Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1

Ngày đăng: Thứ hai 02/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Do đo, hoàn toàn có khả năng bắt đầu từ Ân Thương trở về sau, dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành có thể xuất hiện trong nền văn minh Trung Hoa. Nhưng đó chỉ là sự tiếp thu không hoàn chỉnh học thuyết này của Văn Lang, cho nên học thuyết này không được phổ biến và công nhận như một ý niệm chính thống trước khi Văn Lang bị đô hộ hoàn toàn. Đó cũng là nguyên nhân của sự huyễn ảo của học thuyết này cho đến tận bây giờ.
Các nhà Lý học từ thời Tần Hán về sau nói đến thuyết Âm Dương có từ thời Phục Hy, với dẫn chứng trong quẻ Dịch của Phục Hy: “Vạch liền là Dương, vạch đứt là Âm”, thực ra chỉ là sự gán ghép khiên cưỡng. Bởi vì phạm trù của thuyết Âm Dương Ngũ hành rất rộng, bất cứ sự vật, sự việc lớn nhỏ nào trong thiên nhiên, xã hội và con người cũng thể hiện hiện tượng của Âm Dương. Nhưng có hay không một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về Âm Dương lại là một vấn đề khác. Mặc dù trong phương pháp làm lịch từ thời Ân Thương có sử dụng thập Thiên can và thập nhị Địa chi (Sử Trung Quốc - sách đã dẫn - trang 55. Như vậy, vào thời kỳ này thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được ứng dụng?), nhưng nó chỉ là sự ứng dụng một hệ quả của phương pháp có sẵn, chứ không phải chứng tỏ sự phát minh ra một học thuyết.
Yếu tố đáng lưu ý nữa là sự xuất hiện của các học thuyết thuộc văn minh Trung Hoa cổ - từ trước thời Xuân Thu Chiến quốc kéo dài đến cuối Hán - nhằm lý giải một ý niệm vũ trụ quan, đã thể hiện một sự quan sát không hoàn chỉnh. Đó là những thuyết:

Cái Thiên - Theo sách Lã Thị Xuân Thu (thời Xuân Thu Chiến quốc) thì thuyết này cho rằng: Trời là nửa hình tròn, Đất là cái bát để ngửa. Trời cách Đất tám vạn dặm. Trời Đất là hai vòng tròn đồng tâm. Sao Đại Hùng ở giữa trời, con người ở giữa đất. Mưa rơi xuống đất tỏa khắp bốn phương trở thành biển và lục địa. Trời tròn, Đất vuông. Trời giống như cọ xát với mặt Trời, mặt Trăng và xoay về phía bên phải. Bản thân mặt Trời, mặt Trăng vận động quay về phía bên trái.
Hồn Thiên - Căn cứ vào sách sử ghi chép đầu thời Hán, Lạc Hạ Hoằng Đề đề xuất chủ trương này. Đến cuối thời Hán thuyết Hồn Thiên được tiếp thu và mở rộng hơn thuyết Cái Thiên

(Theo Chu Dịch Vũ trụ quan - sách đã dẫn).

Sự thô sơ của thuyết Hồn Thiên & Cái Thiên được gán cho bánh chưng, bánh dầy. Nó lý giải được bánh chưng vuông và bánh dầy tròn. Nhưng oái oăm thay! Nó lại không lý giải được sự khác nhau giữa cái bánh dầy và đĩa xôi lạc.
Sự xuất hiện và tồn tại lâu dài của những học thuyết lý giải vũ trụ quan một cách thô sơ thuộc văn minh Tần Hán và trước đó dẫn chứng ở trên, đã chứng tỏ rằng: Nếu Dịch học là học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh từ hơn 2000 năm tr.CN; có nghĩa là gồm từ việc lý giải bản nguyên của vũ trụ là Thái cực sinh Âm Dương và sau đó là Bát quái như từ trước đến nay vẫn quan niệm, thì không thể còn chỗ trống để phát sinh và phát triển những học thuyết về vũ trụ quan thô sơ như thuyết Cái Thiên và Hồn Thiên. Điều này cũng chứng tỏ: từ trước thời Xuân Thu Chiến quốc, nền văn minh chính thống của Trung Hoa chưa có học thuyết giải thích việc hình thành vũ trụ.
Kinh Dịch chỉ là một phương pháp ứng dụng. Những ý niệm vũ trụ quan trong kinh Dịch hết sức mơ hồ, không thể coi là một học thuyết hoàn chỉnh. Vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản, nên mọi phương pháp ứng dụng liên quan đến học thuyết này đều ở trong trạng thái huyền bí (*).

* Chú thích: Trong sách này vì chủ đề không nói về kinh Dịch, vì vậy người viết vẫn theo cách nhìn quen thuộc từ hơn 2000 năm nay coi kinh Dịch có xuất xứ từ văn minh Hoa Hạ. Người viết cho rằng Bát quái của kinh Dịch là những ký hiệu, một siêu công thức thể hiện sự vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Kinh Dịch có những dấu ấn chứng tỏ xuất xứ từ văn minh Văn Lang. Điều này đã trình bày trong sách “ Tìm về cội nguồn kinh Dịch” (Nxb VHTT 2002.Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa và bổ sung).

Như vậy, từ trước thời Xuân Thu, so sánh quan điểm vũ trụ quan của văn minh Trung Hoa với văn minh Văn Lang thể hiện ở bánh chưng, bánh dầy, thì văn minh Văn Lang ngay từ buổi đầu lập quốc đã có một hệ thống vũ trụ quan hoàn chỉnh; giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến sự vận động của nó trong mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và con người. Văn minh Trung Hoa từ thời Xuân Thu mới xuất hiện “Đạo Đức kinh” của Lão tử là hệ thống ý niệm vũ trụ quan và nhân sinh quan đáng chú ý, nhưng chưa hoàn chỉnh (Đạo Đức kinh của Lão tử cũng là một vấn đề cần phải xem xét, vì những dấu ấn liên quan đến văn minh Văn Lang. Xin coi Chương V: “Sự tích Đầm Nhất Dạ”). Chỉ có từ thời Hậu Hán về sau, khi nước Văn Lang – sau đó là Âu Lạc - bị đô hộ hoàn toàn thì, quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang là thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng của nó, mới được các nhà Lý học thuộc văn minh Hoa Hạ nghiên cứu. Đây cũng là nguyên nhân để các nhà nghiên cứu hiện đại của Trung Hoa cho rằng: hầu hết các sách liên quan tới Âm Dương Ngũ hành đều do người thời Hán (tức là lúc Văn Lang bị tiêu diệt) trở về sau gán ghép và tự ý đặt cho nó một tác giả thời cổ (đó là nguyên nhân gây nên sự nhầm lẫn, hỗn độn đã trình bày ở trên).
Một điểm đáng chú ý nữa là: thuyết Âm Dương Ngũ hành ở Văn Lang được phổ biến bắt đầu từ tầng lớp của những người lãnh đạo đất nước (Lang Liêu, “Dẫu hèn cũng thể con vua”). Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành từ lâu đã là một học thuyết chính thống trong văn minh Văn Lang. Ngược lại, người sử dụng thuyết Âm Dương Ngũ hành sớm nhất của văn minh Trung Hoa, phần lớn thuộc về tầng lớp bình dân, mặc dù sau đó họ đều có địa vị xã hội như: Trần Bình - tể tướng thời Hán; Khổng Minh Gia Cát Lượng - tể tướng Thục thời Tam Quốc. Hiện tượng này đã giải thích: Thuyết Âm Dương Ngũ hành được lưu giữ trong dân gian vào thời bị đô hộ, nên đã được văn minh Trung Hoa tiếp thu từ hạ tầng xã hội. Nhưng đó là sự tiếp thu và phát hiện rời rạc với những nguồn gốc đầy thần bí: Rùa thần ở sông Lạc; Long mã ở sông Hoàng Hà; Xích Tùng Tử ban sách Thiên thư cho Trương Lương; thần tiên tặng bí kíp cho Khâu Đình Hàn, khiến cho học thuyết Âm Dương Ngũ hành vốn đã mờ ảo vì bị tàn phá qua thời gian tính bằng thiên niên kỷ, thêm phần huyền bí.
Xã hội Văn Lang đã khẳng định một nền văn minh trong đó hình thành một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh với sự ứng dụng rộng khắp trên nhiều lĩnh vực của tự nhiên, cuộc sống, xã hội và con người, thì cũng phải chứng tỏ một sự phát triển tương xứng ở những mặt khác của xã hội để cân đối với nó. Phần tiếp theo đây sẽ minh chứng cho điều này.

Khoa học kỹ thuật thời Hùng Vương

Phải chăng thời Hùng Vương đã sử dụng đồ sắt?

Truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” có một tình tiết đáng chú ý là: các chiến cụ của Đức Thánh Gióng đều bằng sắt. Tình tiết này đã là nguyên nhân của vấn đề: thời Hùng Vương đã có đồ sắt hay không? Để phân tích tình tiết này, trước hết xin đặt một vấn đề là: tình tiết này do người đời sau thêm vào, hay người đương thời tạo ra để mơ ước về sắt có mặt trong sinh hoạt; hay là phản ánh sự thật về kim loại sắt đã được phát hiện từ thời Hùng Vương?
@ Trong truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” những chiến cụ bằng sắt không phải là yếu tố tạo nên chiến thắng của Đức Thánh Gióng mà chủ yếu là thể hiện lòng dũng cảm của ngài và cuộc chiến dữ dội nhất của dân Lạc Việt thời cổ. Nếu Đức Phù Đổng Thiên Vương chỉ yêu cầu chiến cụ bằng đồng thì nội dung vẫn giữ nguyên giá trị. Vậy tình tiết chiến cụ bằng sắt không thể do người đời sau thêm vào.
@ Phải chăng tình tiết này thể hiện ước mơ của người Lạc Việt muốn có sắt trong cuộc sống và trong quốc phòng? Điều này chứng tỏ rằng ít nhất thời đó người Lạc Việt đã tìm ra sắt và biết đến tính năng của nó làm cơ sở để ước mơ. Nếu cho rằng ước mơ đó xảy ra vào thời Hùng Vương thứ VI - theo quan niệm mới, tương đương với 400 năm tr.CN – là lúc kỹ thuật luyện thép đã phát triển cao ở Trung Quốc cổ đại, thì ước mơ này dựa trên cơ sở đã biết tới đồ sắt do thông thương với Trung Hoa. Như vậy sẽ không lý giải được một bộ tộc Văn Lang lạc hậu lại có thể sống yên bình trước những quốc gia hùng mạnh như Ngô Việt. Còn nếu do một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, do cấu hình địa lý vào thời cổ mà Văn Lang cách biệt với văn minh của thế giới bên ngoài, thì lại không có cơ sở nào để mơ ước đến sắt. Giả thuyết cho rằng văn minh Văn Lang cách biệt với thế giới bên ngoài, sẽ không thể lý giải được một sự phát triển và tiến hóa khép kín từ thời đại đồ đá lên thời đại đồ đồng chỉ giới hạn ở Bắc Việt Nam. Đồng thời cũng không thể lý giải được sự liên hệ của Việt Vương Câu Tiễn với Vua Hùng (đã trích dẫn).
Do đó, như phần trên đã minh chứng: thời Hùng Vương thứ VI tương đương với nhà Ân Thương bên Trung Hoa. Lúc đó văn minh Trung Hoa chưa có sắt. Vì vậy, tình tiết những chiến cụ bằng sắt của Đức Thánh Gióng, chỉ có thể giải thích bằng sự phản ánh thực tế về việc dân tộc Việt đã tìm ra sắt sớm nhất trong văn minh của nhân loại. Và điều này cũng được chứng tỏ qua thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành trong đó hành Kim theo quan niệm của thuyết này có tính cứng, mạnh, nhọn, sắc và tượng của Kim màu trắng. Về tượng Kim màu trắng có thể giả thuyết cho rằng: theo thuyết này thì Kim thuộc Tây phương, tượng của sao Kim (Thái Bạch) có sắc Trắng, nên cổ nhân lấy tượng của Kim màu trắng. Nhưng cho dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì đã chứng tỏ rằng: ông cha ta thời đó không thể chỉ biết đến đồng (màu vàng) hoặc một số kim loại khác có thể phổ biến vào thời bấy giờ như: bạc, chì, thiếc. Bởi vì kim loại này tuy có sắc trắng, nhưng không thể hiện được tính cứng mạnh của Kim. Do đó, ít nhất trong suy nghĩ của những học giả đời Hùng, phải iết đến một kim loại có đầy đủ những thuộc tính của Kim rong Ngũ hành là cứng, mạnh, nhọn sắc để chứng tỏ tính thực tế của học thuyết này, đó chính là sắt. Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh ít nhất vào thời Hùng Vương thứ 6, (qua truyền thuyết “Bánh Chưng, bánh Dầy”). Có thể sắt ở thời kỳ này chỉ tồn tại dưới dạng thô sơ nhất của kỹ thuật luyện kim, đó là gang. Những tình tiết trong “Phù Đổng Thiên Vương” đã chứng tỏ điều này: lần thứ nhất, khi vua mang các chiến cụ bằng sắt đến cho ngài thì mới dùng thử đã gẫy vụn (Đây là tính chất của gang: cứng, chịu mài mòn, chịu rung, nhưng giòn và dễ gãy do tỷ lệ cacbon cao so với thép). Lần thứ hai khi ra trận, gậy sắt bị gẫy. Chiếc gậy sắt gẫy đã trở thành huyền thoại, thể hiện lòng dũng cảm và sức mạnh của Đức Thánh Gióng với ý chí quyết tâm diệt thù cứu nước của ngài. Điều này cũng đã chứng tỏ kỹ thuật luyện sắt vào thời Hùng Vương thứ VI chưa phải là một kỹ thuật cao cấp. Nhưng ít nhất thì cũng đã chứng tỏ người Lạc Việt là một dân tộc tìm ra sắt sớm nhất thế giới. Việc này cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi dân tộc Việt là một dân tộc đã biết sử dụng hợp kim vào thời kỳ này. Đó là những di vật bằng đồng đỏ (hợp kim đồng - thiếc) tìm thấy ở Ân Khư, chiến lợi phẩm trong cuộc chiến Văn Lang - Ân Thương. Điều này lý giải về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc khi kỹ thuật luyện kim đã phổ biến, thì những nước đạt đến trình độ luyện kim cao cấp nhất lại là những nước thuộc vùng đất của Văn Lang cũ như Ngô Việt. Hơn nữa, lịch sử Ai Cập cổ đại đã ghi nhận: người Ai Cập ứng dụng kỹ thuật luyện sắt vào khoảng thế kỷ thứ 9 trước CN từ người Haiiti. Như vậy, với một nền văn minh như Văn Lang có một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan lý giải từ sự hình thành vũ trụ đến mọi vấn đề liên quan đến con người, thì việc tìm ra sắt trước Ai Cập khoảng 600 năm cũng không có gì là vô lý.
Giả thiết về đồ sắt xuất hiện vào thời Hùng Vương thứ VI được bổ sung thêm qua một sự kiện của ngành khảo cổ ở một nước láng giềng có biên giới gần gũi với Văn Lang cổ. Xin được trích dẫn như sau:

Ở Thái Lan, cuộc khai quật của Gozman ở làng Bản Chiềng, trên cao nguyên Cò Rạt vào những năm 1974 – 1975 và đã phân làm 6 đoạn.
Giai đoạn I và II có niên đại theo C14 là 3600 Tr.CN đến 2900 năm Tr.CN. Sát sinh thổ có ngôi mộ nằm co, có đồ tuỳ táng là một mũi giáo bằng đồng. Có 2 mộ nằm thẳng. Một mộ có 1 vòng tay đồng; mộ khác có vòng chân đồng. Đây là những hiện vật có đồng xưa nhất ở Thái Lan và vùng Đông Nam Á (theo Gorman).
Giai đoạn III và IV, có niên đại 2000 – 1200 năm Tr.CN. Giai đoạn này chứa rất nhiều mộ táng. Trong các mộ chứa rất nhiều đồ đồng. Có 3 lưỡi giáo mũi sắt, họng đồng; 1 chiếc vòng tay bằng sắt. 1 chiếc khác bằng đồng bịt sắt ở ngoài. Hai di vật này nằm trong ống xương tay.
Giai đoạn V có niên đại 1000 – 500 năm Tr.CN. Sắt xuất hiện nhiều hơn và chế tạo các nông cụ, còn đồng đi vào lãnh vực trang trí.
Giai đoạn VI có niên đại 300 – 250 năm Tr.CN. Công cụ bằng sắt khá phổ biến.
Như vậy các cuộc khai quật ở Bản Chiềng cho thấy từ 3600 – 2900 năm Tr.CN; đồng thau xuất hiện, từ 2000 – 1200 năm Tr.CN xuất hiện các hiện vật lưỡng kim, đồng và sắt tiếp hợp. Từ 1000 – 250 năm Tr.CN sắt được dùng phổ biến để chế tạo nông cụ, đồng đã đi vào lãnh vực trang trí.

(Theo sách Thực chất của đối thoại sử học – nhiều tác giả - Nxb
Thế Giới Hà Nội năm 2000, trang 37)

Như vậy, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Ở một địa điểm khảo cổ sát ngay biên giới, hoặc thuộc về Văn Lang cổ, vào thời điểm 2000 – 1200 tr.CN, sắt đã được ứng dụng vào sinh hoạt xã hội. Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở thực tế về một khả năng sử dụng đồ sắt vào thời kỳ Hùng Vương thứ VI (khoảng 1600 – 1400 tr.CN), như truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” đã nói tới. Nếu khiên cưỡng mà cho rằng: Đồ sắt phát hiện ở Bản Chiềng – Cò rạt (Vùng Đông Bắc Thái Lan, người viết), không liên quan gì đến lịch sử thời Hùng Vương thì thật phi lý. Bởi vì, giữa miền Đông Bắc Thái Lan rất gần với miền Bắc Việt Nam (Lãnh thổ Văn Lang theo quan niệm mới), hoặc sát lãnh thổ Văn Lang theo sử cũ và truyền thuyết. Thời đại đồ sắt là thời đại có nền văn minh phát triển cao về các mối quan hệ xã hội; do đó không thể không có sự giao lưu kinh tế văn hoá ở các vùng lãnh thổ gần gũi về không – thời gian lịch sử.

Khoa thiên văn thời Hùng Vương và những hiệu ứng vũ trụ tác động lên tự nhiên, cuộc sống và con người

Thời Hùng Vương còn để lại một dấu ấn, chứng tỏ nền khoa học kỹ thuật phát triển cao được thể hiện trên những chiếc trống đồng. Xin tham khảo đoạn trích dưới đây trong sách Kinh Dịch Phục Hy (Gs. Bùi Văn Nguyên - Nxb Khoa học Xã hội 1997) chứng tỏ điều này. Phần in đậm do người viết thực hiện.

“ ... còn chuyện văn hóa, nghệ thuật và khoa học thiên văn, địa văn, nhân văn thì phải nói đến trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa) với hệ thống đồ họa trên mặt trống đồng đó, thí dụ trên mặt trống đồng Hoàng Hạ. Ở đây, trình độ kỹ thuật chế tạo hợp kim, trình độ đúc khuôn và cấu trúc đồ họa, cho đến nay đối với chúng ta vẫn là điều đáng khâm phục, mà hãy nói về trình độ nhận thức về quy luật tự nhiên thời bấy giờ khá chuẩn xác, mặc dù chưa có máy móc để thăm dò, ngoài một số dụng cụ thô sơ. Theo nhà nghiên cứu lịch pháp cổ Bùi Huy Hồng thì các mặt trống đồng như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ không đơn thuần khắc hoa văn để trang trí, mà chính là để đo bóng mặt trời, dùng để tính bốn mùa tám tiết trong một năm theo vòng quay của quả Đất chung quanh mặt Trời (tức là tính theo Dương lịch), đồng thời có đối chiếu ngày và tháng theo vòng quanh mặt Trăng (tức là tính theo Âm lịch). Lịch Việt Nam là lịch Âm - Dương kết hợp. Theo Bùi Huy Hồng, nếu làm thực nghiệm đo bóng mặt trời trên mặt trống đồng Hoàng Hạ, chúng ta có thể xác định được điểm xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí theo chu kỳ một năm. Cũng theo ông, nếu so sánh lịch ta với lịch Khơme cổ và lịch Trung Quốc thì lịch Việt Nam xuất hiện sớm hơn. Đặc biệt, ông đã tỉ mỉ đếm số vòng tròn nhỏ có tiếp tuyến trong các vành ở trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và thu được các số liệu sau đây: 112, 147, 207, 248, 322, 336, trong đó các số 112, 147, 322, 336 là bội số của 7. Con số 336 vòng tròn nhỏ là con số chu kỳ năm Mặt Trăng (theo Âm lịch) quay quanh Mặt Trời: những con số chuẩn xác về quy luật thiên nhiên này đâu có phải là ngẫu nhiên mà phải là những con số đúc kết từ trí tuệ tổ tiên chúng ta. Mặt Trời ở giữa mặt trống đồng có 14 tia và số 14 cũng là bội số của 7, đặc biệt là những âm vật, dương vật đan xen chung quanh tia mặt Trời tượng trưng lẽ sống của tạo vật dưới ánh mặt Trời.

Qua phần dẫn chứng trên, chắc bạn đọc sẽ đặt câu hỏi: căn cứ vào đâu để những nhà khoa học Văn Lang định vị được chu kỳ năm mặt Trăng quay quanh mặt Trời? Chắc chắn ở thời kỳ Hùng Vương, ông cha ta đã có một kiến thức rất sâu sắc về thiên văn học để xác định được chu kỳ vận động của các thiên thể; không phải chỉ giới hạn ở những hành tinh thuộc Thái Dương Hệ, mà là sự vận động có thể của phần lớn các ngôi sao trong thiên hà liên quan đến hệ mặt trời. Để bổ sung cho sự liên hệ giữa khoa thiên văn học hiện đại với văn minh Văn Lang, bạn đọc tham khảo một hiệu ứng vũ trụ từ sự vận động của các thiên thể đối với con người. Hiệu ứng này đã được Gs. Lê Văn Sửu phát hiện và nói đến trong cuốn Nguyên lý thời sinh học cổ Phương Đông (Nxb VHTT 1996), được bổ sung và hiệu chỉnh lại trong sách này. Đó là vấn đề mà có lẽ các bà mẹ lớn tuổi đều biết về trường hợp trẻ sinh vào giờ Quan Sát. Hiện tượng này, Gs. Lê Văn Sửu giải thích như sau.

b. Giờ Quan Sát. Bài ca về giờ sinh phạm giờ Quan Sát như sau:
Chính, thất, sơ sinh Tỵ, Hợi thì
Nhị, bát Thìn, Tuất bất thậm nghi
Tam, Cửu, Mão, Dậu đinh thượng nhiên
Tứ, Thập Dần, Thân kỷ định kỳ
Ngũ, đồng thập nhất Sửu, Mùi thượng
Lục đồng thập nhị Tý, Ngọ chi,
Nghĩa là: giờ Quan Sát theo tháng Âm lịch và giờ địa chi
Tháng giêng - giờ Tị Tháng bảy - giờ Hợi
Tháng hai - giờ Thìn Tháng tám - giờ Tuất
Tháng ba - giờ Mão Tháng chín - giờ Dậu
Tháng tư - giờ Dần Tháng mười - giờ Thân
Tháng năm - giờ Sửu Tháng mười một - giờ Mùi
Tháng sáu - giờ Tý Tháng Chạp - giờ Ngọ
Người xưa cho rằng trẻ em sinh phạm giờ Quan Sát khi nhỏ thường ốm yếu khó nuôi, lớn lên thì đầu trộm đuôi cướp. Những bậc làm cha mẹ khi có con sinh giờ Quan Sát thường vô cùng đau khổ. Theo những điều tôi thâu lượm được bấy lâu nay thì những trẻ sinh phạm giờ Quan Sát thường có chức năng gan không ổn định, số lớn dễ bị mắc bệnh viêm gan khi có dịch truyền nhiễm bệnh này. Để tìm hiểu giá trị thật của giờ Quan Sát ta tiến hành mô hình hóa giờ Quan Sát trong một đồ như sau. Trong đồ trên chúng ta thấy điểm giờ Tý của tháng đều ở trên quả đất có hướng đối chiếu với Mặt trời qua tâm quả đất, từ đó theo các tháng vị trí giờ Quan Sát đều có hướng gần đối chiếu với hướng Bắc của quỹ đạo năm. Như vậy giờ Quan Sát có giá trị là thời điểm nơi sinh đứa trẻ chịu tác động ảnh hưởng vũ trụ từ ngoài Mặt trời.

Hình trên đây được thực hiện lại dựa trên ý tưởng của giáo sư Lê Văn Sửu. Hướng giả định sự vận động của Mặt trời trên quỹ đạo trên thực tế có thể sai với vị trí tương ứng với bốn mùa, trong sự tương quan trái đất và Mặt trời. Nhưng dù hướng vận động của Mặt trời theo hướng nào trong vũ trụ, thì vị trí giờ Quan Sát trên trái đất tương ứng với nhau vẫn không thay đổi so với Mặt trời. Tức là đường nối từ tâm trái đất với vị trí giờ Quan Sát vẫn tạo thành những đường thẳng song song như hình vẽ trên. Như vậy, bạn đọc sẽ nhận thấy một hiệu ứng vũ trụ nào đó, tác động lên con người ở các vị trí giờ Quan Sát.
Qua sự phát hiện của Gs. Lê Văn Sửu và đồ hình trình bày ở trên, chứng tỏ rằng: nền văn minh cổ Đông phương đã phát hiện hiện tượng trái đất vận động quanh Mặt trời. mà còn phát hiện ra Mặt trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Để nói lên được điều này, những người tiên phong của nền thiên văn học hiện đại đã phải ra tòa hoặc lên giàn hỏa thiêu. Đó là trường hợp của Galile và Bruno ở nước Ý vào thế kỉ 15 - 16.
Hiện tượng giờ Quan Sát nêu trên đã chứng tỏ rằng: tri thức của nền thiên văn cổ Văn Lang về nhiều mặt đã vượt xa khả năng của tri thức thiên văn học hiện đại, khi xác định một hiệu ứng vũ trụ với đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ ảnh hưởng đến con người.
Với nhận định trên, có thể lập luận phản bác theo những khả năng sau:
@ Nhận xét cho rằng giờ Quan Sát chỉ là kinh nghiệm dân gian, được đúc kết từ thực tế cuộc sống.
Đây chỉ là một nhận xét khiên cưỡng. Bởi vì, một hiện tượng xảy ra cho một con người là kết quả của sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Mỗi con người có những hiện tượng giống nhau lại không thể cùng sống trong một thời điểm không gian và thời gian như nhau. Trong khi đó hiệu ứng vũ trụ này tác động lên cuộc đời của con người qua đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ; hơn nữa hệ quả của nó lại không phải chỉ là bệnh viêm gan mà là hành vi của con người.
Nếu như tổng kết hành vi tương tự của con người để dẫn đến một kết luận về sự trùng hợp trong một số giờ sinh như giờ Quan Sát thì đây là một việc làm không thể thực hiện được trên thực tế, ở ngay trong xã hội hiện đại với tất cả những điều kiện huy động được của nhân loại. Kết luận về bệnh viêm gan liên quan đến giờ Quan Sát của giáo sư Lê Văn Sửu chỉ là sự kiểm chứng một hiện tượng đã có sẵn.
@ Nếu cho rằng đây chỉ là một trò chơi toán học ngẫu nhiên: bắt đầu từ tháng 12 ( tháng Sửu) với giờ Ngọ, sau đó cứ lùi một tháng thì lại tiến một giờ (tháng 11 – giờ Mùi)… Cho đến hết 12 giờ. Từ trò chơi ngẫu nhiên này người ta đặt ra giờ Quan Sát.
Với một lập luận như vậy, chỉ là một dạng cao cấp hơn việc làm một con toán chia 2622 năm cho 18 đời vua Hùng, ra con số hợn 145 năm và kết luận: không thể có tuổi thọ sinh học trung bình 145 năm cho đời một con người. Bởi vì, giữa một trò chơi toán học đơn giản và hệ quả của giờ Quan Sát trên con người lại hoàn toàn không có một sự liên hệ nào. Trong khi đó hiệu ứng “giờ Quan Sát” đã tồn tại trong văn minh Đông phương, cụ thể là Việt Nam đã nhiều thế kỷ.
Vì vậy, hiện tượng giờ Quan Sát nêu trên chỉ có thể giải thích một cách hợp lý là: đó là kết quả của một tri kiến thiên văn siêu việt được kết hợp với sự ứng dụng phương pháp luận của một lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh để lý giải cho những hiện tượng liên quan đến con người. Hiện tượng này tương tự như việc nền văn minh hiện đại sử dụng một lý thuyết khoa học để tìm hiểu hoặc lý giải các vấn đề liên quan.
Qua sự phát hiện của Gs. Lê Văn Sửu đã chứng tỏ rằng: thời Hùng Vương, ông cha ta đã phát hiện ra không phải chỉ trái Đất vận động quanh mặt Trời, mà còn phát hiện ra mặt Trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Không những thế, mà còn phát hiện được kết quả của sự vận động này, đã tạo ra những hiệu ứng vũ trụ đối với con người thể hiện ở giờ Quan Sát.
Trên đây chỉ là một thí dụ để thấy rằng: việc khoa học hiện đại phát hiện ra hiệu ứng vũ trụ từ những vụ nổ của mặt Trời gây ảnh hưởng đến cuộc sống ở trái Đất, thật sự là khiêm tốn so với kho tàng khoa thiên văn học của thời Hùng Vương. Khoa học vũ trụ hiện đại có thể ước mơ hàng trăm năm sau sẽ đưa các phi thuyền tới những ngôi sao cách trái đất hàng chục năm ánh sáng. Cho dù điều viễn tưởng đó được thực hiện, thì so với việc tìm ra những hiệu ứng vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất và con người - như nền văn minh Văn Lang đã chứng tỏ – vẫn còn là một ước mơ xa xôi khó thực hiện của khoa học vũ trụ hiện đại. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì khoa thiên văn học hiện đại chỉ thực sự phát triển khoảng 200 năm nay. Còn khoa thiên văn của thời Hùng Vương đã có gần 3000 năm khảo nghiệm.
Còn có rất nhiều hiện tượng tương tự như vấn đề của giờ Quan Sát nêu trên. Những hiện tượng tương tự như vậy, không thể giải thích một cách thô sơ cho đó là do kinh nghiệm dân gian được. Bởi vì đây là một hiệu ứng vũ trụ được phát hiện ảnh hưởng đến con người qua một đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ. Với nền khoa học hiện đại để thống kê và tìm ra một hiệu ứng vũ trụ trên con người trong một đơn vị thời gian như vậy, có sự hỗ trợ của những máy vi tính hiện đại nhất, cũng phải mất hàng trăm năm để theo dõi và phải huy động một khối lượng nhân sự rất lớn, nếu bắt đầu ngay từ bây giờ. Thí dụ này minh họa rõ hơn cho khoảng trống về lý thuyết cho những phương pháp ứng dụng của học thuyết Âm Dương Ngũ hành và khoa thiên văn cổ Văn Lang bắt đầu từ Lạc thư - Hà đồ và cũng chứng minh cho sự kết hợp sức mạnh vũ trụ với tri thức của con người. Tức là sự kết hợp của Rồng - Tiên đã trình bày ở trên.
Những vấn đề nêu ở trên đã chứng tỏ: tri thức của nền văn minh Văn Lang làm kinh ngạc những con người ở xã hội hiện đại, đã được rất nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích trong suốt mấy chục năm qua. Nhưng tại sao một nước Văn Lang có nền văn minh đạt đến đỉnh cao về khoa học kỹ thuật và những giá trị văn hóa vào thời bấy giờ, đã bị thất bại trước sức tấn công của nhà Ân Thương Trung Hoa. Điều này có thể lý giải do tổ chức xã hội Văn Lang là một trong những yếu tố chính dẫn đến sự thu hẹp lãnh thổ dưới thời Hùng Vương thứ VI.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sai lệch giữa độ số Ngũ hành trên Hà Đồ và độ số Cục trong Tử vi đẩu số. Một yếu tố củng cố thêm giả thuyết cho rằng: Trần Đoàn lão tổ ...

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” – Sự khẳng định nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành và Lạc thư – Hà đồ: Truyền thuyết “Con Rồng, cháu ...

Lạc thư – Hà đồ. Tiền đề của khoa Thiên văn học thời Hùng Vương: Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ giới hạn ở việc giải thích sự hình thành vũ ...

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...