Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III

Ngày đăng: Thứ hai 02/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Vì vậy, để giải thích hiện tượng giặc Ân sang cướp nước ta trong truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” - với quan niệm mới chỉ có hai giải pháp là: hoặc là phủ nhận tính thực tế của truyền thuyết; hoặc là coi giặc Ân là bộ tộc Ân nào đó ở miền Bắc Văn Lang. Do đó việc đầu tiên phải lý giải là:

Giặc Ân là bộ tộc Ân hay là nhà Ân Thương thuộc cổ sử Trung Hoa

Về sự việc này, căn cứ vào truyền thuyết có thể dẫn chứng những điểm như sau:

@ Sự tương quan niên đại giữa thời Hùng Vương thứ VI và nhà Ân Thương

So với sử cũ thời Hùng Vương kéo dài 2622 năm. Nếu lấy sự trung bình toán học ta sẽ có thời điểm ở cuối thời Hùng Vương thứ VI là:
(2622 x 12 : 18) + 258 (hoặc 208 theo quan niệm mới) ta sẽ được 2006 (nếu cộng 258) hoặc 1956 (nếu cộng 208) năm tr.CN.
Trong đó: 18 là con số chỉ 18 thời Hùng Vương.
12 là các thời vua Hùng tiếp nối tính từ thời Hùng Vương thứ VII
258 (hoặc 208) tr.CN là niên đại kết thúc của thời Hùng Vương.
Ta sẽ có con số khoảng 2000 năm tr.CN cho niên đại kết thúc của thời Hùng Vương thứ VI - chênh lệch 300 năm so với con số tuyệt đối nếu có của niên đại bắt đầu nhà Ân Thương. Như vậy, giữa thời Hùng Vương thứ VI và đời Ân Thương thuộc cổ sử Trung Hoa có sự tương đương về niên đại (do chỉ lấy sự trung bình toán học thuần túy, có thể 6 thời Hùng Vương - kể từ Hùng Vương thứ I - có niên đại trung bình lâu hơn và nhà Ân có niên đại bắt đầu sớm hơn. Thực tế về niên đại trong cổ sử Trung Hoa được coi là tương đối chính xác chỉ từ thời Chu Lệ Vương (khoảng 850 tr.CN), còn trước đó chỉ là những con số giả định theo truyền thuyết. Sự tương đương về niên đại này không thể coi là ngẫu nhiên, hoặc do các nhà chép sử thời Đinh - Lê - Lý - Trần... về sau gán ghép một cách chủ quan. Bởi vì ông cha ta ngày xưa viết sử biên niên chỉ dựa vào niên hiệu của các vị vua. Do đó nếu tính toán một cách chủ quan để thời Hùng Vương thứ VI tương đương với niên đại nhà Ân Thương là một việc rất khó thực hiện, khi chính nhà Ân Thương cũng chưa khẳng định được niên đại chính xác của nó, ít nhất trước khi có khoa lịch sử hiện đại. Vì vậy chỉ có thể khẳng định rằng: truyền thuyết đã ghi nhận sự việc xảy ra đúng vào niên đại của thời Ân Thương.
Truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” cũng ghi nhận: sau cuộc chiến Ân Thương - Văn Lang thì Ân Thương hơn 600 năm không dám ra quân (có sách nói 400 năm). Cổ sử Trung Hoa cho rằng nhà Ân Thương chỉ tồn tại 600 năm (1766 - 1122 tr.CN - Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, Tập I, Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương, Nxb VHTT 1997, dịch giả Trần Ngọc Thuận). Nhưng nếu tính từ vua Bàn Canh nhà Thương dời đô sang Ân Khư , vì vậy gọi là nhà Ân thì khoảng xấp xỉ 400 năm.
Do đó, cuộc chiến này có thể khẳng định diễn ra vào đầu thời Ân và cuối thời Hùng Vương thứ VI. Nếu thời Hùng Vương chỉ tồn tại 300 năm, thì không có cơ sở nào giải thích được sự trùng hợp về thời gian mà truyền thuyết nhắc tới với những vấn đề lịch sử liên quan.

Sự liên quan qua không gian lịch sử

Theo Đại Việt sử ký (Nxb T/p Hồ Chí Minh 1993 - dịch giả Nguyễn Gia Tường):

Việt Vương Câu Tiễn (505 - 465 tr.CN) thường sai sứ sang dụ, Hùng Vương chống cự lại.

Nước Việt cuối thời Xuân Thu là một nước ở vùng Triết Giang Trung Hoa ngày nay (tức là vùng đất của Văn Lang cũ theo truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên”), vào thời Câu Tiễn là một quốc gia hùng mạnh, bá chủ của các nước chư hầu thuộc vùng Nam Trung Quốc cuối thời Xuân Thu của nhà Chu. Nước Việt có một nền khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là kỹ thuật luyện kim, những thanh kiếm báu nổi tiếng trong truyền thuyết Trung Hoa là Can Tương và Mạc Da đều được sản xuất từ nước này. Với một thực lực hùng hậu như vậy, mà chưa hề có một truyền thuyết, di vật hoặc thư tịch nào chứng tỏ có một cuộc chiến giữa Việt Câu Tiễn và Văn Lang. Do đó, thật là khó lý giải khi gần 100 năm sau lại có một bộ tộc Ân nào đó, tấn công khiến nước Văn Lang phải khốn đốn.
Sự kiện này cũng chứng tỏ rằng biên giới của Văn Lang cũng rất gần, hoặc ngay sát biên giới của Việt Vương Câu Tiễn. Không thể có lý do gì nước Văn Lang ở tận Việt Trì và chỉ là một bộ lạc lạc hậu, lại được sự quan tâm mong muốn trở thành đồng minh của Câu Tiễn trong việc bá chủ Trung Nguyên.

@ Tư liệu Trung Hoa liên quan

* Trong Chu Dịch về ý nghĩa của quẻ Ký Tế, phần Tượng truyện, hào 3 có nói:
Cửu tam: Cao Tôn phạt Quỉ phương,tam niên khắc chi, tiểu nhân vật dụng.
Vua đánh các vùng nước Quỷ, ba năm mới được, chớ dùng tiểu nhân.
Bị chú hào này: trong bản Chu Dịch hiện lưu hành, vua ở đây ghi là Cao Tông tức vua Cao Tông nhà Ân Thương... Thuật ngữ: Quỷ Phương chỉ các phương giống người quỷ tức người còn man rợ như phía trên đã nói: Nam Man, Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung. Nước Việt Thường chúng ta thời Kinh Dương Vương cũng bị nhà Chu gọi là nước Xích Quỷ ... nhà Ân Thương có điều quân đi đánh bốn phương đều dẹp loạn, có xuống đến tỉnh Quý Châu. Ở đây có bộ tộc Thi La Quỷ, thời Hùng Vương thứ VI, vào đánh nước ta nhân danh nhà Ân Thương (Theo Vũ Quỳnh trong sách Tân đính Lĩnh Nam Chích Quái).
Vua Cao Tông nhà Ân Thương tên là Vũ Đinh, con Đế Tiểu Ất và cháu vua Bàn Canh. Vũ Đinh có đánh dẹp quanh hồ Động Đình và đến vùng Quý Châu, có thể cuộc dẹp loạn trải qua ba năm.

Quẻ Tùy, hào 6 có nói:

Thượng lục: Câu hệ chi, nãi tùng duy chi, vương dụng hanh vu tây sơn
Lòng mình theo mình cấu kết không rời, không trói buộc cũng theo, như dân ấp Mân theo vua chạy qua Tây Sơn.

(Phần trích dẫn, theo Kinh Dịch Phục Hy, Gs. Bùi Văn Nguyên - Nxb Khoa Học Xã Hội - Hà Nội 1997).

Vua ở đây được hiểu là vua nhà Chu. Nhưng theo người viết thì đất Mân thuộc địa danh khoảng vùng Phúc Kiến ngày nay (Có thể sau này là nước Mân Việt mà Sử ký của Tư Mã Thiên nhắc đến trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện) Vào thời Chu, đất Mân không thuộc về Hoa Hạ. Không rõ đời vua Chu nào trong sử Trung Hoa chạy loạn từ đất Mân sang vùng Tây Sơn (địa danh), hoặc phía tây núi (phương vị) có dân chúng chạy theo. Nhưng với quan niệm cho rằng: Hào 6 của kinh Dịch phản ánh cuộc chiến Ân Thương - Văn Lang, thì đây có thể là đoạn miêu tả cuộc rút lui của vua Hùng cuối thời Hùng Vương thứ 6, bỏ kinh đô ở vùng đất Mân, chạy sang phía tây núi Lĩnh nam, thuộc bộ Vũ Ninh (Quí Châu ngày nay). Tại đây, vua Hùng đã kịp triệu tập quân đội các bộ chống giặc và ngài Phù Đổng Thiên Vương đã hiện thân cứu nước.
Vua Vũ Đinh nhà Ân Thương phải chăng chính là vua Ốc Đinh theo tài liệu của cụ Trần Huy Bá được dẫn trong phần “Tổ chức xã hội thời Hùng Vương”. Nếu hai vị vua này là một thì những giả thuyết được đặt ra trong chương này, liên quan đến cuộc chiến Ân Thương - Văn Lang và 18 thời Hùng Vương, sẽ có những điểm trùng khớp (xin được minh chứng rõ hơn ở phần sau).
* Trong những thư tịch cổ của Trung Hoa còn lại đến ngày nay thì xưa nhất là sách “Thống Chí” của Trịnh Tiều có nói vào thời Nghiêu Thuấn có nước Việt Thường đem tặng con rùa thần trên có ghi văn Khoa Đẩu nói việc trời đất mở mang. Theo “Lĩnh Nam Chích Quái” thì vua Hùng Vương có tặng Chu Thành Vương một con chim trĩ trắng, nhưng riêng đời Ân thì không có sử sách nào nói đến, ngoại trừ một cuộc chiến mà truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” đã nhắc tới. Điều này chứng tỏ chính nhà Ân Thương đã gây chiến với Văn Lang cho nên không có quan hệ ngoại giao.

@ Di vật liên quan

Để minh họa rõ hơn về việc nhà Ân Thương xâm lược Văn Lang, xin được trích dẫn một đoạn trong cuốn Sử Trung Quốc của tác giả Nguyễn Hiến Lê - Nxb Văn Hóa 1996.

Hơn nữa, thời đó, An Dương (thủ đô của nhà Ân Thương - người viết), trung tâm văn minh Trung Hoa có thể cũng đã liên lạc với Hoa Nam (vùng đất Văn Lang cũ - phía Nam sông Dương Tử - người viết) và các xứ ở Đông Nam Á, vì người ta thấy những yếm rùa rất lớn dùng để bói mà loài rùa lớn đó chỉ có ở thung lũng sông Dương Tử, thấy những đồ bằng đồng đỏ (bronse) chạm những hình người mặt rộng, tròn, mũi tẹt, thuộc giống người Mélannésie (Đông Nam Á); vả lại muốn đúc thứ đồng đó cần có thiếc mà Hoa Bắc không có.

Hiện tượng đồ đồng được cấu tạo bằng hợp kim đồng thiếc trong những di vật đào được ở An Dương mà học giả Nguyễn Hiến Lê đã dẫn chứng ở trên có xuất xứ từ Đông Nam Á, được bổ trợ bằng những công trình nghiên cứu của các nhà sử học Việt Nam công bố trong cuốn Thời đại Hùng Vương (Nxb Khoa học xã hội 1976 - nhiều tác giả). Xin được trích lại như sau:

Đồng trong các đồ đồng của thời đại Hùng Vương không phải là  đồng nguyên chất lấy trong giới tự nhiên, mà là đồng rút ra từ việc lấy quặng.
Từ các quặng đồng, quặng chì, quặng thiếc, cư dân nước Văn Lang đã luyện được các thứ hợp kim khác nhau, cụ thể là hợp kim đồng - thiếc và hợp kim đồng - chì.
Kết quả phân tích quang phổ thành phần hợp kim đồ đồng thời đại Hùng Vương cho biết :
- Hàm lượng đồng trong các đồ đồng chiếm từ 80% đến 90%, hàm lượng thiếc từ 10% đến 20%. Một hợp kim gồm một tỷ lệ đồng và thiếc như thế là hợp kim tốt có thể dùng để chế tạo các dụng cụ bền, chắc.
- Tỷ lệ hợp kim tương đối ổn định. Điều này biểu thị rằng ông cha chúng ta trong thời đại Hùng Vương có những tri thức vững chắc về kỹ thuật luyện kim.

Qua đó, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: không phải ngẫu nhiên mà có sự liên hệ giữa những đồ đồng của nền văn minh Văn Lang với những di vật đồng đào được ở An Dương của nhà Ân Thương; khi mà ở thời đại Ân Thương không thể tạo được hợp kim đồng thiếc. Sự phát hiện của ngành khảo cổ học hiện đại về đồ vật bằng đồng đỏ (hợp kim đồng - thiếc) chỉ có ở vùng Đông Nam Á, xuất hiện ở thủ đô Ân Thương dẫn đến hai giả thuyết:
1) Nhà Ân Thương đã trao đổi buôn bán với Văn Lang.
2) Đó là những chiến lợi phẩm trong cuộc xâm lược Văn Lang vào thời Hùng Vương thứ VI.
Giả thuyết 2 có cơ sở hơn, vì sự trùng lặp hợp với truyền thuyết Việt Nam. Hơn nữa, nếu do người Ân Thương buôn bán với Văn Lang mua thiếc về để tự đúc lấy, tại sao họ lại không chạm những hình thuộc dân tộc họ mà lại chạm những hình người mà họ cho là Man di.
Với những luận điểm trên thì giặc Ân mà truyền thuyết nói đến, chỉ có thể khẳng định là nhà Ân Thương bên Trung Hoa. Không thể có một bộ tộc Ân nào đó tồn tại ở Bắc Văn Lang, tức là Nam Trung Quốc giáp giới với các nước thời Xuân Thu – Chiến quốc có khả năng tấn công Văn Lang, mà lại không được sử Trung Quốc nhắc đến.

Sự thu hẹp lãnh thổ Văn Lang

Theo truyền thuyết kể lại: Ngài Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc đến bộ Vũ Ninh thì giặc tan và ngài hiển thánh. Như vậy chứng tỏ quân chủ lực của giặc đã tan rã, nhưng bên ta chủ tướng cũng không còn. Cho nên, mặc dù Ân Thương không dám ra quân, nhưng bên ta có thể cũng chưa đủ sức giành lại những vùng đất đã mất. Do đó phần đất phía Bắc Văn Lang theo truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” nhắc tới: Bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục... bị xâm chiếm bởi nhà Ân Thương. Khi nhà Chu lật đổ Ân Thương, đương nhiên tiếp quản những vùng đất Ân Thương đã chiếm của Văn Lang và làm đất phong cho con cháu, công thần của họ. Điều này giải thích tại sao một số nước chư hầu của nhà Chu đã xuất hiện ở vùng đất Văn Lang cũ như Ngô, Việt và một phần nước Sở... Tuy nhiên, chưa thể khẳng định được sự thu hẹp lãnh thổ của Văn Lang do cuộc xâm lăng của nhà Ân tới đâu. Bởi vì, như phần trên đã trình bày: quân chủ lực Ân Thương bị tan rã ở Vũ Ninh, nhưng cũng không nói tới việc giặc Ân bị quân ta đuổi ra khỏi bờ cõi. Điều này cũng không có nghĩa là: từ Vũ Ninh trở về phía Bắc hoàn toàn thuộc về nhà Ân Thương. Do có thể có một số bộ trong 15 bộ thuộc Văn Lang bị chiếm, đã tự nổi dậy đuổi giặc ở những vùng phía Bắc, sau đó tiếp tục sát nhập vào Văn Lang. Giả thuyết này sẽ được làm sáng tỏ hơn trong mục “Tổ chức xã hội Văn Lang” ở phần sau.
Để chứng minh cho điều này, xin độc giả xem những bản đồ dưới đây.

I - Tấm bản đồ Chiến quốc được vẽ lại từ những tấm bản đồ minh họa trong cuốn Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, tập I của Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương (Nxb VHTT 1997 - Dịch giả Trần Ngọc Thuận) và phần biên giới của các nước chư hầu nhà Chu trong “Bản đồ Trung Quốc vào khoảng 350 năm trước Tây Lịch” (Sử Trung Quốc, Tập I của Nguyễn Hiến Lê - Nxb Văn Hóa - 1997).

Qua tấm bản đồ trên bạn đọc sẽ nhận thấy: nếu nước Văn Lang chỉ giới hạn ở một vùng thuộc Bắc Việt Nam ngày nay, mà lại được sự quan tâm của Việt Vương Câu Tiễn để làm đồng minh chống lại Trung Nguyên thì thật là một sự vô lý. Từ giới hạn biên giới phía Nam của các nước chư hầu nhà Chu thời Chiến quốc (theo bản đồ của Sử Trung quốc - sách đã dẫn) đến biên giới phía Bắc hiện nay của Việt Nam là một khoảng trống lớn. Trong khoảng trống đó có vùng Quý Châu là điểm mà vua Ân tuần thú xuống phía Nam để đánh các nước Quỷ (Hào 3, quẻ Ký Tế - Kinh Dịch Phục Hy - sách đã dẫn). Truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” có nói: Ngài giáng hạ ở làng Phù Đổng (huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc hiện nay). Các sách sử gần đây cho rằng bộ Vũ Ninh thuộc vùng Hà Bắc. Như vậy, theo truyền thuyết giặc đã đánh đến ngay quê hương của ngài. Nếu thế thì sự chuẩn bị chiến đấu của ngài chắc không thể trọn vẹn và ngài cũng không cần trổ thần uy, phóng ngựa chớp mắt tới quân giặc làm gì. Do đó, so với những lời chú thích trong quẻ Ký Tế thì hoàn toàn có cơ sở để đặt một giả thuyết cho rằng: bộ Vũ Ninh chính là vùng Quý Châu cũ. Khi lãnh thổ Văn Lang bị thu hẹp vào thời nhà Tần, vua Hùng đã chia phần đất cuối cùng còn lại của Văn Lang theo tên các bộ cũ. Riêng quê hương của ngài thì được đặt tên Vũ Ninh để kỷ niệm chiến công oanh liệt vào thời Hùng Vương thứ VI do ngài tạo lập.

 

II - Tấm bản đồ trên hoàn toàn được vẽ lại từ bản đồ thời kỳ nhà Tần trong cuốn Lịch sử Trung Quốc 5000 năm (sách đã dẫn). Bạn đọc sẽ nhận thấy một sự tồn tại liên quan đến truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” - đó là các nước: Dạ Lang, Điền Việt, Tây Âu có tên trên bản đồ (nước Văn Lang không có tên trên bản đồ - mặc dù đến lúc này thì ít nhất cũng đã tồn tại trên thực tế - dù theo quan điểm nào). Theo sử Trung Hoa thì Nam Việt lúc đầu thuộc nhà Tần, nhưng đến cuối thời Tần thì tách ra lập một quốc gia riêng. Từ bản đồ này, đã chứng tỏ trong khoảng 125 năm, tính từ năm 350 năm đến 221 tr.CN lãnh thổ Văn Lang đã bị thu hẹp đáng kể. Nhưng qua đó cũng chứng tỏ rằng: việc tướng Đồ Thư tấn công Bách Việt thuộc Văn Lang mà truyền thuyết nói tới, hoàn toàn không phải là đánh vào vùng đất Văn Lang ở nước Việt hiện đại, mà là những vùng đất thuộc Văn Lang cũ, tức phần còn lại của bản đồ thời Chiến quốc ở phần trên. Bởi vì, nếu tướng Đồ Thư đánh vào Văn Lang ở thời điểm sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thì ít nhất vị tướng này cũng phải chinh phục qua các nước nằm trong bản đồ nói trên. Đây là điều vô lý.

Với tấm bản đồ thời kỳ nhà Tần, bạn đọc sẽ đặt câu hỏi: trong vòng khoảng 129 năm kể từ bản đồ Chiến quốc đến bản đồ nhà Tần (cho rằng đây là bản đồ cuối Tần), nguyên nhân nào đã dẫn đến sự hình thành một số quốc gia như Dạ Lang, Điền Việt, Tây Âu trong những khoảng trống ở bản đồ Chiến quốc?
Theo quan điểm của sử cũ phù hợp với truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” thì hiện tượng này có thể giải thích như sau: Trước đó, ở đây vốn là những vùng đất của các bộ thuộc Văn Lang cũ, tức là đã có những tổ chức xã hội ổn định và phát triển. Cho nên hoàn toàn có cơ sở để từ đó hình thành những quốc gia độc lập, do những sự biến động lớn của lịch sử - có nguyên nhân từ những cuộc chinh phạt của những nước chư hầu nhà Chu, đặc biệt là nhà Tần. Còn với quan điểm mới giải thích thế nào thì vì không có tài liệu, người viết không dám lạm bàn.

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sai lệch giữa độ số Ngũ hành trên Hà Đồ và độ số Cục trong Tử vi đẩu số. Một yếu tố củng cố thêm giả thuyết cho rằng: Trần Đoàn lão tổ ...

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” – Sự khẳng định nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành và Lạc thư – Hà đồ: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu ...

Lạc thư – Hà đồ. Tiền đề của khoa Thiên văn học thời Hùng Vương: Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ giới hạn ở việc giải thích sự hình thành vũ ...

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...