Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1

Ngày đăng: Thứ sáu 06/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Lý Ngư vọng Nguyệt
Tranh dân gian Hàng Trống
Phải chăng đây là một bức tranh mang màu sắc Đạo giáo của Chử Đồng Tử, miêu tả những ảo vọng của cuộc đời qua bòng trăng soi đáy nước?

Qua cuộc đời của ông cho thấy ít nhất căn bản quan niệm nhân sinh quan của Chử Đồng Tử là: của cải thế nhân và sự thăng trầm của cuộc đời chỉ là phù du. Trong truyền thuyết Đầm Nhất Dạ nói tới sự kiện Chử Đồng Tử, Tiên Dung đắc đạo và tạo dựng một vương quốc hư ảo cho mình bằng quyền năng của thần thánh. Đây là hình ảnh của một thế giới tâm linh tạo nên tín ngưỡng của người dân Lạc Việt thời Hùng.
Hình ảnh cuối cùng của truyền thuyết này là lâu đài, cung điện nguy nga biến mất chỉ trong một đêm, để lại cho thế nhân một đầm nước long lanh, phản chiếu những hình ảnh hư ảo của cuộc đời qua hàng thiên niên kỷ.
Như những chương trên đã trình bày: thuyết Âm Dương Ngũ hành là hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống của thời Hùng Vương, giải thích từ bản nguyên vũ trụ là Thái Cực đến sự vận động của nó là Âm Dương Ngũ hành. Tính bao trùm về mọi mặt và sự ứng dụng rộng rãi trên thực tế đã chứng tỏ sự thuyết phục của học thuyết này. Do đó, không thể có cơ sở từ ngay trong tâm lý để phát sinh và tồn tại một hệ tư tưởng tôn giáo vượt ra ngoài giá trị của nó. Nhưng về nhân sinh quan, xuất phát từ những giá trị đạo lý đề cao tình người và tính nhân bản, cộng với tri thức sâu sắc trong thiên văn qua sự vận động của những tinh tú ảnh hưởng đến chu kỳ sinh học của con người – tức là sự chi phối của sức mạnh thiên nhiên. Đồng thời nền văn minh đó cũng thừa nhận khả năng của con người trong sự tương tác giữa con người với thiên nhiên (Sự tích Dưa Hấu). Do đó, tín ngưỡng mà ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung tạo dựng, chỉ có thể hướng con người vươn tới sự hòa nhập với thiên nhiên hoặc đạt tới những quyền năng của thiên nhiên trong sự vận động của Âm Dương Ngũ hành. Trên thực tế, truyền thuyết về các thánh thần ở Việt Nam cho thấy: mỗi thần đều có chức năng riêng trong việc chi phối vận động của tự nhiên. Như: Thiên Lôi làm sấm sét, Long vương làm mưa…Sự khác biệt so sánh với hệ thống đa thần của các nền văn minh cổ đại khác như Ai Cập, Hy Lạp là:
@ Các thần của hệ thống đa thần trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Việt Nam không có quyền, hoặc quyền năng rất hạn chế, trong việc quyết định thay đổi định mệnh con người. Ngược lại, trong thần thoại Ai Cập , Hy Lạp hầu như mỗi vị thần đều có quyền năng thay đổi số phận con người.
@ Tổ chức trong hệ thống bách thần ở Việt Nam rất chặt chẽ, có thứ bậc; trong đó Ngọc Hoàng Thượng đế có quyền năng tối cao. Ngược lại, trong thần thoại Hy Lạp quyền năng của thần Dớt rất hạn chế với các vị thần dưới quyền. Hoặc trong thần thoại Ai Cập, quyền năng của các vi thần thượng đẳng như : thần Rê, thần Tho… gần ngang nhau.

Điều này là cơ sở để chứng tỏ hệ thống thần thoại Việt Nam đã ra đời rất lâu sau khi hình thành một quốc gia có tổ chức chặt chẽ. Từ đó, trên cơ sở của những giá trị tư tưởng chính thống chi phối toàn bộ xã hội Văn Lang là thuyết Âm dương Ngũ hành và cuộc đời của ngài Chử Đồng Tử, thì hoàn toàn có cơ sở để đặt giả thuyết về khả năng hình thành một tín ngưỡng đa thần vào cuối thời Hùng Vương mà vị khởi xướng là ngài Chử Đồng Tử. Tín ngưỡng này phản ảnh thực trạng xã hội Văn Lang ở tính tổ chức và quyền năng hạn chế của các vị thần, hướng giá trị tâm linh con người trở về với Thái Cực, hoặc đạt tới Thái Cực để thoát ly khỏi cuộc sống đầy vướng bận trần gian.
Hình tượng vua Hùng đem quân tới mà không có sự trấn áp, đã chứng tỏ vua Hùng không thừa nhận những giá trị tín ngưỡng được hình thành từ chính những giá trị tư tưởng chính thống của Văn Lang, nhưng cũng không phản ứng mạnh mẽ. Mặc dù như vậy, nhưng sự hiện diện của công chúa Tiên Dung - con vua Hùng - bên cạnh Chử Đồng Tử, vị sáng lập ra một hệ thống tín ngưỡng của người Lạc Việt cũng chứng tỏ khả năng phát triển sâu rộng của nó trong xã hội Văn Lang.

Đạo đức kinh và tín ngưỡng của người Lạc Việt

Hình ảnh cuối cùng trước khi vào cõi bất tử của ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung là chiếc nón và cây gậy đã tạo nên một vương quốc tâm linh hư ảo của ngài. Đây chính là hình tượng của sự vươn lên đạt tới Thái Cực, tức là sự hòa nhập hoàn toàn với vũ trụ (theo truyền thuyết kể lại thì không phải ông sư tặng cho Chử Đồng Tử cây trượng, mà là tiên tặng cho cây gậy và cái nón).
Trên cơ sở vấn đề được đặt ra, đã trình bày ở phần trên về giá trị tín ngưỡng của ngài Chử Đồng Tử; nếu so sánh với tư tưởng của Lão tử qua cuốn “Đạo Đức Kinh” có thể đi đến một nhận xét về sự tương đồng giữa tư tưởng của Lão tử và Chử Đồng Tử. Trong “Đạo Đức Kinh” – tương truyền là của Lão tử – có thể cho rằng: nếu “Mẹ tròn, con vuông” là Lý của Thái Cực và sự khởi nguyên của Âm Dương theo quan niệm vũ trụ quan Văn Lang, thì Đạo Đức Kinh chính là Lý của Âm Dương. Bạn đọc có thể tìm thấy những ý tưởng tương tự qua những đoạn văn sau đây:

Sang (Dương) lấy hèn (Âm) làm gốc; Cao (Dương) lấy thấp (Âm) làm nền (*).
Hoặc:
Không muốn được quí như ngọc
(không Dương), bị khinh như sỏi (tất Âm) (*)

* Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”. Nguyễn Hiến Lê. Nxb VHTT 1994.

Lão tử
Nếu như tư tưởng “Đạo Đức Kinh” hướng con người trở về với bản thể thì cuộc đời và sự nghiệp của ngài Chử Đồng Tử, trong một bối cảnh xã hội đã coi thuyết Âm Dương Ngũ hành có nguồn gốc Thái Cực (Đạo) là ý thức hệ chính thống thì hoàn toàn có khả năng dẫn đến một lý thuyết tương tự.
Từ trước thời nhà Tần và kết thúc vào năm 208 tr.CN - ngọai trừ Đạo Đức Kinh - các nhà Lý học Trung Hoa không có trước tác nào nói đến sự khởi nguyên của vũ trụ. Mặc dù theo truyền thuyết và cổ thư Trung Hoa có đặt vấn đề này trong kinh Dịch: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Nhưng đây chỉ là một hiện tượng, không thể coi là một học thuyết. Trong Đạo Đức Kinh, Lão tử bàn đến những vấn đề căn nguyên của vũ trụ. Ngài quan niệm về khởi nguyên của vũ trụ:

Không – là cái bản thủy của trời đất; – là mẹ sinh ra vạn vật”

(Vô - danh thiên hạ chi thủy. Hữu - danh thiên hạ chi mẫu) (*)

So sánh quan điểm vũ trụ quan của Lão tử qua đoạn trích dẫn ở trên với quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang qua câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh Chưng bánh Dầy thì hai quan điểm này nếu không phải là hoàn toàn, cũng gần như hoàn toàn trùng khớp.
Thái Cực – Dương tương ứng với cái “Không” của Lão tử.
Âm – lý của Ngũ hành nằm trong bánh Chưng là nguồn gốc của vạn vật, tương ứng với cái “Có” là mẹ sinh ra vạn vật.
Có thể nói rằng: quan điểm vũ trụ quan của Lão tử chính là sự diễn đạt dưới một hình thức khác quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang; hoặc chính là sự bổ sung làm rõ hơn ý nghĩa của câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh chưng, bánh dầy.
Nếu như thuyết Âm Dương Ngũ hành lý giải hiện tượng khởi thủy của vũ trụ thì Lão tử nói về năng lực chi phối sự vận động, hình thành và phát triển của vũ trụ. Ngài cho rằng năng lực đó là Đạo và đây là nền tảng cơ bản để hình thành Đạo giáo sau này. Ngài cho rằng:

“Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng, thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin” (*).
“Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt; không thể gọi tên nó lại trở về với cõi vô vật; cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi” (*).

* Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”, sách đã dẫn.

Sự lý giải về Đạo của Lão tử có thể khẳng định rằng đó là sự lý giải bằng một hình thức khác ý niệm của Thái Cực từ văn minh Lạc Việt. Văn minh Lạc Việt – qua nội dung ”Mẹ tròn, con vuông” – quan niệm Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ trong đó không có cái “Có” để nói đến cái “Không”, tràn đầy viên mãn, tức là không có sự phân biệt. So với ý niệm của Lão tử “Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt” hoàn toàn tương ứng với tính không phân biệt, tràn đầy viên mãn; cũng có thể gọi là “trạng không có hình trạng, tượng không có vật thể”, khó diễn đạt cho nên nói “thấp thoáng mập mờ”; viên mãn tràn đầy cho nên nói “đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi”. Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ, gốc của vạn vật, cho nên nói “bên trong có hình tượng” “có vạn vật”.
Như chương I đã chứng minh: thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Văn Lang đã xuất hiện từ buổi đầu lập quốc, tức là trước Lão tử xấp xỉ 2000 năm. Sự trùng hợp về ý niệm trong hệ tư tưởng vũ trụ quan trong Đạo Đức Kinh với văn minh Lạc Việt, đã chứng tỏ những vấn đề sau:
@ Phủ nhận tất cả những tác giả được coi là phát minh ít nhất ra thuyết Âm Dương, khi Lão tử được coi là người đầu tiên đề xướng quan điểm vũ trụ quan trong xã hội Trung Hoa cổ đại.
@ Lão tử đã kế thừa từ vũ trụ quan Văn Lang để hướng tới một nhân sinh quan theo quan điểm của ông và là tiền đề của Đạo giáo. Như vậy đã chứng tỏ rằng: Lão tử là người có nguồn gốc từ Văn Lang, nhưng đã sang sinh sống ở phần đất nhà Chu hoặc là Đạo Đức Kinhđược phát hiện sau khi Văn Lang mất nước.
Đạo Đức Kinh là một tác phẩm từ trước đến nay vẫn được các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng thuộc về nền văn minh Trung Hoa và thời điểm ra đời của nó xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến quốc. Nhưng trong xấp xỉ 5000 từ của Đạo Đức Kinh, không hề để lại một dấu ấn nào thể hiện thời kỳ lịch sử này của xã hội Trung Hoa. Ngược lại, trong tác phẩm này, ngoài những vấn đề liên quan đến hệ tư tưởng vũ trụ quan của người Lạc Việt như đã trình bày ở trên, lại có những dấu ấn của xã hội Văn Lang; có thể lấy làm ví dụ điển hình cho sự liên quan đến xã hội Văn Lang, đó là câu:

“Bắt dân dùng lại lối thắt dây thời thượng cổ” (*)

(*) Chú thích: trích dẫn trong “Lão Tử – Đạo Đức Kinh”, sách đã dẫn.

Về việc “Chính sự dùng lối thắt nút” đã được trình bày ở chương I, điều này chỉ có thể khẳng định một cách hợp lý là: đó là công việc 207 của những nhà lãnh đạo Văn Lang có từ gần 3000 năm tr.CN. Điều này khẳng định rằng Đạo Đức Kinh của Lão tử hoàn toàn là một trước tác có nguồn gốc từ nền văn minh Văn Lang. Lão tử được coi là tổ của Đạo giáo; do đó hoàn toàn có cơ sở để cho rằng Đạo giáo chính xuất phát từ nền văn minh này. Hiện tượng “Chính sự dùng lối thắt nút” được nói tới trong Đạo Đức Kinh cũng đồng thời chứng tỏ rằng: Thời Hùng Vương không thể tồn tại vài trăm năm; bởi vì:

@ Nếu cho rằng Lão tử là người thuộc nhà Chu thì phải chăng “Chính sự dùng lối thắt nút” của các vua Hùng ở thời điểm thế kỷ thứ VI hoặc VII tr.CN (theo quan điểm lịch sử mới) mà “Việt sử lược” nói tới là tiếp thu của nền văn minh Trung Hoa có từ hơn 3000 năm trước? Đây hoàn toàn là một sự vô lý và không thể lý giải được sự liên hệ của
nó.
@ Nhưng khi khẳng định Lão tử là người gốc Lạc Việt, thì thời điểm xuất hiện Đạo Đức Kinh (được coi là tương đương với Khổng tử hoặc lùi vào thời Chiến quốc?) không thể coi thời Chu Trang Vương tức là thời điểm lập quốc của Văn Lang (theo quan điểm lịch sử mới về thời Hùng Vương) là thời thượng cổ được.

Điều này chỉ có thể có một nhận xét hợp lý, khi cho rằng: đất nước Văn Lang đã tồn tại gần 3000 năm và “Chính sự dùng lối thắt nút” là công việc của những nhà lãnh đạo Văn Lang có ngay từ buổi đầu lập quốc, tức là thời thượng cổ mà Lão tử nói tới.
Vào đầu thời Hùng Vương thứ XVIII về thời gian tương đương với sự xuất hiện “Đạo Đức Kinh” của Lão tử, đồng thời có sự tương đồng về tư tưởng của Lão – Chử với những hiện tượng liên quan đến văn minh Văn Lang đã trình bày ở trên. Trong truyền thuyết Việt Nam, Chử Đồng tử và công chúa Tiên Dung biến mất khi kết thúc câu chuyện và sự xuất hiện huyền ảo của Lão tư, ở cùng một khoảng thời gian và trong không gian của hai quốc gia láng giềng với những giá trị tư tưởng gần như hoàn toàn trùng hợp. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề về tác giả của Đạo Đức Kinh – nếu do Lão tử viết – thì Lão tử và Chử Đồng tử chỉ là một người duy nhất. Đây cũng là một vấn đề đã được nhiều học giả nghi vấn.
Đoạn dưới đây được trích lại trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam nhận xét của giáo sư Trần Văn Giàu để bạn đọc tham khảo:

Giáo sư Trần Văn Giàu có viết: “Tư tưởng tín ngưỡng Đạo giáo ... sẵn có từng phần lớn trong nhân dân Việt Nam từ nguyên thủy và trong cả quá trình lịch sử, người Việt chưa có lúc nào chế tạo được cái tên chung để đặt cho loại tín ngưỡng đó, riêng những người nghiên cứu nhận thấy tư tưởng tín ngưỡng đó cùng bản chất với Đạo giáo nên xếp vào một loại vậy thôi”.

Những luận điểm này giải thích vì sao Chử Đồng tử được coi là một trong bốn vị thần hộ quốc của người Lạc Việt.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương VI:Sự tích Đầm Nhất Dạ. Sự hình thành tín ngưỡng và y phục của người Lạc Việt. Vấn đề nội dung truyền thuyết “ Đầm Nhất Dạ“: Truyền ...

Chương V: Sự tích Dưa Hấu. Vần đề nội dung của “Sự tích Dưa Hấu”: Truyền thuyết về “Quả Dưa Hấu” khác hẳn “Sự tích Trầu Cau” và “Bánh Chưng ...

Trầu Cau và lãnh thổ Văn Lang: Từ việc sử dụng trầu cau như một nghi lễ trong quan hệ xã hội đến thói quen ăn trầu của cả một dân tộc, thì phải được ...

Chương IV: Truyền thuyết Trầu Cau. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (Thành ngữ Việt Nam). Huyền thoại Trầu Cau và nền văn hiến thời Hùng Vương: Tất cả ...

Sự phân công lao động xã hội và khả năng sử dụng tiền tệ trong xã hội Văn Lang: Truyền thuyết đã nói đến những yêu cầu của Phù Đổng Thiên Vương về ...

Tổ chức xã hội thời Hùng Vương: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” ghi nhận: Khi vị vua đầu lên ngôi lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn ...

Sự tiếp thu thuyết Âm Dương ngũ hành của văn minh Trung Hoa từ văn minh Văn Lang: Như phần trên đã trình bày, một bộ phận các tộc Việt thuộc văn minh Văn Lang ...

Chương III: Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Sự thu hẹp lãnh thổ Văn lang Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương chống giặc Ân, ghi nhận sự kiện xảy ra ...

Sự sai lệch giữa độ số Ngũ hành trên Hà Đồ và độ số Cục trong Tử vi đẩu số. Một yếu tố củng cố thêm giả thuyết cho rằng: Trần Đoàn lão tổ ...

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” – Sự khẳng định nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành và Lạc thư – Hà đồ: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu ...