Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II

Ngày đăng: Thứ sáu 30/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nhưng thực tế đã không phải vậy. Trên cơ sở của thuyết Âm Dương Ngũ hành, tổ tiên người Việt đã ứng dụng trong việc tìm hiểu sự vận hành của những ngôi sao trong Thiên hà, tức là sự vận động của ũ trụ và ảnh hưởng của những hiệu ứng vũ trụ đối với tự nhiên, cuộc ống và con người. Bắt đầu của sự thể hiện này chính là Lạc thư – Hà ồ.
Theo truyền thuyết Trung Hoa: Hà đồ do vua Phục Hy (niên đại hoảng 3500 năm tr.CN; có sách chép hơn 4000 tr.CN) phát hiện khi i tuần thú ở sông Hoàng Hà. Ngài thấy Long Mã từ dưới sông hiện ên, trên lưng có Hà đồ ghi việc trời đất mở mang. Lạc thư là do vua ại Vũ (2205 năm tr.CN) khi đi trị thủy, ngài thấy con rùa thần nổi ên, trên mình vẽ Lạc thư.

Hệ từ thượng chép: “Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc hi, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi; thiên thùy tượng, hiện cát ung, thánh nhân tượng chi. Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc hi”.
(Cho nên trời sinh ra thần vật, thánh nhân áp dụng theo; trời đất iến hóa, thánh nhân bắt chước; trời bày ra hình tượng. Hiện ra sự tốt ấu, thánh nhân phỏng theo ý tượng. Bức đồ hiện ra ở sông Hoàng Hà, ình chữ hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo). (Chu Dịch vũ rụ quan - sách đã dẫn)

Như phần trên đã trình bày, vấn đề tác giả của Hệ từ thượng hưa có sự thống nhất, người bảo của Cơ Tử viết vào thời Chu; người ảo của Khổng Tử viết; người bảo do học giả đời sau thêm vào... (Cuốn ách này minh chứng thực trạng xã hội Văn Lang qua truyền thuyết ủa cha ông để lại, cho nên nó phải bắt đầu bằng sự tôn trọng đối với ruyền thuyết, dù là của dân tộc khác).
Về truyền thuyết Hà đồ – Lạc thư có thể giải thích như sau: Vua hục Hy, Đại Vũ đã biết đến biểu tượng của Hà đồ – Lạc thư do tiếp úc với văn minh Văn Lang, khi đi tuần thú và trị thủy. Nhưng nếu hai gài phát minh ra Hà đồ và Lạc thư thì thuyết Âm Dương Ngũ hành hắc chắn đã được phát triển hoàn chỉnh, chứ không thể là một sự mơ ồ như đã trình bày ở trên. Do đó, Hà đồ – Lạc thư được hình thành rong việc quan sát thiên hà với sự áp dụng của thuyết Âm Dương Ngũ ành thì phải là của người Việt Nam. Bởi những lý do sau đây:

Về cụm danh từ Hà đồ – Lạc thư
Ý nghĩa của cụm từ “Hà đồ – Lạc thư” có thể giải thích như sau: ruyền thuyết đã ghi nhận vào thời Hùng Vương – tướng văn gọi là ạc hầu; tướng võ gọi là Lạc tướng; dân gọi là Lạc dân, ruộng gọi là ạc điền... tất nhiên sách thuộc về văn minh chính thống của Văn ang phải gọi là “Lạc Thư”. Nghĩa chữ Hà đồ có thể hiểu là Ngân à hoặc Thiên Hà. Như vậy có thể hiểu Hà đồ là những đồ hình miêu ả sự vận động của vũ trụ liên quan đến Ngân Hà. Toàn bộ cụm từ Hà ồ – Lạc thư, có thể hiểu là sách của người Lạc Việt ghi lại những tri kiến vũ trụ liên quan đến giải Thiên Hà (hoặc Ngân Hà).

Về nội dung Hà đồ – Lạc thư
Bạn đọc so sánh Lạc thư (tương truyền do vua Đại Vũ phát hiện ở trên và Lạc thư Cửu tinh đồ miêu tả vị trí của 9 chòm sao và căn cứ vào vị trí của sao Bắc cực để định vị các sao trong thiên hà sau đây.

Hình Lạc thư
Tương truyền do vua Đại Vũ phát hiện trên lưng rùa thần

Hình Lạc thư Cửu tinh đồ (*)

* Chú thích: Tư liệu trong “Chu Dịch - Vũ trụ quan”, sách đã dẫn

Qua hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy: Sao Ngũ Đế Tọa là trung cung; Bắc cực: phương Bắc; Thiên Kỷ: phương Nam; Hà Bắc: phương Đông; Thất Công: phương Tây. Bốn chòm sao chính hướng Đông – Tây – Nam – Bắc và tòa Ngũ Đế Tọa thuộc Dương (chấm trắng trên Lạc thư). Bốn chòm sao ở các hướng phụ thuộc Âm (chấm đen trên Lạc thư).
Như vậy, Lạc thư tương truyền do vua Đại Vũ phát hiện trên lưng rùa ở sông Lạc, thực chất là hình vẽ cô đọng của Lạc thư Cửu tinh đồ, miêu tả vị trí của các chòm sao trên bầu trời để định hướng vị trí tương quan các vì sao trên vũ trụ. Lạc thư Cửu tinh đồ thì lại không phải do vua Đại Vũ tìm ra (Lạc Thư Cửu tinh đồ không rõ tác giả, chỉ biết là sách xưa truyền lại). Bởi nếu do vua Đại Vũ tìm ra thì ông sẽ không phải vẽ lại trên lưng con rùa làm gì. Cho rằng đúng là vua Đại Vũ phát hiện những chấm đen trắng trên lưng con rùa thần ở sông Lạc. Những chấm đen trắng đó do sự ngẫu nhiên trùng hợp với vị trí các sao trên bầu trời và cũng ngẫu nhiên tên sông Lạc trùng với tên Lạc thư của người Lạc Việt, thì điều đó cũng chẳng nói lên được cái gì. Lạc thư do vua Đại Vũ tìm ra sẽ không có nghĩa, nếu như không có Lạc thư Cửu tinh đồ diễn tả nội dung của nó và Hà đồ, tức là cái có sau Lạc thư thể hiện tính ứng dụng của nó. Nhưng thật vô lý! Hà đồ lại do vua Phục Hy tìm ra trước vua Đại Vũ hơn 1000 năm. Để chứng minh điều này, xin so sánh hai hình vẽ dưới đây của Lạc thư với Hà đồ.

Hình Lạc thư

Hình Hà đồ
Tương truyền do vua Phục Hy tìm ra trên lưng long mã

Như phần trên đã trình bày và cũng chứng minh tương tự như đối với Lạc thư: tự bản thân những chấm đen trắng trên lưng con rùa thần nổi lên ở sông Lạc do vua Vũ phát hiện; cũng như những chấm đen trắng trên lưng con Long Mã mà vua Phục Hy phát hiện gọi là Hà đồ ở sông Hoàng Hà, sẽ không có nghĩa gì nếu như không có nội dung của nó.
Trước khi diễn tả nội dung của Hà đồ, xin được trình bày với bạn đọc về phương pháp tính giờ của Âm lịch.
Âm lịch chia 1 ngày thành 12 giờ gọi tên theo 12 con Giáp là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi giờ Âm lịch bằng 2 giờ Dương lịch, theo qui ước bắt đầu từ giờ Tý (23g - 1g), Sửu (1g - 3g), Dần (3g - 5g), Mão (5g - 7g), Thìn (7g - 9g), Tỵ (9g - 11g), Ngọ (11g - 13g), Mùi (13g - 15g), Thân (15g - 17g), Dậu (17g - 19g), Tuất (19g - 21g), Hợi (21g - 23g).
Với sự phân chia thời gian theo Âm lịch nói trên và sự định hướng phương vị của Lạc thư, thì các ngôi sao quen thuộc trong Thái Dương hệ là: Sao Kim(*), sao Thủy(*), sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ lần lượt xuất hiện trên bầu trời được ghi lại theo độ số của Hà đồ như sau:

* Chú thích: Theo Hán thư Nghệ văn chí thì sao Kim ngày nay, người xưa gọi là sao Thuỷ; sao Thuỷ ngày nay, người xưa gọi là sao Kim (“Chu Dịch - Vũ trụ quan”, sách đã dẫn).

Vị trí xuất hiện của sao Thủy ở phương Bắc trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ nhất (giờ Tý); giờ thứ sáu (giờ Tỵ).
Trong tháng: ngày mùng 1, 6, 11, 16, 21, 26. mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thủy ở phương Bắc.
Trong năm: Tháng 11, 6. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.
Vị trí của sao Thủy theo độ số của sao Thủy trên Hà đồ (1 - 6), ứng với phương Bắc của Lạc thư.

Vị trí xuất hiện của sao Hỏa ở phương Nam trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ hai (giờ Sửu); giờ thứ bảy (giờ Ngọ).
Trong tháng: ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27. mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Hỏa ở phương Nam.
Trong năm: Tháng 2, 7. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.
Vị trí của sao Hỏa theo độ số của sao Hỏa trên Hà đồ (2 - 7), ứng với phương Nam của Lạc thư.

Vị trí xuất hiện của sao Mộc ở phương Đông trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ ba (giờ Dần); giờ thứ tám (giờ Mùi).
Trong tháng: ngày mùng 3, 8, 13, 18, 23, 28. mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.
Trong năm: tháng 3, 8. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông.
Vị trí của sao Mộc theo độ số của sao Mộc trên Hà đồ (3 - 8), ứng với phương Đông của Lạc thư.

Vị trí xuất hiện của sao Kim ở phương Tây trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ tư (giờ Mão); giờ thứ chín (giờ Thân)
Trong tháng: ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24, 29. mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Kim ở phương Tây.
Trong năm: tháng 4, 9. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.
Vị trí của sao Kim theo độ số của sao Kim trên Hà đồ (4 - 9), ứng với phương Tây của Lạc thư.

Vị trí xuất hiện của sao Thổ ở giữa bầu trời
Trong ngày: giờ thứ năm (giờ Thìn); giờ thứ mười (giờ Dậu).
Trong tháng: ngày mùng 5, 10, 15, 20, 25, 30. mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.
Trong năm: tháng 5, 10. Lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.
Vị trí của sao Thổ theo độ số của sao Thổ trên Hà đồ (5 - 10), ứng với Lạc thư ở giữa. (Theo Chu Dịch vũ trụ quan - sách đã dẫn).

Trên cơ sở của Âm Dương Ngũ hành sự phân chia các hành theo độ số của Hà đồ như sau:
* Dương Ngũ hành lần lượt có độ số là:
Thủy - 1; Mộc - 3; Hỏa - 7; Kim - 9; Thổ - 5 (chấm trắng trên Hà đồ).
* Âm Ngũ Hành lần lượt có độ số là:
Thủy - 6; Hỏa - 2; Mộc - 8; Kim - 4; Thổ - 10 (chấm đen trên Hà đồ).
Qua phần giới thiệu nội dung như trên, thì bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Lạc thư phải có trước để định dạng phương vị cho Hà đồ. Chứng tỏ việc vua Phục Hy tìm ra Hà đồ trước vua Vũ tìm ra Lạc thư 1000 năm là vô lý. Nội dung của Lạc thư – Hà đồ hoàn toàn mang ý nghĩa quan sát thiên văn, phát triển trên cơ sở của thuyết Âm Dương Ngũ hành, từ đó tìm ra những hiệu ứng vũ trụ tác động vào sự vận động của tự nhiên, xã hội và con người.
Từ hàng thiên niên kỷ, những nhà Lý học thuộc các triều đại phong kiến Trung Hoa cho rằng: vua Phục Hy dựa vào Hà đồ để làm ra Tiên thiên Bát Quái:

Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái (vua Phục Hy bắt chước Hà đồ để vạch quẻ). (*)

Còn Lạc thư thì được coi là nguồn gốc của Hậu thiên Bát quái. Bảo Ba – một nhà Lý học Trung Hoa chuyên lý giải Dịch học nói:

Thử Hậu thiên bản Lạc Thư giả (Sắp đặt như thế, đấy chính là Hậu thiên gốc Lạc Thư).(*)

* Chú thích: “Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương”, Nguyễn Hữu Lượng, Nxb Tp Hồ Chí Minh 1992, trang 158).

Như phần trên đã chứng minh: Lạc thư phải có trước Hà đồ. Nên vua Phục Hy dựa vào Hà đồ làm ra Tiên thiên; còn vua Văn Vương dựa vào Lạc thư làm ra Hậu thiên thì cực vô lý.
Trong sách Chu Dịch vũ trụ quan (sách đã dẫn) giới thiệu một hình vẽ là ma trận Lạc thư (tương truyền cũng do vua Đại Vũ tìm ra - xem hình vẽ dưới đây). Ma trận Lạc thư có 9 ô, độ số là 45 tạo ra một ma phương cấp 3, số ngang dọc, chéo gộp lại là 15 gọi là Lạc thư cửu cung. Từ ma phương cấp 3, sự biến dịch của độ số Lạc thư rất vi diệu, tạo nên nhiều ma phương mênh mông kỳ ảo theo một quy luật nhất định là: tổng các ô dọc, ngang, chéo đều bằng nhau, thuộc về một dạng của toán học cao cấp. Tất nhiên, ma trận Lạc thư phải thuộc về nền văn minh Văn Lang, khi Lạc thư của nền văn minh này.
Để minh họa cho sự vận động của Ngũ hành trong Lạc thư cửu cung và sự tương quan giữa Lạc thư và Hà đồ thuộc về văn minh Văn Lang. Xin được trình bày một trò chơi của trẻ em Việt Nam, cho đến những năm 60 của thế kỷ này vẫn còn phổ biến. Trò chơi có tên gọi là “Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ” và so sánh với cửu cung của Lạc thư được thể hiện bằng hình vẽ và trình bày dưới đây, sẽ minh chứng cho sự tương quan giữa thuyết Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư Hà đồ đã trình bày ở trên. Nếu như trong quẻ Dịch người ta có thể diễn giải một cách đơn giản vạch đứt là Âm, vạch liền là Dương, thì sự tương quan giữa trò chơi này với học thuyết Âm Dương Ngũ hành còn nhiều điểm trùng khớp chứng tỏ sự liên hệ của nó.
Trò này được chơi như sau:

 

Có hai người chơi. Mỗi bên 4 quân được sắp xếp trong một hình chữ thập được cấu tạo do 5 hình vuông như hình trên. Lần lượt từng người chơi, mỗi lần chơi chỉ đi được một quân. Khi nhấc quân đi thì hô: “Kim, Mộc, Thủy,...” . Mỗi tên một hành khi hô thì đưa quân đi lần lượt vào từng giao điểm của hình vuông, không được đi xéo: giao điểm thứ nhất (không tính vị trí của quân) hô: “Kim”; giao điểm thứ hai hô: “Mộc”... tối đa chỉ được 5 nước, đến Thổ hoặc vướng quân đối phương phải ngừng lại. Không được lùi lại, nhưng những bước đi có thể theo nhiều hướng. Nếu quân đối phương đứng ở vị trí thứ 5 thì được ăn (loại ra ngoài). Người nào hết quân thì thua.
Hàm nghĩa của trò chơi này thể hiện sự liên quan Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư như sau:
@ Mỗi bên 4 quân tương tự với sự vận động của 4 chòm sao Âm và bốn chòm sao Dương trong Lạc thư cửu tinh đồ.
@ Tên trò chơi và lời hô: “Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ” chính là chiều ngược kim đồng hồ của Ngũ hành bắt đầu từ hành Kim trên Lạc thư cửu cung (xem hình vẽ trên).
@ Năm hình vuông nằm trong chữ thập của trò chơi là sự cô đọng Lạc thư cửu cung (gộp hai cung Âm Dương làm một). Sự vận động của Ngũ hành trên Lạc thư theo chiều ngược kim đồng hồ (đây cũng chính là chiều vận động của các hành tinh trong Thái dương hệ, thể hiện sự tương khắc của Ngũ hành như sau: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim).
Những trò chơi như “Ô ăn Quan”“Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” không thể do các nhà Lý học Trung Hoa từ thời Hậu Hán trở về sau phát minh ra được. Bởi vì, nếu do một người nào đó thuộc khoảng thời gian này phát minh thì mọi vấn đề đã được sáng tỏ, ít nhất cũng ở sự liên hệ giữa Âm Dương và Ngũ hành. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý là: những trò chơi này do các nhà Lý học Văn Lang tạo ra để lưu truyền trong đời. Qua đó bạn đọc thấy được trí tuệ siêu đẳng của các tác gia thời Hùng.
Bạn đọc có thể cho rằng: Nhận định về bánh chưng, bánh dầy, trò “Ô ăn Quan”, “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” mang tính chủ quan và những vấn đề trên chỉ là một sự ngẫu nhiên trùng hợp. Cách đặt vấn đề đó có thể đúng, người viết cũng đã tự đặt vấn đề cho mình. Nhưng những điều ngẫu nhiên trùng hợp chỉ có thể xảy ra ở những hiện tượng đơn giản. Điều này không thể xảy ra cho những sản phẩm trí tuệ lưu truyền trong văn hoá dân gian, mà có sự trùng lặp gần như hoàn toàn về nhiều mặt của những vấn đề liên quan đến một học thuyết, nhưng lại không có sự liên quan đến nó.
Qua phần chứng minh trên về sự liên hệ của Lạc thư – Hà đồ và sự bổ trợ cho nhau của nó, chứng tỏ nó phải là một sự liên hệ nối tiếp cùng thời, không thể có trước sau hàng ngàn năm được.
Kể từ thời Hán, các nhà nghiên cứu Lý học ghép Hà đồ với Tiên thiên Bát quái; Lạc thư với Hậu thiên Bát quái. Sự gán ghép khiên cưỡng đó đã lưu truyền hơn 2000 năm, mặc dù không có cơ sở nào để có sự liên hệ giữa Hà đồ và Tiên thiên, hoặc Lạc thư với Hậu thiên, như cổ thư chữ Hán đã nói tới. Ông Thiệu Vĩ Hoa, trong tác phẩm Chu Dịch với dự đoán học (Nxb Văn Hoá Hà Nội – 1995; trang 24) cũng viết:

Kinh Dịch ra đời sớm hơn “Truyện Dịch” bảy, tám trăm năm, nên bát quái không phải dựa theo “Hà đồ”, “Lạc thư” mà vẽ. Đó là điều không ai phủ nhận được.

Quan điểm của ông Thiệu Vĩ Hoa xuất phát từ chính sự sai lệch trong sự liên quan mà cổ thư chữ Hán cho rằng: Hà Đồ là căn nguyên của Tiên thiên Bát quái (cái có trước, do vua Phục Hy sáng tác); Lạc thư là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái (cái có sau, do vua Chu Văn Vương sáng tác). Trong lần tái bản này, sau khi tìm hiểu kỹ về kinh Dịch, người viết cho rằng Lạc thư – Hà đồ có liên quan rất hữu cơ với Bát quái. Nhưng không phải như cổ thư chữ Hán đã nói, mà là Hậu thiên Bát quái liên quan tới Hà đồ (*).

* Chú thích: Vấn đề này đã được trình bày trong cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch”, Nxb VHTT 2002.Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa và bổ sung

Nhưng chính sự gán ghép vô lý đó đã chứng tỏ những vấn đề sau:
Khẳng định vua Đại Vũ không phải là tác giả của Ngũ hành như Kinh Thư nói đến. Bởi vì độ số của Hà đồ được coi là do vua Phục Hy phát hiện xác định phương vị Ngũ hành. Như vậy ít nhất Ngũ hành phải được vua Phục Hy nghĩ ra trước khi định phương vị cho nó. Nhưng vua Phục Hy lại không phải là người diễn giải thuyết Ngũ hành, mặc dù theo truyền thuyết tìm ra Hà đồ. Điều này đã chứng tỏ truyền thuyết được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán, đã gán ghép một cách phi lý cho việc phát hiện ra Lạc thư - Hà đồ và các vấn đề liên quan. Đồng thời cũng chứng tỏ rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư - Hà đồ là sản phẩm trí tuệ của người Lạc Việt. Từ đó nền văn minh Văn Lang đã tìm ra những hiệu ứng vũ trụ tác động lên tự nhiên, cuộc sống, xã hội, con người và đã để lại cho nhân loại hiện đại cả một kho tàng lý luận Đông y đồ sộ, phương pháp dự đoán tương lai qua Thái Ất Thần kinh, Kỳ môn Độn giáp... và một kho tàng tri thức về thời tiết, lịch số sử dụng trong nông nghiệp. Tất cả đều bắt đầu từ nguyên lý vận động của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...