Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2

Ngày đăng: Thứ hai 02/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Hùng Vương gồm hai thành tố. Thành tố Hùng là phiên âm Hán Việt của một từ Việt cổ nào đó có ngữ âm, ngữ nghĩa gần với Kun, Khun hay Khunzt của đồng bào các dân tộc anh em như Mường, Thái và Munda - những từ ngữ trên đều có nghĩa là trưởng, thủ lĩnh hay người đứng đầu (Hùng) của cả nước.

Nhưng thành tố Vương được cho là do các sử gia đời sau thêm vào một cách tùy tiện.

Người đứng đầu quốc gia không Đế thì cũng Vương mà thôi.

Với cách lý giải chữ Hùng thì có khả năng hợp lý, nhưng cho chữ Vương là sự gán ghép của đời sau thì khiên cưỡng. Bởi vì hai chữ này: Hùng (đứng đầu, thủ lĩnh) và Vương (chúa, chúa tể) sẽ loại trừ nhau, nếu chỉ thể hiện một nghĩa duy nhất là người đứng đầu xã hội. Do đó, việc các sử gia đời sau đặt chữ Vương bên cạnh chữ Hùng hoàn toàn hợp lý nếu giải thích rằng: Hùng (thủ lĩnh); Vương (chúa tể) và Hùng Vương có nghĩa là chúa tể của những thủ lĩnh.
Chữ Hùng có ý nghĩa là thủ lĩnh có thể còn một nguyên nhân sau: Hùng là tộc danh nắm quyền điều hành xã hội Văn Lang. Truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” nói tới việc Tổ Mẫu Âu Cơ đưa người con cả lên làm vua và các người con khác chia nhau cai trị khắp nơi. Như vậy, đứng đầu 15 bộ đều thuộc những chi khác nhau của Hùng tộc (cụm từ “Hồng Bàng Thị” phải chăng còn một ý nghĩa khác nữa là dòng họ hoặc một dân tộc lớn). Bởi vì sự tiếp nối cầm quyền qua hàng ngàn năm, nên từ Hùng bắt đầu là một danh từ riêng chỉ chi tộc trở thành một danh từ chung phổ biến để chỉ người đứng đầu mà các dân tộc ít người gọi là Kun, Khun, Khunzt.
Nhưng dù có cách lý giải thế nào, thì nghĩa chữ Hùng Vương vẫn là chúa tể của những người đứng đầu. Với ý nghĩa trên thì có thể lý giải thực trạng về tổ chức xã hội Văn Lang như sau:
Truyền thuyết ghi nhận: khi hình thành xã hội Văn Lang, vua Hùng chia lãnh thổ thành 15 bộ và cho các em đi cai trị các nơi. Như vậy, mỗi bộ đều do người thuộc chi tộc Hùng đứng đầu (thủ lĩnh) và những người Việt thuộc sự cai quản của vua Hùng là nguồn động lực chính trong sự phát triển của những địa phương. Sau đó, thủ lĩnh của các bộ bầu một người trong số các thủ lĩnh đại diện cho các chi tộc nắm quyền điều hành chung. Thủ lĩnh của chi tộc được bầu gọi là Hùng Vương. Với cách lý giải trên thì tổ chức xã hội thời Hùng tương tự như thời Chu thuộc cổ sử Trung Hoa. Nhưng khác với thời Chu là: ngôi vua nhà Chu là do cha truyền con nối và là chúa tể của các chư hầu vĩnh viễn. Còn thời Hùng Vương, địa vị chúa tể thuộc về thủ lĩnh một chi tộc nào đó được bầu lên, tùy theo nhu cầu phát triển chung mà chi tộc đó có khả năng đáp ứng.
So sánh tước vị trong xã hội Văn Lang và các xã hội khác thuộc cổ sử Trung Hoa, chúng ta sẽ thấy có sự tương tự: người đứng đầu quốc gia thời Chu xưng Vương, tương tự với chức danh đứng đầu Văn Lang. Người đứng đầu nước chư hầu thời Chu xưng Hầu, thí dụ như Tề Hầu, Tấn Hầu... người đứng đầu của các bộ Văn Lang gọi là Lạc Hầu (sự so sánh này chỉ minh họa cho ý trên). Với giả thuyết này thì những bộ dưới thời Hùng Vương đều có quyền tự cai trị và quân đội riêng, tương tự như các chư hầu thời Chu. Do đó, chỉ khi nào có quốc biến mới tập hợp lực lượng dưới quyền chỉ huy của Hùng Vương để chiến đấu.
Với cách lý giải trên sẽ giải thích tại sao nhà Ân Thương chiến thắng một nước có nền văn minh phát triển hơn hẳn so với các quốc gia thời cổ. Truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” đã ghi nhận xin tóm lược như sau:

@ “Vào thời Hùng Vương thứ VI, đất nước thanh bình đã lâu nên nhà vua sao lãng việc phòng thủ...”
@ Hùng Vương cậy nước mình giàu mạnh mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương (Lĩnh Nam Chích Quái - sách đã dẫn).
@ Lạc Long Quân đã sai Hịch nữ báo trước cho nhà vua về việc ba năm sau nhà Ân Thương sẽ tấn công Văn Lang. Vua Hùng không tin sai bắt giam Hịch nữ.
(Truyền thuyết Hùng Vương - Thần Thoại Vĩnh Phú, Vũ Kim Biên sưu tầm - Nxb Sở VHTT - TT Phú Thọ 1997).

Việc cho rằng vua Hùng chểnh mảng việc triều cận Bắc phương có lẽ là do người đời sau thay đổi ý từ việc không lo phòng thủ. Nhưng dù với ý nào thì cũng nhằm diễn đạt một ý nghĩa chung nhất là: Vua Hùng không lo phòng bị, nên khi nhà Ân Thương tập trung quân lực tấn công ồ ạt thì quân lực ở các bộ không đủ sức chống cự. Và lãnh thổ Văn Lang đã bị thu hẹp như phần trên đã trình bày.
Khi quân Ân Thương đánh sâu vào lãnh thổ Văn Lang, nhà vua mới cho sứ giả đi các nơi triệu tập người hiền tài ra giúp nước và đã được Đức Phù Đổng Thiên Vương hiện thân giúp đỡ. Hình ảnh sứ giả đi tìm người hiền khắp nơi, phải chăng đó là hình ảnh triệu tập quân đội các bộ còn lại cùng chống giặc (theo giả thuyết về tổ chức hành chính và quân sự dưới thời Hùng Vương đã trình bày ở trên). Từ giả thuyết này cũng đặt một vấn đề: thủ đô Văn Lang chưa hẳn đã ở Việt Trì, mà thay đổi tùy theo chi tộc ở 15 bộ cầm quyền. Việt Trì có thể chỉ là thủ đô cuối cùng của Văn Lang.
Với giả thuyết về tổ chức xã hội Văn Lang, giải thích sự việc đời Hùng Vương thứ VII đã thay thế Hùng Vương thứ VI, khi chi tộc này đã gây nên sự thu hẹp lãnh thổ lần thứ nhất của Văn Lang. Theo truyền thuyết thì vua Hùng thứ VI triệu tập các con lại tổ chức việc thi tài để truyền ngôi. Nhưng với giả thuyết về tổ chức xã hội thời Hùng Vương: “Thủ lĩnh các bộ bầu một người trong số các thủ lĩnh đại diện cho các chi tộc nắm quyền điều hành chung”, “Tùy theo nhu cầu phát triển chung mà chi tộc đó có khả năng đáp ứng” thì có thể giải thích đoạn trên của truyền thuyết “Bánh Chưng Bánh Dầy” là một cuộc triệu tập hội đồng các thủ lĩnh Bách Việt ở các bộ để bầu thủ lĩnh mới. Để minh họa cho giả thuyết này, xin được trình bày một tư liệu của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá. Tư liệu này được trích dẫn lại trong bài “Văn hóa tâm linh - đất tổ Hùng Vương” của tác giả Hồng Tử Uyên, trong tạp chí Nguồn Sáng số 23, trong dịp lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương 1998. Trong lần tái bản này, người viết cũng căn cứ vào tư liệu đã công bố của cụ Biệt Lam, để bổ sung những thiếu sót và so sánh những sai biệt trong tư liệu trích dẫn từ tạp chí “Nguồn Sáng” của lần xuất bản trước):

Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm các truyền thuyết thư tịch cổ, các ngọc phả các xã quanh vùng có đền thờ các vua Hùng như xã Hy Cương (Vĩnh Phú) hiện lưu trữ tại Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng, Bộ Văn Hóa (số liệu HT.AE9) thì các tài liệu này không ghi chép là 18 đời vua Hùng mà lại ghi là 18 chi. Mỗi chi gồm nhiều đời vua, có cả năm can - chi lúc sanh và lúc lên ngôi. Các đời vua trong một chi đều lấy hiệu của vua đầu chi ấy.
Mười tám chi ấy như sau:
1. Chi Càn: Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr.TL) lên ngôi năm 41 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.TL) đến Đinh Hợi (2794 tr.TL). So ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng. (?)
2. Chi Khảm: Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr.TL) lên ngôi 33 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tí (2793 tr.TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr.TL) ngang với Trung Quốc vào thời Hoàng Đế (Ngũ Đế).
3. Chi Cấn: Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr.TL) lên ngôi khi 18 tuổi. Không rõ truyền mấy đời vua đều xưng là Hùng Quốc Vương. Từ năm Đinh Tỵ (2524 tr.TL) đến năm Bính Tuất ( 2253 trc. Tl) Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Thuấn, Hữu Ngu.
4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2254 tr.TL) không rõ truyền mấy đời vua đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr.TL) đến Mậu Thìn (1918 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ.
5. Chi Tốn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr.TL) lên ngôi khi năm 59 tuổi. Không rõ truyền mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hy Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr.TL) đến Mậu Tí (1713 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ.
6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.TL), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền hai đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương.
7. Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr.TL) lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tất cả 200 năm từ năm Canh Tuất (1631 tr.TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương.
8. Chi Đoài: Hùng Vĩ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr.TL) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vĩ Vương, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương.
9. Chi Giáp: Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr.TL), lên ngôi khi 45 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Định Vương, ở ngôi tất cả 80 năm, từ năm Canh Ngọ (1251 tr.TL) đến Kỷ Hợi (1162 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.
10. Chi Ất: Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287 tr.), lên ngôi khi 37 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Uy Vương, ở ngôi tất cả 90 năm, từ năm Canh Ngọ (1251 tr.TL) đến Kỷ Hợi (1162 tr.TL) ngang với Trung Quốc thời Tổ Giáp nhà Ân.
11. Chi Bính: Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr.TL) lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Trinh Vương, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tí (1161 tr.TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr.TL) Ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu.
12. Chi Đinh: Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr.TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương ở ngôi tất cả 96 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr.TL) đến Nhâm Tuất (969 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Mục Vương nhà Tây Chu.
13. Chi Mậu: Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr.TL) lên ngôi khi 23 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, ở ngôi tất cả 105 năm, từ năm Quý Hợi (958 tr.TL) đến Đinh Mùi (854 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.
14. Chi Kỷ: Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr.TL) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Anh Vương, ở ngôi tất cả 99 năm, từ năm Mậu Thân (755 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu.
15. Chi Canh: Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr.TL), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Triệu Vương, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr.TL) đến năm Canh Thân (661 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu.
16. Chi Tân: Hùng Tạo Vương (Thần phả xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, ghi đời thứ 16 là Hùng Tạo Vương, đóng ở Việt Trì, có thạch tướng quân đánh tan giặc Man, vua phong làm Chuyển Thạch Tướng Đại Vương – “Người anh hùng làng Dóng”, Cao Xuân Đỉnh, Nxb KHXH, 1969 tr.126 – 130), húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr.TL) lên ngôi khi 53 tuổi, truyền 3 đời vua,tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr.TL) đến Nhâm Thìn (569 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu.
17. Chi Nhâm: Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr.TL), lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Nghị Vương, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr.TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr.TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu.
18. Chi Quý: Hùng Duệ Vương, huý Huệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr.TL), lên ngôi khi 14 tuổi, truyền không rõ mấy đời vua (có lẽ 3 đời), vì ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội có bài vị “Tam Vi Quốc Chúa”, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr.TL) đến Quý Mão (258 tr.TL). Ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu, Trung Quốc.

Đây là một tư liệu chứng minh cho sự tồn tại trên thực tế thời Hùng Vương kéo dài 2622 năm (Từ 2879 tr.CN đến 258 tr.CN). Tuy nhiên, như lời giới thiệu đã trình bày: việc sử dụng tư liệu trong cuốn này, không phải để minh chứng cho thực trạng xã hội Văn Lang, mà chỉ để minh họa cho giả thuyết được trình bày, dựa vào sự phân tích những truyền thuyết phổ biến còn lại đến ngày nay. Trong lần tái bản này, người viết cũng căn cứ vào tài liệu của cụ Trần Huy Bá, bổ sung thêm chi thứ 10 của “ Ngọc phả Hùng Vương“.
Như vậy, với giả thuyết về tổ chức xã hội thời Hùng Vương dẫn đến việc thay đổi cụm từ đã sai lệch với thời gian là “18 đời Hùng Vương”, trở về với đúng nghĩa của nó là “18 Thời Hùng Vương”. Cụm từ này tự nó đã giải thích cho sự tồn tại gần 3000 năm cho xã hội Văn Lang một cách hoàn toàn hợp lý và giải quyết được mâu thuẫn về niên đại của thời Hùng Vương kéo dài gần 3000 năm với tuổi sinh học của 18 đời Hùng Vương như trước đây đã quan niệm.
Với giả thuyết cho rằng “18 Thời Hùng Vương” liên tiếp trị vì đất nước gần 3000 năm, sẽ giải thích được việc thờ 18 vị vua Hùng là tổ tiên người Việt. Do tục thờ tổ tiên chỉ thờ một người khai sáng đầu tiên, không thể thờ 18 đời nối tiếp đều là Tổ. Nhưng với 18 thời Hùng Vương thì việc thờ 18 vị vua khai sáng đầu tiên của 18 thời Hùng Vương có công phát triển và ổn định đất nước là hợp lý. Đồng thời cũng giải thích luôn việc 18 chi của họ Hồng Bàng thay nhau cầm quyền trên đất nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt mà tư liệu của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá đã nói tới. Đây cũng là một chi tiết trùng hợp với truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên”: vua Hùng chia các em đi cai trị khắp nơi, tức là thủ lĩnh các bộ đều thuộc các chi của Hùng tộc.
Như vậy, với giả thuyết về tổ chức xã hội Văn Lang thì đó là một nhà nước có ý nghĩa về mặt lãnh thổ và sự đồng nhất về văn hóa, chính trị hơn là một nhà nước có quyền lực tập trung về mọi mặt như thời Tần - Hán ở bên Trung Quốc, hoặc như các nhà nước phong kiến của Việt Nam thời hưng quốc như Đinh, Lê, Lý, Trần...

Hồng phạm cửu trù - Bản hiến pháp cổ nhất của dân Lạc Việt

Hồng phạm cửu trù là một trong 58 thiên còn sót lại của kinh Thư và là một thiên quan trọng được coi là “... giàu tính lý luận nhất, biểu hiện tương đối đầy đủ hệ thống lý luận, chính trị nhà Nho.” (Kinh Thư diễn nghĩa - Lê Quý Đôn - Nxb T/p Hồ Chí Minh 1993 - Dịch giả: Ngô Thế Long, Trần Văn Quyền). Từ hơn 2000 năm nay các nhà nghiên cứu lịch sử, lý học Đông phương đều cho rằng Hồng phạm cửu trù là trước tác của vua Đại Vũ. Cổ thư Trung Hoa viết: khi vua Đại Vũ đi trị thủy, đến sông Lạc gặp một con rùa thần nổi lên. Trên mai rùa có những vòng tròn đen, trắng gọi là Lạc thư (sách ở sông Lạc). Ngài bèn dựa vào đó trình bày 9 phạm trù lớn (tức Hồng phạm cửu trù) rồi diễn giải 9 phạm trù đó để lưu truyền cho đời sau. Khi Vũ Vương (Chu Vũ Vương - người viết) đã đánh được nhà Thương, đến hỏi đạo trời ở Cơ Tử. Cơ Tử bèn đem đạo trời đó báo cho Vũ Vương.
Trong Hồng phạm cửu trù có những chi tiết khiến cho người đọc cảm tưởng hoàn toàn thuộc về trước tác của nền văn minh Hoa Hạ và không thuộc về Văn Lang. Những đoạn sau đây thuộc trù thứ 3: “Bát Chính” trong Hồng phạm (Lịch sử triết học phương Đông - Nxb T/p Hồ Chí Minh - sách in lần thứ hai của Gs. Nguyễn Đăng Thục):

... Ví như ông Nghiêu nhường ngôi cho ông Thuấn dặn dò ngay:
“Thiên chi lịch số tại nhĩ cung. Doãn chấp quyết trung (162b) = cái lịch trình vận hành thứ tự của vũ trụ thì ở tại nơi bản thân mi. Hãy nắm giữ lấy cái trung tâm ấy”
Vua Thuấn cũng lấy lời ấy bảo ông Vũ: “Thuấn diệc dĩ mệnh Vũ”

(Hồng Phạm)

Nhưng trong sách Luận ngữ cũng có câu này (Đại cương triết học Trung Quốc - sách đã dẫn):

Theo sách Luận ngữ (Thiên Nghiêu viết) thì hai chữ “chấp trung” (giữ đạo trung) xuất hiện từ đời vua Nghiêu. Vua Nghiêu truyền cho vua Thuấn như sau:
“Này Thuấn ơi, số trời đã ở tại thân anh (nghĩa là trời đã cho anh trị dân) thì anh nên tin chắc mà giữ lấy đạo trung (để cho dân trong bốn bể được thái bình); nếu dân trong bốn bể mà khốn cùng thì cái lộc trời cho anh sẽ mất luôn đấy. Vua Thuấn cũng lấy lời đó truyền lại cho vua Vũ”. (Thiên Nghiêu viết: Tư nhĩ Thuấn, thiên chi lịch số tại nhĩ cung, doãn chấp kỳ trung; tứ hải khốn cùng, thiên lộc vĩnh chung. Thuấn diệc dĩ mệnh Vũ).
Không biết truyền thuyết đó có đúng không; điều chắc chắn là người đề cao đạo Trung Dung là Khổng tử. Đạo có truyền do Tăng tử nên được chép trong Luận ngữ, rồi Tăng tử lại truyền cho Khổng Cấp tức Tử Tư (cháu đích tôn của Khổng tử), sau cùng Mạnh tử bàn cho rộng thêm.
Tư Mã Thiên trong bộ “Sử ký” bảo rằng sách Trung Dung do Tử Tư viết và các học giả đời sau đều tin như vậy. Nhưng gần đây, một số học giả xét nội dung hiện nay của sách đó ngờ rằng nếu có thực là do Tử Tư chép thì cũng có một số triết gia ở thời Chiến quốc và đầu đời Hán sửa đổi khuếch sung thêm và phần sau của sách bàn về đức thành nhất định không phải là của Tử Tư.

Như vậy, trong Luận ngữ thì vua Thuấn truyền cho vua Vũ đạo Trung Dung nhưng trong Hồng phạm thì để chỉ nắm lấy lịch số - thật là khó hiểu.
Để bạn đọc tiện việc tham khảo và minh xác quan niệm cho rằng: “Hồng phạm cửu trù” là trước tác của người Lạc Việt, xin được trích lại phần: “Tóm tắt thiên Hồng Phạm trong chính văn kinh Thư” (bản tóm tắt này do dịch giả cuốn Kinh Thư diễn nghĩa, sách đã dẫn, thực hiện):

Tóm tắt thiên Hồng phạm cửu trù trong chính văn kinh Thư:

A. Theo lời văn Hồng phạm nói: “Vũ Vương đánh thắng nhà Ân giết vua Trụ mời Cơ tử về làm ra thiên Hồng phạm” - và lời Cơ tử nói: “Trời cho vua Vũ có Hồng phạm cửu trù” thì:
1 - Hồng phạm là sách trời cho vua Vũ (do trị thủy bắt được con rùa, trên mai có ghi rõ?)
2 - Sách ấy có 9 “trù” (nói theo ngày nay: là 9 loại, hay 9 khái niệm bao quát nhất, cũng có thể gọi là phạm trù [Cathégori])
3 - Nội dung của 9 phạm trù đó là khái quát toàn bộ học thuyết về chính trị, về quản lý xã hội của đời Ân Thương.

B. Nội dung cụ thể của từng “trù” như thế nào?
1 - Ngũ hành: (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ): đó là khái quát (gọi gộp) các vật liệu mà dân phải dùng đến hay là những đối tượng con người phải chinh phục.
2 - Ngũ sự (Mạo, Ngôn, Thị, Thính, Tư)
Mạo: dung mạo - phải luôn cung kính
Ngôn: lời nói - phải theo lẽ phải
Thị: mắt trông - phải sáng suốt
Thính: tai nghe - phải rõ ràng
Tư: suy nghĩ - phải sâu sắc
Tóm lại: 5 cử chỉ đó là con người có tài, khôn ngoan sáng suốt.
3 - Bát chính: (Tám vấn đề chính sự phải lo làm)
a) Thực: cái ăn uống của người dân
b) Hóa: tiền của xã hội
c) Tự: việc tế tự
d) Tư không: việc công chính
e) Tư đồ: việc giáo dục
f) Tư khấu: việc an ninh
g) Tân: việc ngoại giao
h) Sự: việc quân sự
4 - Ngũ kỷ gồm: năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số. Tóm lại là vấn đề thiên văn và chế tạo lịch để có căn cứ điều hành các việc hành chính và nông nghiệp.
3 - Hoàng cực: Ngôi vua
Người làm vua phải dựng nên mực thước cho dân theo. Mực thước ấy là:
- Không thiên lệch, không bè đảng.
- Ai có mưu hay, có công lao thì vua phải nhớ.
- Ai chưa thánh thiện, nhưng không tội lỗi thì vua cũng thu dùng.
- Ai thực thành đức tốt thì vua cho tước lộc.
- Không bắt nạt người cô độc, yếu thế, nếu họ lương thiện thì nên khuyến khích.
- Kẻ có chức vị mà bất thiện thì răn bảo, đừng nể nang.
- Khuyến khích người tài làm việc thì nước được thịnh vượng.
- Người giàu thì khuyến khích họ làm điều từ thiện.
- Không ban bổng lộc cho bọn bất lương.
Tóm lại: đó là lẽ “Công bằng chính trực” mà vua phải theo và cũng là việc người lãnh đạo phải làm - mà làm như thế là theo ý trời.
6 - Tam đức: (ba cách đối xử) ngay thẳng, cương, nhu.
- Bình thường thì đối xử thẳng thắn.
- Gặp kẻ cương ngạnh thì phải cứng rắn.
- Đối với bậc cao minh hay kẻ ôn hòa thì phải “nhu”.
Bổ sung thêm: Vua nắm quyền tối cao, toàn diện - chỉ có vua mới được làm oai ban phúc (cương nhu). Chỉ có vua có quyền, kể cả quyền cắt đứt sinh mạng con người. Chỉ vua mới được dùng đồ ăn ngon, bầy tôi thì không được. Nếu bầy tôi và dân thường cũng tự do cho mình có quyền đó thì rối loạn
(phần bổ sung này do người dịch hoặc tác giả thêm vào, không phải chính văn Hồng Phạm - người viết).
7 - Kê nghi: vấn đề bói (để biết ý trời và giải quyết khi có sự hổ nghi do dự. Đây là biện pháp làm việc thời cổ. Các cách bói; việc hỏi ý kiến đa số (quan và dân).
8 - Thứ trưng: các “điềm trời”
- Mưa nhiều: vua làm việc rồ dại
- Nắng nhiều đại hạn: vua sai lầm
- Nóng nhiều: lười biếng
- Rét nhiều: làm việc tính cách nóng nảy
- Gió nhiều: ngu tối
Ngược lại: nghiêm trang, sáng suốt, chính sự tốt thì mưa gió phải thì v.v... (đây là tư tưởng siêu hình).
9 - Ngũ phúc và lục cực:
Ngũ phúc là kết quả tích cực của đạo đức và chính trị, còn lục cực là kết quả của tiêu cực của cái đó.
- Ngũ phúc gồm: thọ (sống lâu), phú (giàu), khang ninh (mạnh khỏe), du hảo đức (đức tốt), khảo chung mệnh (sống thoải mái đến già).
- Lục cực (6 điều khổ cực gồm):
1. Hung đoản: (chết) tử nạn, chết non.
2. Tật: bệnh
3. Ưu: buồn
4. Bần: nghèo
5. Ác: ác nghiệt, xấu
6. Nhược: yếu, nhu nhược

Qua phần tóm tắt trên thì trù thứ nhất trong Hồng phạm cửu trù là Ngũ hành. Chính vì Hồng phạm cửu trù được gán ghép cho vua Đại Vũ với dấu ấn của Ngũ hành nên đã được coi như một bằng chứng chứng tỏ thuyết Ngũ hành do vua Đại Vũ - vị vua đầu tiên khai sáng nhà Hạ - phát hiện và thuộc về nền văn minh cổ Trung Hoa. Nhưng Ngũ hành trong Hồng phạm cửu trù chỉ xuất hiện như một hiện tượng, không phải là một học thuyết.
Như phần trên đã chứng minh ở chương I: thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Văn Lang đã phát hiện ngay từ buổi đầu lập quốc và Lạc thư - Hà đồ chính là những tiền đề đầu tiên khởi nguyên cho nền văn minh Văn Lang kỳ vĩ. Sự gán ghép khiên cưỡng Hồng phạm cửu trù với dấu ấn của Ngũ hành cho vua Đại Vũ đã chứng tỏ tính phi lý của nó: Vua Đại Vũ không phát hiện ra thuyết Ngũ hành, vì sự vận động của nó vốn có ngay trong Lạc thư - Hà đồ vốn là nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành ứng dụng trong việc quan sát thiên văn, thì ngài lại không phát hiện ra điều đó; mặc dù theo truyền thuyết thì vua Đại Vũ phát hiện ra Lạc thư và Hồng phạm cửu trù. Ngược lại, Ngũ hành trong Hồng phạm cửu trù chỉ là sự ứng dụng của nó trong việc điều hành đất nước thì lại được coi là bằng chứng của sự phát hiện ra học thuyết này. Trường hợp phi lý trên xin được minh họa rõ hơn là: người ta đã sử dụng chiếc bằng lái xe để chứng tỏ sự phát minh ra cái xe. Đây cũng là trường hợp của vua Phục Hy khi truyền thuyết cho rằng ngài đã dựa vào Hà đồ để làm ra Bát quái với vạch đứt là Âm, vạch liền là Dương. Nhưng Âm Dương Ngũ hành nằm ngay trong độ số của Hà đồ với sự vận động vi diệu, thì ngài lại không nói đến điều đó, mà phải đợi đến gần 3000 năm sau – đến thời Khổng tử – mới đưa ra ý niệm mơ hồ về Âm Dương? Hơn nữa, nếu quả thật Ngũ hành có từ thời vua Đại Vũ và đã từng được ứng dụng trong việc điều hành xã hội, thì thật là vô lý khi hơn 1000 năm sau đó, các học giả thời Xuân Thu – Chiến quốc lại không hề có trước tác nào nói về Ngũ hành, kể cả ngài Khổng tử.
Về xuất xứ mơ hồ của Hồng phạm cửu trù trong truyền thuyết Trung Hoa, đã chứng tỏ sự gán ghép khiên cưỡng trước tác này cho vua Đại Vũ. Nếu như Lạc thư được ghi trên lưng con rùa nổi ở sông Lạc, mặc dù đã mơ hồ nhưng còn có địa điểm. Còn đối với con rùa bắt được trên lưng ghi Hồng phạm cửu trù thì không biết ở đâu?
Việc Cơ tử nói vua Vũ Vương: Trời cho vua Vũ (Đại Vũ) Hồng phạm cửu trù, tức là vua Vũ không phải là người trước tác ra nó.
Tương truyền kinh Thư (gồm Hồng phạm cửu trù) do Khổng An Quốc cháu 12 đời của Khổng tử viết lại vào thời Hán Cảnh Đế, trên cơ sở một cuốn kinh Thư viết bằng cổ văn trong vách nhà của Khổng tử, như đã trình bày ở phần trên. Như vậy, cuốn kinh Thư này đã viết lại trên cơ sở chắp vá những tư liệu cổ còn sót lại và gán ghép một cách khiên cưỡng.
Những học giả hiện đại của Trung Quốc trong những công trình nghiên cứu của họ, như Phùng Hữu Lan đã viết:

[1968 - 141] “Về thời đại thật của thiên Hồng phạm cửu trù thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay thứ III Tr.CN” tức là thời điểm muộn lắm rổi”. (Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam – sách đã dẫn).

Thời điểm mà ông Phùng Hữu Lan nói tới, tương đương với thời điểm tướng Đồ Thư của nhà Tần tấn công Bách Việt và sự diễn biến của thời gian lịch sử sau đó là Văn Lang - Âu Lạc mất nước. Với thời điểm nói trên thì Hồng phạm cửu trù không có cơ sở tồn tại trên thực tế lịch sử Trung Hoa, như là một chính sách chủ đạo được thực hiện để điều hành xã hội. Vào thế kỉ thứ IV và thứ III Tr.CN, nước Trung Hoa bước vào giai đoạn cuối thời kỳ Chiến quốc với những cuộc chiến đẫm máu và tàn khốc để tranh giành quyền lực, chiến thắng cuối cùng thuộc về Tần Thủy Hoàng. Lịch sử Trung Quốc trước và sau thời gian đó, cũng không hề ghi nhận một triều đại nào ứng dụng Hồng phạm cửu trù vào việc điều hành đất nước. Tất cả những sự phi lý và mâu thuẫn đã trình bày ở trên, đã chứng tỏ: Hồng phạm cửu trù thuộc về trước tác của người Lạc Việt qua dấu vết của Ngũ hành. Từ thuyết Âm Dương Ngũ hành đã dẫn đến việc tìm hiểu sự vận động của vũ trụ mà tiền đề của nó là Lạc thư - Hà đồ cửu cung. Sự sắp xếp cửu trù theo cửu cung Lạc thư, đã khẳng định thuyết Âm Dương Ngũ hành là học thuyết chính thống của Văn Lang thể hiện ở bánh Chưng – bánh Dầy và sự ứng dụng những quy luật vũ trụ trong việc điều hành đất nước. Đó là lý do trù thứ nhất, khởi nguyên của Hồng phạm cửu trù thể hiện Ngũ hành. Mười lăm bộ của đất nước Văn Lang mà truyền thuyết nói đến chính là tổng độ số cộng ngang dọc chéo của cửu cung Lạc thư, chứng tỏ điều này.
Nội dung Hồng phạm cửu trù được gắn liền với hình ảnh con rùa, bởi vì thời đó ông cha ta đã viết trên mai con rùa những văn bản quan trọng (“giống rùa lớn chỉ ở miền Nam sông Dương Tử mới có”. Xin xem thêm phần: “Phương tiện chuyển tải chữ viết của nền văn minh Văn Lang” - chương IV: Truyền thuyết Trầu Cau). Có thể khi nhà Ân Thương lấn chiếm những phần đất của Văn Lang đã lấy được những mai rùa này; hoặc do chính nhà Tần (hay Hán) khi đánh chiếm Bách Việt đã lấy được, nên sau đó người Trung Hoa đời sau đã sử dụng từ khi Văn Lang - Âu Lạc mất nước (có thể đây chính là nguyên nhân để các nhà nghiên cứu Trung Hoa cho rằng: Hồng phạm cửu trù xuất hiện vào thế kỷ thứ III tr.CN).
Hồng phạm cửu trù đúng với nghĩa của từ này là: những quy định của họ Hồng Bàng với chín mục đích phải đạt tới trong việc điều hành đất nước. Chỉ có họ Hồng Bàng – hoàng tộc lãnh đạo đất nước Văn Lang – với thuyết Âm Dương Ngũ hành được coi là hệ tư tưởng chính thống, mới đủ tư cách coi Hồng phạm cửu trù là hình thái ý thức chủ đạo trong việc hoàn chỉnh chính sách thuộc lĩnh vực chính trị xã hội.
Hồng phạm cửu trù được chứng tỏ là trước tác của các học giả Lạc Việt bổ sung cho giả thuyết về tổ chức xã hội Văn Lang. Theo giả thuyết này: Người lãnh đạo tối cao (Hùng Vương) do hội đồng thủ lĩnh bầu lên, thì tất nhiên phải có những phạm trù làm chuẩn mực cho vai trò chúa tể của các thủ lĩnh với những công việc phải làm. Dấu ấn của Hồng phạm cửu trù còn được nhắc tới trong một truyền thuyết nổi tiếng từ thời Hùng Vương là “Sơn Tinh Thủy Tinh”. (xin được chứng tỏ ở chương VIII).
Một dấu chứng nữa khẳng định Hồng phạm cửu trù là trước tác chính trị thuộc văn minh Văn Lang chính là dấu ấn của ngôi Hoàng Cực - ngôi thủ lĩnh tối cao - nằm ở trung cung thuộc hành Thổ, sắc vàng trong Hà đồ cửu cung với độ số là 5 - 10 (xin xem hình vẽ sau) đó chính là ngày giỗ Tổ Hùng Vương của người Lạc Việt.

Dù ai đi ngược về xuòi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười, tháng ba

Tháng ba là tháng Thìn - Rồng, thể hiện sức mạnh vũ trụ, biểu tượng của vương quyền, chính là tháng thứ 5 kể từ tháng Tý (bắt đầu từ tháng 11 năm trước, tính theo Âm lịch) ứng với độ số Dương 5 trong Hoàng Cực. Ngày 10 ứng với độ số Âm 10 trong Hoàng Cực. Xin xem đồ hình minh hoạ dưới đây:

Ngày là con của Tháng. Tháng có trước thuộc Dương, Ngày có sau thuộc Âm. Bởi vậy, lấy số Dương 5 làm tháng (tháng Ba là tháng thứ năm, kể từ tháng Tí), lấy số Âm 10 làm ngày. Độ số 5,10 thuộc trung cung Hoàng Cực của Hà đồ làm biểu tượng của vương quyền. Đó là nguyên lý của ngày giỗ tổ Hùng Vương.
Ngày giỗ Tổ liên quan đến tháng Thìn - Rồng, còn chứng tỏ: Rồng, biểu tượng của vương quyền có xuất xứ từ nền văn minh Văn Lang, chứ không phải từ nền văn minh Trung Hoa. Có thể nói rằng dân tộc đầu tiên trong cổ sử nhân loại dùng hình ảnh Rồng làm biểu tượng cho quyền lực tối cao là người Lạc Việt. Lạc Long Quân có nghĩa là vua Rồng Lạc Việt – lãnh tụ nước Xích Quỷ – tiền thân của quốc gia Văn Lang, quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt có cách đây hơn 5000 năm, tổ tiên của dân tộc Việt Nam hiện nay. Rồng không những là một biểu tượng của điềm lành mà còn là biểu tượng của Hoàng đế đầu tiên lập quốc của dân tộc Việt.
Trong những cổ thư của Trung Hoa trước Hán, không thấy một vị Hoàng đế nào sử dụng Rồng làm biểu tượng. Có lẽ cuốn sách xưa nhất nhắc đến biểu tượng Rồng thuộc về nhà vua là Sử ký của Tư Mã Thiên – Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ – trong đoạn trích dẫn sau đây:

“Mùa thu, sứ giả đang đêm từ Quan Đông đi qua Hoa Âm, trên đường Bình Thư. Có người cầm ngọc bích chặn đường sứ giả mà nói:
- Ông làm ơn đưa viên ngọc này cho Hạo Trì.
Nhân đấy nói rằng: năm nay thì Tổ Long chết.
Sứ giả hỏi: Tại sao?
Người ấy biến mất. Để lại viên ngọc bích ở đấy. Sứ giả cầm ngọc bích kể lại đầu đuôi cho người ta nghe, Thuỷ Hoàng nín lặng hồi
lâu nói:
- Quỷ núi chẳng qua chỉ biết việc xảy ra trong một năm mà thôi.
Khi vào cung nói:
- Tổ Long (*) đó là tổ tiên của người.

(*) Chú thích trong sách: Tổ là đầu cũng như thuỷ. Long chỉ nhà vua. Tổ Long cũng như Thuỷ Hoàng.

Như vậy cho đến đời nhà Tần, Rồng chưa phải biểu tượng của vương quyền. Việc gọi “Tổ Long” để chỉ Tần Thuỷ Hoàng, xuất phát từ ý tưởng trong dân gian qua nhân vật “Quỷ núi”. Có thể nói rằng: các hoàng đế Trung hoa sử dụng Rồng làm biểu tượng, rất muộn sau Tần.
Qua phần chứng minh trên đã chứng tỏ: Hồng phạm cửu trù chính là bản hiến pháp đầu tiên của người Lạc Việt. Sự chứng minh này cũng chứng tỏ Văn Lang là một quốc gia hoàn chỉnh với tất cả những yếu tố của nó.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sai lệch giữa độ số Ngũ hành trên Hà Đồ và độ số Cục trong Tử vi đẩu số. Một yếu tố củng cố thêm giả thuyết cho rằng: Trần Đoàn lão tổ ...

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” – Sự khẳng định nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành và Lạc thư – Hà đồ: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu ...

Lạc thư – Hà đồ. Tiền đề của khoa Thiên văn học thời Hùng Vương: Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ giới hạn ở việc giải thích sự hình thành vũ ...

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...