Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2

Ngày đăng: Thứ sáu 30/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Từ đó, hoàn toàn có cơ sở để hoài nghi những vấn đề sai lệch có thể có trong Tử vi đẩu số, liên quan đến dự đoán tương lai cho số phận của con người. Bạn đọc có thể tham khảo thêm cuốn “Nguyên lý thời sinh học phương Đông” (GS. Lê Văn Sửu - Nxb VHTT 1996). Trong cuốn sách này, giáo sư Lê Văn Sửu đã phát hiện ra nhiều vấn đề bất hợp lý của khoa Tử vi đẩu số. Người viết chỉ xin được bổ sung một vấn đề sau:
Theo sách “Nguyên lý thời sinh học phương Đông” (Sách đã dẫn, trang 48) căn cứ theo Tử vi đẩu số phổ biến ở Việt Nam hiện nay, thì tương quan Hành và độ số Cục theo bảng sau

Bảng lập cục của tử vi theo cổ thư chữ Hán
Tư liệu của giáo sư Lê Văn Sủu trong sách Nguyên lý thời sinh học phương Đông

Độ số và hành của Cục trong Tử vi đẩu số được trình bày ở bảng trên đã được sử dụng qua nhiều thế kỷ còn được lưu truyền đến bây giờ, nhưng không có sự lý giải. Từ quan điểm cho rằng: Lạc thư – Hà đồ là nguồn gốc của khoa Thiên văn học thuộc nền văn minh Văn Lang bắt nguồn từ thuyết Âm Dương Ngũ hành, thì tất yếu độ số hành của Cục phải có sự liên hệ với Lạc thư - Hà đồ. Để bạn đọc tiện việc theo dõi, người viết xin được trình bày tóm lược độ số của cục theo Tử vi đẩu số ở bảng trên và so sánh với độ số Ngũ hành theo Hà đồ như sau:

Đồ hình Hà đồ so sánh với độ số cục của tử vi

Kim - Tứ cục
Mộc - Tam cục
Thủy - Nhị cục (Hà đồ - 6)
Hỏa - Lục cục (Hà đồ - 2)
Thổ - Ngũ cục

Bảng lập cục của tử vi theo số Hà đồ

Chiều Ngũ hành tương khắc khi đổi lại hành theo Lạc thư Hoa giáp

Như vậy số Cục của hành trong Tử vi đẩu số sai lệch với độ số Ngũ hành trên Hà đồ ở hai hành là Thủy và Hỏa. Nếu hiệu chỉnh lại hành theo Cục của bảng tra Ngũ hành đã dẫn theo độ số của Hà đồ; ta sẽ có một quy luật Ngũ hành tương khắc từ phải sang trái theo hàng ngang của bảng, phù hợp với sự sắp xếp tuổi theo Thiên can của bảng đã dẫn ở trên. Bảng sửa đổi dưới đây do người viết hiệu chỉnh lại hành theo độ số của Hà đồ (chữ đậm). Tên hành cũ của Tử vi đẩu số (chữ thường trong ngoặc kèm theo) để độc giả tiện theo dõi:

Như vậy, việc sửa lại hành cho phù hợp với độ số của Hà đồ cũng hoàn toàn phù hợp với tiên đề của quy tắc lập cục là:
Theo thuận tự, thập Thiên Can có quy luật Ngũ hành tương sinh sắp xếp từ trái sang phải như sau:
Nhưng khi lập cục, tuổi tính theo thập Thiên can lại sắp xếp theo quy tắc từng cặp tương hợp theo chiều tương khắc từ phải sang trái – khi phân Thiên can Âm và Dương (Tiên đề quy tắc lập cục) như sau:
Như vậy, việc sửa lại hành theo độ số Hà đồ (là nguyên lý căn bản của khoa thiên văn cổ Văn Lang) cũng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xếp tuổi để lập cục của Tử vi. Còn cách sắp xếp cục của Tử vi đẩu số hiện hành mà ngài Trần Đoàn lão tổ công bố thì không theo quy tắc nào.
Qua sự sửa đổi dựa trên độ số của Hà đồ phù hợp với qui tắc sắp xếp theo chiều tương khắc của thập Thiên can đã minh họa rõ nét những vấn đề sau đây:
Lạc thư – Hà đồ là tiền đề căn bản cho khoa thiên văn học cổ Văn Lang – xuất phát từ thuyết Âm Dương Ngũ hành – chứng tỏ thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh nhất quán từ nguyên lý căn bản đến sự ứng dụng của nó (*). Điều này chứng tỏ rằng: Trần Đoàn lão tổ không phải là người phát minh môn Tử vi này mà chỉ công bố lại một cuốn sách đã lưu truyền hàng ngàn năm sau khi Văn Lang bị tiêu diệt, nên đã bị tam sao thất bản dẫn đến sai lầm trên. Ông không thể có sự phát minh ra một cái hợp lý bằng sự bắt đầu từ một cái sai lệch. Và đó cũng chỉ là một thí dụ.

* Chú thích: Việc đổi hai hành Thủy và Hỏa của cục trong Tử vi sẽ dẫn đến việc thay đổi hai hành Thủy và Hỏa tương ứng trong Lục thập Hoa giáp (60 năm, kể từ Giáp Tí đến Quý Hợi). Vấn đề này đã được chứng minh trong cuốn: “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập Hoa giáp”, Nxb VHTT 2002.Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa và bổ sung

Qua phần trích dẫn và chứng minh ở trên thì bạn đọc cũng nhận thấy rằng: trong khi cho đến tận bây giờ, các nhà Lý học vẫn chưa giải thích được những nguyên lý và sự liên hệ của thuyết Âm Dương Ngũ hành (cho dù theo giả thuyết của các nhà nghiên cứu hiện đại: Thuyết Âm Dương Ngũ hành từng bước hoà nhập vào thời Hán). Thật là sự vô lý khi những phát minh cho những phương pháp ứng dụng của lý thuyết đó lại phổ biến rộng khắp mọi lĩnh vực. Sự vô lý tầm cỡ vĩ mô này, chỉ có thể giải thích rằng: tất cả những phương pháp ứng dụng đang phổ biến của học thuyết Âm Dương Ngũ hành đều đã được hình thành từ nền văn minh Văn Lang. Khi nước Văn Lang bị tiêu diệt, những phương pháp ứng dụng này truyền sang Trung Hoa và được các nhà Lý học Trung Hoa lý giải theo cách hiểu của họ qua kinh nghiệm thực tế ứng dụng.
Cho đến tận cuối đời nhà Đường, đầu đời nhà Tống, những trước tác thuộc về nền văn minh Văn Lang vẫn tiếp tục được phát hiện và truyền bá ở đời qua hình ảnh thần tiên truyền cho kinh sách (điều đáng quan tâm là các sách do thần tiên truyền lại đều có sự nhất trí cao ở việc sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành). Hiện tượng này sẽ minh chứng cho việc chữ Khoa Đẩu xuất hiện trong truyện Thủy Hử được trích dẫn trong phần “Một hệ thống chữ viết chính thức của nền văn minh Văn Lang” ở phần tiếp theo.
Phần trình bày ở trên chỉ là một thí dụ qua Tử vi, khoa dự đoán tương lai dựa trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trên thực tế khoảng trống lý thuyết này là vô cùng lớn. Có thể nói: hầu hết phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong phương pháp ứng dụng đều không có sự liên hệ xuất phát từ lý thuyết căn bản (vốn đã rất mơ hồ) để chứng tỏ xuất xứ. Nếu cho rằng sự ứng dụng vốn xuất phát từ kinh nghiệm của cuộc sống sau đó mới được giải thích bằng thuyết Âm Dương Ngũ hành, như vậy thì học thuyết này sẽ không có cơ sở tồn tại trước một sự ứng dụng rộng rãi nhiều mặt thuộc phạm trù của nó với một bề dày gần 5000 năm.
Về vấn đề này xin được lý giải rõ hơn và cụ thể như sau: Người ta có thể quan sát thiên văn để xác định sự vận động của các vì sao đã được nền thiên văn cổ Văn Lang nói tới. Nhưng những hiệu ứng vũ trụ tác động lên tự nhiên, cuộc sống và con người trên trái đất thì vẫn không có sự lý giải, mặc dù vẫn có sự ứng dụng trên thực tế. Bạn đọc có thể tham khảo một đoạn trong Thái Ất dị giản lục (sách đã dẫn - tr.89) như sau:

Khi có sao Thái Bạch xuất hiện ở phía Tây thì nước phía Đông bại hoại trước, nước phía Tây bại hoại sau; nếu sao chổi xuất hiện ở phía Đông thì ngược lại và chủ cho sự binh đao, tật dịch, lưu vong.

Những nhận đoán dựa trên sự vận động của các vì sao được thí dụ ở trên không phải do kinh nghiệm, khi đã có cả một quá trình nghiên cứu thiên văn có hệ thống bắt đầu từ Lạc thư - Hà đồ và một học thuyết liên quan đến nó. Nhưng rõ ràng không hề có sự lý giải minh chứng trên cơ sở của học thuyết này. Đoạn trích dẫn trên không phải là một đoạn được chọn lựa để chứng minh một cách chủ quan. Nếu bạn đọc có dịp được xem bất cứ một cuốn sách nào liên quan đến thuyết Âm Dương – Ngũ hành thì đều có thể dễ dàng tìm thấy những khoảng trống lý thuyết như trên.
Hơn 2000 năm đã trôi qua – kể từ thời Hán Vũ Đế tiêu diệt Nam Việt – mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng những nhà Lý học dưới các triều đại phong kiến Trung Hoa vẫn không thể lấp được khoảng trống giữa các phương pháp ứng dụng thuộc phạm trù của thuyết Âm Dương Ngũ hành với hệ thống lý thuyết của nó. Cũng như cho đến tận bây giờ, họ vẫn chưa lý giải được sự vận động từ cội nguồn của học thuyết này vì sự sai lệch ngay từ nguyên lý khởi nguyên của nó: tách Âm Dương ra khỏi Ngũ hành. Âm Dương được gán vào Bát quái, còn Ngũ Hành thì chơi vơi. Nguyên nhân của hiện tượng này tồn tại trên 2000 năm cho đến tận bây giờ, rất đơn giản: Nền văn minh Hoa Hạ đã tiếp thu một cách rời rạc, không hoàn chỉnh những thư tịch cổ còn sót lại của một nền văn minh đã mất; lại thêm sự hiệu chỉnh và cách hiểu sai lệch, nên đã khiến cho một học thuyết vũ trụ quan cổ đại đi vào sự huyễn ảo, huyền bí. Điều này đã chứng tỏ rằng: Cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về nền văn minh cổ Hoa Hạ mà thuộc về văn minh Văn Lang; nên chính những con người tiếp nối nền văn hiến gần 5000 năm đó mới có câu trả lời ngay trong cuộc sống của mình.
Cảm động thay! Những bà mẹ Việt Nam, qua bao thăng trầm của lịch sử, vẫn lặng lẽ gói chiếc bánh chưng, bánh dầy từ đời này qua đời khác, và mỗi khi có một bà mẹ nào vào thời kỳ sinh nở lại nhắc nhở bằng câu chúc lành cho nhau: “Mẹ tròn, con vuông!” – nguyên lý của cả một hệ thống vũ trụ quan từ thời các vua Hùng.

Một hệ thống cữ viết chính thức của nền văn minh Văn Lang

Với kết luận về sự tồn tại một nền văn minh tư tưởng đạt đến đỉnh cao của xã hội Văn Lang so với các xã hội cổ đại cùng thời trên thế giới, như: Ai Cập, Babilon, Hy - La, Ấn Độ, Hoa Hạ… thì những vấn đề liên hệ cần thiết phải có là: Một hệ thống chữ viết của thời đại Hùng Vương, là điều kiện tất yếu để phát triển nền văn minh một cách có hệ thống với số lượng từ ngữ phong phú, đủ khả năng diễn đạt những khái niệm trừu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành và những vấn đề của nó.
Cả một thời đại đã thuộc về huyền sử trong một thời gian tính bằng thiên niên kỷ, thì việc chứng minh cho sự tồn tại của chữ viết của thời đại đó cực kỳ khó khăn. Nhưng những tia sáng mỏng manh hắt lại qua màn thời gian có độ dày hơn 2000 năm, vẫn còn đủ để đặt vấn đề cho chữ viết của thời Hùng Vương với sự lý giải hợp lý trong sự tương quan của nó. Đó là những hiện tượng sau:

1 – Dấu ấn xưa nhất ghi nhận về chữ viết của người Lạc Việt là sách Thông Chí của Trịnh Tiều (Trung Quốc) chép rằng:

“Đời Đào Đường (vua Nghiêu – năm 2253 tr.CN) phương Nam có bộ Việt Thường cử sứ bộ qua hai lần phiên dịch sang chầu, dâng con rùa thần có lẽ đã sống 1000 năm, mình dài hơn 3 thước, trên lưng có khắc văn Khoa Đẩu ghi việc trời đất mở mang. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Lịch (tức lịch rùa)”.

Khi viết lại đoạn này trong bài “Vài nét về văn hóa thời Hùng Vương” của giáo sư Bùi Văn Nguyên đăng trong tạp chí Văn Học số ra tháng 9 – tháng 10/1973, tác giả đã đặt vấn đề:

“Ở đây chưa rõ văn Khoa Đẩu (chữ hình con nòng nọc) trên lưng con rùa là văn sẵn trên mai nó mà các nhà làm lịch nước Việt Thường nghiên cứu theo sự tiến triển của nó hàng ngàn năm để rút ra qui luật về sự tuần hoàn của thời tiết, hay đó là một thứ ký hiệu ta gọi là chữ Khoa Đẩu mà các nhà làm lịch nước ta vạch lên mai rùa”. (Sách Bàn về vạn niên lịch. Tác giả Tân Việt, Thiều Phong. Nxb Văn Hóa Dân Tộc 1995).

Chữ khoa đẩu trên bãi đá cổ Sapa
Bản dập của Viện bảo tàng Lào Cai

Như vậy, đây là tư liệu cổ nhất nói về văn Khoa Đẩu mà niên đại xuất hiện của loại văn này được ghi nhận từ năm 2253 tr.CN. Mặc dù tư liệu này chưa chắc chắn văn Khoa Đẩu tức là chữ Khoa Đẩu hay là vết tự nhiên trên mai rùa. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng: văn Khoa Đẩu được nói đến trong sách Thông Chí là chữ Khoa Đẩu. Bởi vì, nếu là vết tự nhiên trên mai rùa thì nó không phải là tín hiệu qui ước, để có cấu trúc hoàn chỉnh trùng khớp với tín hiệu ngôn ngữ của người Việt Thường, nhằm diễn tả một cách có hệ thống quan niệm vũ trụ quan (việc trời đất mở mang) và phương pháp làm lịch được.
2- Gần đây các nhà khảo cổ Việt Nam đã đề nghị cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc ghi nhận di tích văn hóa ở Sapa – Lào Cai (“bãi đá cổ Sapa”, trong đó có nhiều tảng đá ghi chữ Khoa Đẩu) là di sản văn hóa thế giới.
3- Trong tác phẩm văn học nổi tiếng Thủy Hử của tác giả Thi Nại Am viết vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh (Trung Quốc) ở hồi cuối có đoạn xin được tóm tắt và ghi lại như sau:

Khi các vị anh hùng Lương Sơn Bạc phân ngôi thứ xong có khối lửa lớn lặn xuống dưới đất phía chính Nam, bèn đào lên để tìm.
“Khi đào tới ba thước đất, chợt thấy một miếng bia đá chạm Thiên Thư ở mặt giữa và cả hai bên. Tống Giang sai đem về làm lễ tạ đàn, rồi sáng hôm sau đưa tiền công quả để tặng cho các đạo tràng và đem bia đá ra xem.
Khi nom đến bia đá thấy chữ ngoằn ngoèo khác hẳn lối thường không còn ai biết nghĩa lý ra sao cả. Sau đó một người đạo tràng họ Hà tên Diệu Thông nói với Tống Giang rằng:
- Tổ phụ nhà tôi khi xưa có một bộ sách chuyên để cắt nghĩa các lối chữ Thiên Thư, vậy lối chữ đây là lối chữ Khoa Đẩu, tôi có thể hiểu được, xin ngài để tôi dịch giúp”.

Thủy Hử là một tác phẩm văn học, do đó việc tảng đá xuất hiện như một cảm ứng của trời đất có thể là sự hư cấu của tác giả; nhưng chất liệu hiện thực trong việc sử dụng chữ Khoa Đẩu là một loại chữ trên thực tế đã tồn tại (chứng tỏ qua di vật Sapa – Lào Cai) đã cho thấy: gần nhất là thời đại của Thi Nại Am (thời đại của tác giả cuối đời Nguyên) xa hơn là cuối thời Bắc Tống (thời của các vị anh hùng Thủy Hử), chữ Khoa Đẩu vẫn còn tồn tại tính từ khi Âu Lạc bị Nam Việt Triệu Đà tiêu diệt hoặc khi Nam Việt bị Hán Vũ Đế thôn tính đã hơn 1000 năm. Điều này chứng tỏ: cho đến cuối đời Bắc Tống không phải tất cả những giá trị của nền văn minh Văn Lang đã được phát hiện – đó là cơ sở để cho rằng Tử vi tuy xuất hiện đầu đời Tống, nhưng chỉ là sự phát hiện tiếp tục về một nền văn minh đã mất (điều này đã được minh họa trong phần trích dẫn trong Địa lý toàn thư ở trên).
Tại sao chữ Khoa Đẩu vốn đã không được sử dụng mà lại lưu truyền với một thời gian tính bằng thiên niên kỷ với những nhà nghiên cứu? Sẽ khó có câu trả lời hợp lý hơn nếu như loại văn tự Khoa Đẩu đó không ghi lại những giá trị văn hóa lớn, thỏa mãn nhu cầu tri thức của con người mà đời sau phải ngỡ ngàng coi như sách của trời (Thiên Thư).

Vậy chữ Khoa Đẩu được nhắc tới trong Thủy Hử, ngoài sự minh chứng cho hệ thống chữ viết chính thức dưới thời Hùng Vương, còn minh chứng cho một nền văn minh bị hủy hoại, chỉ còn sót lại dưới dạng những cuốn sách cổ lưu truyền trong dân gian. Sự phát hiện từng mảng của nền văn minh đó, qua những cuốn sách còn lưu truyền, đã tạo nên những khoảng trống của một hệ thống vũ trụ quan hoàn chỉnh và phạm vi ứng dụng rộng rãi của nó, như đã trình bày ở trên. Để minh họa cho giả thuyết này, xin bạn đọc so sánh những hình vẽ dưới đây trên trống đồng, phải chăng là những hình ảnh thể hiện sự tồn tại của văn tự thời Hùng Vương?
Hình dưới đây là tư liệu trong cuốn Việt sử giai thoại - Tập I (Nxb Giáo Dục 1997 - Nguyễn Khắc Thuần). Được chú thích là hình vũ sĩ.

So sánh với hình tư liệu dưới đây trích lại từ trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (sách đã dẫn) được chú giải: “Người cầm rìu xéo đang múa”. Chúng ta cũng nhận thấy hình này mới thực sự là những hình thể hiện người chiến binh thời Hùng Vương. Còn hình trong Việt sử giai thoại thật khó lý giải với một hình chữ nhật đã cách điệu cầm ở tay trái người này là một thứ võ khí, hoặc là hình ảnh của một vũ công. Phải chăng đây là hình ảnh của một người đọc văn bản? (điều này sẽ được minh chứng rõ hơn ở phần “Y phục thời Hùng Vương")

Hình Cóc trên Trống đồng và Thạp đồng

Ngoài những vấn đề đã trình bày ở trên, xin được minh họa rõ hơn về việc chữ Khoa Đẩu được sử dụng dưới thời Hùng Vương qua hình tượng và ca dao dân gian Việt Nam hiện còn lưu truyền, đó là:
Trên những chiếc trống đồng thời Hùng Vương mà ngày nay đã tìm được, có nhiều hình tượng đúc nổi trên trống đồng.
Qua hình minh chứng ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Một trong những hình tượng đó là con cóc. Điều này có liên quan gì đến câu ca dao:

Con Cóc là cậu ông Trời
Ai mà đánh Cóc thì Trời đánh cho.

Một câu ca dao đầy bí ẩn tương tự như câu tục ngữ (mà lúc đầu là thành ngữ) “Mẹ tròn, con vuông”.
Câu ca dao trên, có người giải thích rằng: bởi vì con Cóc ăn sâu bọ phá hoại mùa màng, nên ông cha ta đặt ra câu ca dao đó là muốn nhắc nhở phải bảo vệ cóc. Hoặc cũng có thể giải thích khác là: nhân truyện cổ tích “Cóc kiện Trời”. Cóc thắng kiện, Trời nể, phải gọi bằng Cậu. Nhưng câu ca dao này không phải là sự kết thúc cho một truyện cổ tích, do nội dung của nó không ăn nhập gì với câu chuyện. Mà chính câu chuyện cổ tích là phương tiện chuyển tải hai câu ca dao này. Bởi vì, nếu đứng một mình, câu ca dao này sẽ tối nghĩa và khó hiểu. Với kết cấu của nội dung câu chuyện thì chưa lý giải được tại sao ông Trời lại gọi Cóc bằng Cậu? Tại sao không phải là bác, là bọ, là chú? Và chỉ cần là con hoặc cháu ông trời cũng đủ đáng sợ rồi, tại sao phải là Cậu? Phải chăng vì đại từ Cậu khẳng định rõ nét Cóc thuộc về bên ngoại thuộc Âm, tức là hình tượng của một giá trị tinh thần nào đó, mà phần bên nội (ông Trời) thuộc Dương (thuộc về giá trị tinh thần). Đến đây có hai khả năng lý giải cho vấn đề này:
1) Cóc là linh vật (Âm) có giá trị tín ngưỡng (Dương).
2) Con Cóc mà con của nó là con nòng nọc (Khoa Đẩu), hình tượng của loại văn tự chính thống của người Việt, là một loại chữ viết để diễn tả những giá trị tinh thần: Sự hình thành vũ trụ (trời đất mở mang. “Thông Chí”, sách đã dẫn), sự vận động của tự nhiên, xã hội và con người... nên được coi là Cậu ông Trời. Cách lý giải 2 có khả năng hợp lý hơn, do sự bỗ trợ bằng bức tranh dân gian “Thầy đồ Cóc”. Xin xem hình vẽ dưới đây:

Thầy đồ Cóc
Tranh dân gian Việt Nam thuộc dòng tranh Đông Hồ

Có lẽ không phải ngẫu nhiên trên bức tranh có dòng chữ “Lão Oa độc giảng”. Tức là ông Cóc già độc quyền giảng dạy. Bởi vì, chỉ có
Cóc mới có chữ để dạy cho đời (con của Cóc là nòng nọc, tức Khoa
Đẩu). Mặc dù bức tranh dân gian nổi tiếng “Thầy đồ Cóc” có thể được vẽ sau thời gian nước Văn Lang bị mất từ lâu (*).

* Chú thích: Người viết có ý niệm cho rằng những bức tranh dân gian đã xuất hiện vào những giai đoạn cuối của nước Văn Lang và điều đó có nghĩa là người Lạc Việt đã làm ra giấy vào thời kỳ này. Sự liên hệ này ngoài những vấn đề liên quan đến chữ viết (giữa hình ảnh con nòng nọc – chữ Khoa Đẩu – và con Cóc lại có mặt trong sự giảng dạy) còn liên hệ đến rất nhiều vấn đề tương quan khác được trình bày trong sách này. Hiện tượng này giải thích hình tượng con Cóc đúc nổi trên trống đồng, chính là sự thể hiện nền văn minh đã có chữ viết của dân tộc Việt.

Như vậy, người Việt đã sử dụng chữ Khoa Đẩu là chữ viết chính thức để ghi nhận những giá trị nền văn minh của mình. Một trong những giá trị ấy chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng rộng lớn của nó trong việc lý giải tự nhiên, xã hội và con người, kể cả dự đoán tương lai. Thuyết Âm Dương Ngũ hành có thể thích hợp, hoặc không còn thích hợp trong cuộc sống hiện đại của con người; tuỳ theo những nhận định của các học giả về tính khoa học hay phi khoa học của học thuyết này. Nhưng với một hệ thống lý luận hoàn chỉnh được chứng tỏ ở những hệ quả là những phương pháp luận của nó được thể hiện trên thực tế ứng dụng với quy mô lớn trong thời gian tính bằng thiên niên kỷ, cũng chứng tỏ được rằng: Nền văn minh chính thống của Văn Lang dưới thời các vua Hùng, không thể là một nền văn minh hoang sơ với hình ảnh sinh hoạt của con người như vừa thoát thai khỏi xã hội bộ lạc nguyên thủy.
Với kết luận chữ Khoa Đẩu là văn tự chính thống của xã hội Văn Lang, điều đó vẫn có nghĩa là: trong xã hội Văn Lang, ngoài chữ Khoa Đẩu hoàn toàn có thể tồn tại những hệ thống chữ viết khác trên một nước rộng lớn: Bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp Đông Hải.
Sự xuất hiện của chữ Khoa Đẩu từ thời Đào Nghiêu (2253 Tr.CN) với nội dung văn Khoa Đẩu ghi trên lưng rùa ghi việc “trời đất mở mang”“việc làm lịch” đã chứng tỏ người Lạc Việt có một học thuyết vũ trụ quan và một tri kiến thiên văn liên quan, khẳng định một nền văn minh phát triển từ rất lâu trước đó. Học thuyết vũ trụ quan của người Lạc Việt đã được minh chứng trong sách này chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đối với một dân tộc, mà hình thái ý thức xã hội chính thống đã có một hệ thống lý học hoàn chỉnh về vũ trụ quan thể hiện ở thuyết Âm Dương Ngũ hành với sự ứng dụng hầu hết trong mọi mặt chủ yếu của cuộc sống; tất yếu dân tộc đó phải có một nền văn hóa, khoa học kỹ thuật với những mối quan hệ xã hội tương ứng, để đảm bảo tính hài hòa cân đối, như là một sự tất yếu để tồn tại và phát triển trong điều kiện của thời đại đó.
Những chương tiếp theo sau đây sẽ tiếp tục chứng minh cho những ý tưởng trên.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...