lòng yêu nước của dân tộc, lại chấp nhận cho quân đội Hoa Kỳ và đồng minh nhảy vào vòng chiến, việc này có khác gì quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc? Tôi nghĩ những người lãnh đạo miền Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gì về kho tàng lòng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói đến chữ chủ đạo tộc Việt bao giờ.

Trước họ, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm (1954 1963), vì biết rõ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa kỳ, Ngài đã trở thành kẻ thù của Hoa kỳ, bị Hoa kỳ giết hết sức thảm khốc.

III. Đi tìm lại nguồn gốc dân Việt

Năm trước đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, bao gồm:

Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người U Việt hay Ngô Việt sang Âu Lạc.

Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân Việt sang Âu Lạc.

Thuyết của học giả Ðào Duy Anh, Hồ Hữu Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam.

Tất cả các thuyết này đều căn cứ vào những thư tịch cổ Trung Quốc, Việt Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả.

Cuối cùng các giáo sư đồng nghiệp đã nhận định rằng: Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không còn những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận:

"Thoạt kỳ thủy, trên vùng đất thuộc lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam hiện tại: Giống người đã từ Châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam Á, đến Đông Nam Á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung Quốc. Cuối cùng cả hai giống người hòa lẫn với nhau trên lãnh thổ Trung Quốc.

Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường Giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ xuyên, Nam tới vịnh Thái Lan. Người Việt từ Ngô Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân Việt đi xuống Giao chỉ.

Người Việt di cư từ nam sông Trường giang tránh lạnh xuống Bắc Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954; chứ không phải họ là người Trung Quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt"

Chính vì lý do dùng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa nàỵ Sau đây tôi trình bầy sơ lược về công trình nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận thực nghiệm, cùng lý luận y khoa, nó hơi khác với những gì mà các bạn đã học.


Mời xem các phần khác:

  1. Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN
  2. Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN - 2

Bài viết cùng chuyên mục

Quốc Mẫu Âu Cơ (Khoảng 2800 Tr.TL): Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ dòng dõi tiên. kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được ...

Truyện Họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái, thế kỷ XV) có chi tiết đáng chú ý: Lạc Long Quân dạy dân vùng cao xăm mình để tránh bị giao long làm hại. Con rồng ...

I. Trở về: Nếu như mỗi người trong mọi người chúng ta đều tự thấy con đường của chính mình cùng với lịch sử dân tộc đã, đang và sẽ trải qua (trôi ...

Khu di tích đền Hùng gồm bốn đền, một chùa và một lăng Tổ được xây dựng trên núi Hùng.

Nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương bao gồm ca hát và nhảy múa, là thành phần quan trọng trong nền văn hóa Văn Lang mà dấu tích còn ghi lại trên những ...

Những nhận thức mới nhất về niên đại thời Hùng Vương: Tại Hội nghị Hùng Vương 3, chúng ta càng nhận thức được rõ sự cần thiết phải luôn luôn bám ...

Chứng minh thời Hùng Vương là có thật:Lòng nhân dân ta trước sau tưởng nhớ tổ tiên: đó là một điều khẳng định. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin hiểu rằng ...

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng :Vua Hùng đã già bèn nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các Lang) ...

Dịch học họ Hùng ( 11/08/2008)

Dịch học hình tượng.Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính:Hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ...

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm ...