Thời Xôi Thịt

Ngày đăng: Thứ năm 22/12/2011 12:00:00 (GMT +7)

Thời xôi thịt” gần như đã trở thành một khái niệm trong tiếng Việt, để chỉ cái thời người ta ham chụp giựt để “ăn” được chứ không nghĩ sâu xa về yếu tố văn hóa trong hành vi, mặc dù quảng cáo thì lại rầm rộ về “văn hóa ẩm thực”. Đạo Phật dạy rằng khi ăn phải từ từ, nhai kỹ miếng ăn cả trăm lần cho nhuyễn thành nước rồi mới nuốt, im lặng ngẫm nghĩ món ăn đó từ đâu mà ra, ơn ai làm ra. Đó thật ra cũng là một cách ẩm thực có văn hóa, bởi vậy mà cơ thể hấp thụ tốt, dù đó có thể là ăn chay chỉ gồm “ngọc thực”(cơm gạo) và rau. Các món ăn của Việt Nam quả thực cực kỳ phong phú nội dung văn hóa, bởi mỗi món đều cố gắng “gói ghém” vào trong nó toàn bộ đạo lý Âm Dương Ngũ Hành của người Việt, lành, và đủ dinh dưỡng. Điển hình nhất là cái bánh chưng, như THIÊN SỨ đã phân tích trong “Bánh Chưng Bánh Dầy”, nó là sự tổng hòa tinh khí của đất trời vào trong dinh dưỡng của một cái bánh lá, là một món ăn chậm (chứ không phải “fast foot”) lại dễ mang đi đường mà không có vỏ thải gây ô nhiễm môi trường như bao nilon hay vỏ chai pet. Các loại bánh lá “nhà quê” đều có sự “gói ghém” nội dung văn hóa như vậy cả, như ngày xưa người Việt “gói ghém” mỗi thông điệp vào từng Vuông Chữ gọi là Văn Tự (mà nếu không tháo rời ra để suy luận từng bộ phận của con chữ vuông đó thì không biết nó chính là của Việt, lại ngộ nhận là Hán Tự - Mời tham khảo lý giải của Đỗ Thành blog Nhạn Nam Phi). Ngày nay vẫn sử dụng các loại bánh lá đó trong du lịch ẩm thực, tiếc rằng chưa thấy loại bánh lá nào mới được sáng tạo ra.
Tôi thấy món ẩm thực “Trà sữa trân châu” của Đài Loan là một sáng tạo dựa trên đạo lý của cái bánh chưng, và nó có cái mở như cửa mở của hình bộ thủ Cung, đó là ở chỗ hạt trân châu, tùy theo sáng tạo của người đầu bếp. Có hàng trăm loại hạt trân châu, tùy theo các thứ nguyên liệu (tinh khí của đất trời) mà người đầu bếp chọn để vo viên chúng lại thành viên trân châu nhỏ xíu bỏ vô ly trà sữa, đem lại những ly trà với vị và ngon khác nhau. Cái Viên (trân châu) ấy cũng như là cái Vuông (bánh chưng) đều cùng một gốc Vo mà Nở tách đôi ra thành Vuông và Viên mà thôi, đều là “nén” nội dung, “gói ghém” mọi cái tốt đẹp vào trong nó thành một sự gắn kết như tình nghĩa vợ chồng. Nên tôi mới thầm tặng cho những đôi tình nhân lãng mạn uống trà sữa trân châu câu:

Đài các thanh cao trà hương nồng hậu
Loan phụng duyên tình bách tuế trân châu

臺閣清高茶香濃厚
鸞鳳緣情百歲珍珠

(Trà thơm lịch sự thanh cao. Thắm duyên chồng vợ khác nào trân châu).

Bởi người sáng tạo ra món ẩm thực đó đã biết vận dụng cội nguồn văn hóa Việt:

Sơn hải phú nguồn mẫn dung chi thắng
Huy hoàng nhân hiệt thanh vị tắc linh

山海富源敏容之勝
輝煌仁黠清味則靈

(Non sông nguyên liệu dồi dào. Nhậy nhanh, rộng lượng, nơi nào cũng sang.
Nhân từ, trí tuệ là vàng. Vị ngon thanh khiết thế gian vui lòng)

[Chú thích: Gọi là “ly” bởi biết chắc nó làm bằng thủy tinh, để còn thấy rõ những viên trân châu trong ly trà, ly=lê, là làm bằng pha lê, không như từ điển giải thích “ly” là “cốc” tiếng miền Nam, ly đâu có đồng nghĩa hoàn toàn với cốc, cốc thì có thể làm bằng thủy tinh, nhôm, sành, sứ, thậm chí bằng cái ống nứa còn mắt, nó là một từ chung, do không hiểu từ “ly” nên để nói “ly” người Bắc phải nói “cốc thủy tinh”, quá rắc rối vì đó không phải là một từ mà là một cụm từ. Cũng như từ “quốc” làm sao lại giải thích như từ điển tiếng Việt là quốc=nước được. Nước là Land như Scotland, Thailand. Còn “quốc” là “của nước” (do QT lướt, của nước=quốc, của nác=quấc, như cụ Hồ ký tên là Nguyễn Ái Quấc). “Lắm Nác” Việt= “Lạc” Việt= “Trăm Nước” Việt= “Bách” Việt. Của nước=Quốc là chỉ cái chính phủ, đại diện cho Nước, Hán ngữ có từ Quốc Gia nghĩa là cái “nhà của nước” tức cái Phủ, chính phủ là cái nhà cơ quan đại diện cho Nước. Còn từ Tổ Quốc lại chính là một từ Việt hoàn toàn theo ngữ pháp Việt, Tổ Quốc là Tổ Của Nước, vì Của Nước=Quốc. Về sau bị Hán hóa ngữ pháp thì người ta mới gọi cái ông Tổ của Nước ấy là Quốc Tổ. Thời Hứa Thận viết Thuyết Văn, viết “trung Quốc 中國” phải hiểu theo ngữ pháp Việt là “trong Của Nước”, chứ thời đó chưa có nước gọi là Trung Quốc như bây giờ. (Một chữ Trung 中 đó thôi nhưng người ta có thể đọc là Trong=Trung=Trũng=Trụng=Nhúng, tùy theo từng ngữ cảnh mà nó được dùng, đều một nghĩa là ở bên trong hay đưa vào trong. Cũng giống như một chữ Hành 行 người ta có thể đọc là Hành=Hạnh=Hàng=Hãng=Hạng, tùy theo ngữ cảnh nó dùng). Bởi thời đó các tên địa danh đều theo ngữ pháp Việt hết, như Sơn Đông 山 東= Núi Đông, Sơn Tây 山 西= Núi Tây, Hà Nam 河 南 = Sông Nam, Thượng Hải上 海 = Trên Biển (chẳng lẽ Thượng Hải thời đó phải hiểu theo ngữ pháp Hán là Biển Trên tức biển trên trời, ai làm đô thị ở biển được, chỉ có ở trên biển tức trên bờ biển mới làm đô thị được mà thôi – Mời tham khảo của Đỗ Thành). Thời lương y Lê Hữu Trác, cụ đặt bí danh là Hải Thượng Lãn Ông là theo ngữ pháp Hán, vì đó là thời nhà Thanh, văn bản viết theo Hán hóa ngữ pháp hoàn toàn rồi, theo ngữ pháp Việt thì phải viết là Ông Lãn Thượng Hải tức vẫn có thể đọc là Ông Lười Trên Biển. Nói “Các Nước họp nhau tại hội nghị quốc tế” liệu có chính xác không? Hay phải nói là “Các Quốc Gia họp nhau tại hội nghị quốc tế”. tức các “nhà của Nước”, là các chính phủ đại diện cho Nước mới đi họp nhau được, chứ Nước thì làm sao mà đi họp được. Một thời do kỳ thị từ “quốc gia” nên người ta đổi “ngân hàng quốc gia Việt Nam” (có in trên tờ giấy bạc Cụ Hồ năm 1946) thành “ngân hàng nhà nước Việt Nam”, bây giờ viện ngôn ngữ lại đặt cho tên “đại học quốc gia Hà Nội” mà không dám đổi lại là “đại học nhà nước Hà Nội”.

Ở câu đầu của phần giải thích này có từ ghép Biết Chắc, đó là một từ đôi, do ghép hai từ đồng nghĩa nhau là Biết và Chắc để nhấn mạnh ý. “Chắc” tiếng Tày đang dùng nghĩa là “biết”, đó là một từ Việt cổ, một từ dùng để khẳng định, tức con số 1 (number one), ngôn ngữ nào cũng dùng con số 1 để chỉ sự khẳng định và con số 0 để chỉ sự phủ định, mà khẳng định tức là Biết (hay Có !) và phủ định tức là Không Biết (hay Không !). Hệ đếm thập phân của tiếng Việt là từ Chắc đến Chín rồi Chục tức từ 1 đến 9 rồi 10 (nấu đến chín, tức nóng tới 90 độ là ăn được rồi, nên mới có cồn 90 độ để nướng khô mực, và Luộc Chín = Luật Chính, theo tư duy đi từ cụ thể đến trừu tượng hóa, quá trình luộc nhau gay go trong hội nghị để cho đến thật chín rồi mới thành luật chính được chứ không phải đơn giản mà có ngay được luật chính. Luộc=Luận (là các tham luận) cũng là từ cụ thể đến trừu tượng hóa mà thôi. Vậy từ 0 tiến lên có 1 tức là có tư duy, tức là Biết, và sự tiến bộ bắt đầu từ con số 1. Chắc=Bắc=Biết=Việt=Vượt. Bắc mạ là đã biết cách, biết phương tiện, quải hạt thóc mầm xuống bùn cho nó Chắc ở đó như một sự khẳng định sự bắt đầu phát dục của cây lúa. Bắc là đã biết phương tiện để vượt, nên tiếng Nam chỗ biết để mà vượt sông gọi là “Bắc”, dù phương tiện là đò hay phà hay cầu (ngày nay cầu bắc Mỹ Thuận đã thay cho phà bắc Mỹ Thuận trước đây). Để có thêm tri thức thì “Bắc thang lên mà hỏi ông trời”. Chắc=Bắc=Biết=Việt, nên chữ Việt dù có viết bằng ký tự gì như 粵,hay 越,hay Việt, thì cái âm đọc của nó 5000 năm nay vẫn thế, là “việt”, có nghĩa là con số 1 (nó ngược với con số Vô là 0, từ đối Vô/Việt như là cặp số đối 0/1 của toán học nhị phân), con số 1 tức Số Dách= Số Nhất như tiếng Sài Gòn, là “ Number One”. Cho nên biểu thị sự thán phục, khen ngợi, chỉ cần giơ hai ngón tay hình chữ V và phát âm một tiếng “Việt !” là trọn mọi ý nghĩa, để chào nhau, hứa hẹn nhau, cũng được, mà không cần phải bắt chước phương Tây giơ một ngón cái và nói “Number One !”.
Do số 1= Chắc, là sự khẳng định, nên nó đã sinh ra các từ để khẳng định mà ta thấy rõ: Chắc=Chắt=Chứ=Chi之=Đi=Đó=Có=Cứ=Cơ=Đỡ=Đã=Được=
=Đấy=Đắc 得 =Đích 的 (Hán ngữ hiện đại dùng chữ Chi 之 phát âm là “trư”, dùng chữ Cơ 的 của tiếng Quảng Đông, lại phát âm là “tơ” để biểu thị khẳng định. Nhật ngữ dùng chữ Đấy phát âm là “Đês”, và cũng đặt ở cuối câu để chỉ sự khẳng định)]

Bài viết cùng chuyên mục

Có lẽ đối với các thế hệ ngày nay, hình ảnh những người bà, người mẹ và cả những cô thiếu nữ với hàm răng óng ả hạt huyền chỉ còn là một hình ...

Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc, Hà Nội là nơi chắt lọc những tinh hoa, nét đẹp của mọi miền để tạo nên nét đẹp cho riêng mình. Nét ...

Trên khái niệm văn hoá là thói ăn, nết ở, thuần phong mỹ tục được hình thành và phát triển định hình nên tư duy và hành động của một cộng đồng dân ...

Qua các làng quê vùng sông nước Nam bộ, ở đâu cũng thấy xuồng ba lá trên dọc ngang kênh rạch. Từ nhiều đời nay, phươg tiện chủ yếu để đi lại, làm ...

Con so là con sinh đầu lòng, con rạ là những đứa con sinh sau. Phong tục này phổ biến ở Bình Trị Thiên và một số địa phương ngoài Bắc, còn ở Nghệ An, Hà ...

Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu thì cô dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, khấu đầu làm lễ, tự khấn niệm xin tổ tiên chấp nhận kể ...

Trong lễ cưới có nhiều lễ vật, nhưng không thể thiếu bánh "Su sê", nguyên xưa là bánh "Phu thê", một số địa phương nói chệch thành bánh "Su sê". 

Tết Nguyên đán ( 05/07/2010)

Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; ...

Theo xưa thì có 6 lễ, phân ra như sau: Vấn danh (hay là cầu thân), Sơ vấn (hay là lễ sỉ lời), Ðại đăng khoa (lễ đám hỏi), Sỉ lời (tức là lễ hỏi thăm nhà ...

Theo chữ nghĩa, sách vở thì trai gái lấy nhau, gọi là giá thú (giá là lấy vợ, thú là lấy chồng) nhưng nhân gian ta vẫn gọi nôm là đám cưới, hoặc gọn hơn ...