Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV

Ngày đăng: Thứ hai 02/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Trong “Trầu Cau”, niên đại ghi nhận vào thời thượng cổ, nhưng lại nhắc tới vua Hùng. Do đó, có thể khẳng định rằng: Khi người Việt dùng trầu cau thì trầu cau đã có trước thời Hùng Vương thứ VI và sau Hùng Vương thứ I. Trầu Cau một nghi thức trong giao tiếp của người Việt thời Hùng Vương, có trước bánh Chưng bánh Dầy mà dấu ấn còn để lại đến tận bây giờ, chính là thói quen ăn trầu còn tương đối phổ biến trong người Việt hiện nay. Lâu lâu chúng ta vẫn gặp những đám cưới dùng lá trầu, quả cau biểu tượng cho sự nồng thắm của tình người, theo truyền thống của ông cha xưa. Cũng như “bánh Chưng bánh Dầy”, “Truyền thuyết Trầu Cau” may mắn còn di chứng đến tận bây giờ.
Như phần trên đã minh chứng: xã hội Văn Lang đã phát triển với những mối quan hệ xã hội phức tạp. Đó là tiền đề để phát triển nhu cầu về hình thái ý thức trong những mối quan hệ xã hội.
Những hình thái ý thức trong quan hệ xã hội được thể hiện bằng những giá trị đạo đức, nghi lễ, thứ bậc trong gia đình và xã hội với những phong tục tập quán mang bản sắc văn hóa của thời Hùng Vương đã được thể hiện trong “Truyền thuyết Trầu Cau”. “Truyền thuyết Trầu Cau” có rất nhiều chi tiết liên quan đến những vấn đề cần chứng minh. Do đó, để tiện cho bạn đọc theo dõi những vấn đề được đặt ra và minh chứng thực trạng xã hội Văn Lang qua “Truyền thuyết Trầu Cau”, xin chép lại toàn bộ truyền thuyết này.
“Truyền thuyết Trầu Cau” được chép sau đây trích từ trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quái (sách đã dẫn) – có kèm theo phần chú thích của dịch giả.

Truyền thuyết Trầu Cau

Thời thượng cổ có một vị quan lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nỗi. Đến năm 17 – 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ Lưu Huyền (3).
Nhà họ Lưu có người con gái tên là Liên, tuổi cũng khoảng 17 – 18. Hai anh em thấy nàng thì rất vừa ý, muốn kết làm vợ chồng (4). Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một khay cháo và một đôi đũa cho hai anh em ăn. Người em nhường cho anh ăn trước, nàng mới phân được ai là anh, ai là em. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh.
Khi cùng ở với nhau, người anh có lúc lạt lẽo với em. Người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi thì quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi về quê nhà. Đi tới giữa rừng gặp một dòng suối sâu mà không có thuyền để qua, đau đớn khóc mà chết, hóa thành một cây mọc ở bên sông.
Người anh ở nhà không thấy em bèn đi tìm. Tới chỗ đó gieo mình chết ở bên gốc cây, hóa thành phiến đá nằm ôm gốc cây. Người vợ đi tìm chồng tới chỗ này cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết hóa thành một cây leo uốn quanh phiến đá ở gốc cây, lá có mùi thơm cay. Cha mẹ nàng họ Lưu đi tìm con tới đây, đau xót vô cùng bèn lập miếu thờ (5).
Người trong vùng hương quả thờ cúng, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.
Khoảng tháng Bảy tháng Tám, khí nóng chưa tan, Hùng Vương đi tuần thú, nhân dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, dây leo chằng chịt, hỏi mà biết chuyện, ta thán hồi lâu. Nhà vua sai lấy quả ở cây và lá ở dây leo nhai, nhổ bọt lên phiến đá thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm tho. Bèn sai nung đá lấy vôi mà ăn cùng với quả và lá dây leo, thấy mùi vị thơm ngon, môi đỏ má hồng, biết là vật quý, bèn lấy mang về.
Ngày nay, cây thường trồng ở khắp nơi, đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy. Về sau, người nước Nam ta phàm cưới vợ gả chồng hay lễ tết lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Nguồn gốc cây cau là như thế đó.

Chú thích
(1) Tiếng để gọi con trai vua (hoàng tử) trong thời Hồng Bàng. Sách “Việt sử thông giám cương mục”, “Tiền biên”, tập 11, trang 5 chép: họ Hồng Bàng “bắt đầu đặt quan chức, tướng văn gọi là lạc hầu, tướng võ gọi là lạc tướng, hữu tư gọi là bồ chính, con trai vua gọi là quan lang...”
(2) Hai chữ Tân và Lang ghép lại có nghĩa là cây cau.
(3) Bản A. 2107 chép là Lưu Đạo Huyền.
(4) Bản A. 1572 chép: “Nhà họ Lưu có người con gái 17, 18 tuổi thấy hai người trong lòng rất lấy làm thích, muốn kết làm vợ chồng mà không biết ai là anh, ai là em bèn đưa ra một bát cháo và một đôi đũa...”
(5) Về đoạn này, bản A. 2107 chép: “Cha mẹ nàng họ Lưu tìm thấy chốn này đau đớn vô cùng bèn lập miếu thờ để cúng. Về tới nhà đêm mộng thấy hai anh em tới vái mà nói rằng: “Chúng tôi nặng tình huynh đệ, vì nghĩa mà không thể cẩu thả được, làm liên lụy tới lệnh ái. Cha mẹ đã không bắt tội lại còn lập đền thờ”. Người con gái cũng tiếp lời rằng: “Thiếp từ thuở thác sinh, nhờ công ơn nuôi dưỡng tới nay, đã không có gì báo đáp, vừa rồi lại vì đạo vợ chồng, vì lòng duyên nhất là vì nghĩa vợ chồng tuy trọn vẹn song dạ hiếu nữ vẫn chưa tròn, dám xin rộng lòng xá tội”. Họ Lưu nói: “Các con đã vẹn tình huynh đệ, nghĩa vợ chồng, ta còn giận gì nữa? Âm Dương đôi ngả, một sớm thành người thiên cổ để cho ta luống những sầu thương”.

“Truyền thuyết Trầu Cau” có thể chia làm hai phần. Phần đầu giải thích về nguồn gốc của cây trầu quả cau mang tính huyền thoại. Nhưng nếu loại bỏ những yếu tố của huyền thoại, chúng ta sẽ tìm thấy những yếu tố để chứng minh cho quan hệ xã hội dưới thời Hùng và giá trị đạo lý trên cơ sở những mối quan hệ đó. Phần hai: sự ấn chứng của vua Hùng quyết định sử dụng trầu cau là một hình thức nghi lễ trong hôn nhân và mọi quan hệ xã hội (Trong “Lĩnh Nam Chích Quái” không ghi việc Hùng Vương quyết định sử dụng trầu cau làm nghi lễ trong quan hệ giao tiếp và hôn nhân trên toàn quốc như truyền thuyết đã nói).

Tình người và những hình thái ý thức trong quan hệ gia đình qua nghi lễ trầu cau của người Lạc Việt

 

Trầu Cau
Biểu tượng trong hôn lễ của người Lạc Việt còn đến tận bây giờ

Trong phần đầu, yếu tố huyền thoại thể hiện bằng hình ảnh những con người trong gia đình Tân và Lang, khi nghĩ rằng đã mất nhau trong đời đều hóa thân thành cây, đá để vĩnh viễn bên nhau. Đó là một hình ảnh bi diễm đầy chất thơ, thể hiện những giá trị tình cảm yêu thương của con người sẵn sàng hy sinh cho nhau. Đây cũng là đích hướng tới của những giá trị đạo lý thời Hùng Vương, mà đỉnh cao của nó là sự hòa nhập tâm hồn trong tình đồng cảm giữa con người với con người, tràn đầy tính nhân bản. Chất lãng mạn tột cùng đó của tình người cũng được thể hiện rất rõ nét trong những tác phẩm văn học thời Hùng Vương, như: Chuyện tình Trương Chi; Thạch Sanh; Mỵ Châu – Trọng Thủy (xin được minh chứng ở phần sau).

Tình người trong mối quan hệ con người trong huyền thoại Trầu Cau đã được vua Hùng ấn chứng và lưu lại qua hàng thiên niên kỷ. Cụm từ “nồng thắm” (nồng – vị của vôi, thắm – sắc của trầu) nhằm diễn tả một trạng thái tốt đẹp nhất trong quan hệ con người, sử dụng trong ngôn ngữ Việt Nam. Phải chăng, hình tượng đó bắt đầu từ sự kết tinh của tình người ở quệt vôi, lá trầu, quả cau, đã ghi dấu ấn trong tâm linh sâu thẳm trải gần 5000 năm cho đến tận bây giờ!
Với một tình người được tôn trọng và đề cao, thì dù Âm Dương cách biệt vẫn còn tưởng nhớ đến nhau trong cuộc đời. Tục thờ cúng người đã khuất trong nền văn minh Việt Nam – mà nguồn gốc của nó là sự đề cao tình người trong mối quan hệ giữa con người với con người có từ trước thời Hùng Vương thứ VI – chắc chắn đã xuất hiện vào lúc này. Hình ảnh ông bà Lưu lập miếu thờ ba người đã chứng tỏ điều đó. Khi tổ tiên người Lạc Việt đặt lễ cúng để tưởng niệm cho người đã khuất, là muốn nhắc nhở con cháu phải biết yêu thương nhau ngay từ khi còn sống. Như vậy, có thể khẳng định rằng: Việc thờ cúng tổ tiên hoàn toàn là phong tục của người Việt đã có từ lâu, chứ không phải là sự du nhập của nền văn minh Trung Hoa (nên chăng trong mỗi mâm cỗ cúng người đã khuất ở thời hiện đại, có thêm lá trầu quả cau như là một biểu tượng cho sự nồng thắm của tình người còn sống với người đã khuất).
Trầu cau, một di sản văn hoá thể hiện những giá trị tinh thần và mơ ước của người Lạc Việt. Lá trầu biểu tượng cho sự sinh sản, cái bắt đầu và nguồn cội; Buồng cau nặng trĩu chi chít những quả no tròn: biểu tượng cho sự phú túc và phát triển; vôi: biểu tượng cho sự trong sạch, thanh cao. Nhưng khi tất cả hoà quyện với nhau thì sự nồng thắm xuất hiện, như khẳng định tình yêu chính là giá trị hướng tới của con người. Thật là một biểu tượng tuyệt diệu! Khi trầu cau được sử dụng trong nghi lễ cưới hỏi; sự mở đầu cho một thế hệ mới tiếp nối cho sự sống của con người. Ở ngay từ lúc bắt đầu thiêng liêng ấy, đã có sự nồng thắm của tình yêu con người. Dịch kinh viết: “Trí thì cao siêu, lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời, thấp là bắt chước đất”. Sự giản dị khiêm cung của “Trầu cau” đã tạo nên tính nhân bản trong di sản văn hoá của người Lạc Việt: tất cả những đôi nam nữ yêu nhau, đều có thể lấy nhau chính vì sự thanh đạm và biểu tượng cao quý của nghi lễ này.
Trong “Truyền thuyết Trầu Cau” đã chứng tỏ: xã hội Văn Lang từ trước thời Hùng Vương thứ VI có mối quan hệ gia đình như là tế bào cơ bản cấu thành xã hội. Điều này cũng chứng tỏ một nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho con người có khả năng tồn tại trong một cộng đồng nhỏ hơn là gia đình, không còn phải chịu sự ràng buộc chặt chẽ trong cộng đồng bộ lạc hoặc thị tộc. Những thành viên trong gia đình cùng liên quan chịu trách nhiệm chính trong sự tồn tại và phát triển của mỗi một con người và của cả gia đình họ. Chi tiết phần I miêu tả việc hai anh em bỏ nhà đi học xa, khi người em bỏ đi khiến vợ chồng Tân đi tìm và họ lần lượt hóa thân bên nhau, đã chứng tỏ tính trách nhiệm và sự ràng buộc tình cảm trong mối quan hệ gia đình. Kể từ thời gian đầu lập quốc với truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” đến thời Hùng Vương thứ VI, cụ thể là đến khi có “Truyền thuyết Trầu Cau” ngót cả ngàn năm. Đó là thời gian hợp lý để sự phát triển kinh tế xã hội, làm nền tảng cho các mối quan hệ trong gia đình và tạo điều kiện cho con người thoát khỏi sự ràng buộc của những cộng đồng người hoang sơ. Tiêu biểu cho mối quan hệ gia đình từ sự bắt đầu của nó là quan hệ hôn nhân – đám cưới – đã xuất hiện với những nghi lễ, mà di vật minh chứng cho điều này có từ thời xa xưa vẫn còn tới tận bây giờ: đó chính là “Trầu Cau”.
Bạn đọc có thể cho rằng: Nhận xét về sự tồn tại mối quan hệ gia đình với đầy đủ những hình thái ý thức của nó, như là phần tử cơ bản cấu thành xã hội Văn Lang, tương tự như trong xã hội hiện đại dựa vào “Truyền thuyết Trầu Cau” ở phần 1 của câu chuyện, có thể là một giả thuyết dựa trên cơ sở không vững chắc vì tính huyền thoại của nó. Bởi phần sự tích của “Trầu Cau” có thể được đặt ra và thêm thắt, để tạo nên một nền tảng tư tưởng cho những giá trị đạo lý trong quan hệ gia đình được hình thành ở những thời gian lịch sử sau đó, mà tục sử dụng trầu cau như là một nghi thức thể hiện sẵn có, chỉ là một phương tiện để chuyển tải.
Nhận xét trên chỉ có thể được coi là đúng, nếu phần 2 của câu chuyện không có sự ấn chứng của vua Hùng đối với loại cây được sử dụng trong nghi lễ giao tiếp và hôn lễ của người Việt. Điều này chứng tỏ rằng: nhu cầu về hình thức giao tiếp trong quan hệ xã hội và gia đình đã xuất hiện và đã có những hình thái ý thức cho nó, đã có từ trước thời Hùng Vương thứ VI. Phong tục sử dụng trầu cau trong nghi lễ cưới hỏi của người Lạc Việt còn tồn tại hàng ngàn năm cho đến tận bây giờ, chính là hiện tượng bảo chứng cho sự tồn tại của gia đình trong xã hội Văn Lang. Hình thức giao tiếp không chỉ bằng những cử chỉ cung kính, cẩn trọng mà là những vật lễ cụ thể đơn giản, nhưng đầy đủ ý nghĩa để có thể trở thành phổ biến trong xã hội Văn Lang. Đặc biệt là sự xuất hiện hình thức trong nghi lễ hôn nhân bằng trầu cau, là một bằng chứng thể hiện vị trí của gia đình và những hình thái ý thức của nó trong cơ cấu xã hội. Đây là một dấu chứng phủ nhận quan niệm cho rằng: xã hội Văn Lang chỉ là một cộng đồng bộ lạc.
Những hình thái ý thức trong quan hệ gia đình đã xuất hiện qua “Truyền thuyết Trầu Cau”, có thể nhận thấy qua sự phân biệt ngôi thứ trong quan hệ gia đình. Đó là việc cô Liên, con gái người thầy của hai anh em Tân và Lang đưa ra một đôi đũa và một khay cháo để lựa chọn người anh trong gia đình chứng tỏ điều này (trong điều kiện hai anh em giống nhau như đúc). Việc người em nhường đũa cho người anh dùng cháo trước, đã chứng tỏ không phải chỉ là sự phân biệt ngôi thứ mà còn là tôn ti trật tự trong gia đình. Hình ảnh cô Liên sau khi biết được Tân là anh về nói với cha mẹ xin cưới Tân làm chồng, đã chứng tỏ người phụ nữ Việt Nam dưới thời Hùng Vương hoàn toàn được quyền tự do và chủ động trong hôn nhân, chứ không phải “Tại gia tòng phụ” như quan điểm Nho học sau này từ văn minh Trung Hoa – trọng nam khinh nữ – truyền vào Việt nam, khi đất nước bị đô hộ. Hình ảnh này cũng chứng tỏ những nghi thức trong hôn nhân đã hình thành với vai trò của cha mẹ. Việc cô Liên đi tìm chồng và chết theo chồng không phải xuất phát từ tư tưởng “Xuất giá tòng phu” mà hoàn toàn chủ động từ tình cảm của chính cô. Sự nồng thắm của tình người sau khi hóa thân thành trầu, cau, vôi đã chứng tỏ điều này. Nếu đạo Tam tòng của Hán Nho về sau, thuộc về trạng thái ý thức có tính gò ép, thì sự chung thủy trên căn bản tình người là một giá trị của nền văn hiến thời Hùng Vương.
Nhận xét nói trên, được bảo chứng bằng sự phổ biến của tục ăn trầu ở khắp miền nam sông Dương Tử cho đến đời Tống và cho đến tận bây giờ ở Đài Loan; cũng như nghi lễ sử dụng trầu cau còn được gìn giữ trong cộng đồng người Việt, cho đến nay trải đã hàng ngàn năm. Sự phổ biến của một tập quán bao trùm một không gian địa lý rộng lớn với thời gian kéo dài hàng thiên niên kỷ, đã chứng tỏ tính thống nhất về văn hoá và sự tồn tại của một quyền lực ổn định bao trùm bảo đảm cho sự tồn tại của nó.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sai lệch giữa độ số Ngũ hành trên Hà Đồ và độ số Cục trong Tử vi đẩu số. Một yếu tố củng cố thêm giả thuyết cho rằng: Trần Đoàn lão tổ ...

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” – Sự khẳng định nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành và Lạc thư – Hà đồ: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu ...

Lạc thư – Hà đồ. Tiền đề của khoa Thiên văn học thời Hùng Vương: Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ giới hạn ở việc giải thích sự hình thành vũ ...

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...