Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1

Ngày đăng: Thứ sáu 30/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Kinh Dương Vương đi tuần ở Động Đình Hồ, gặp bà Vụ Tiên sinh Lạc Long quân, Tổ phụ Lạc Long Quân thuộc giống Rồng lấy Tổ mẫu Âu Cơ thuộc giống Tiên, sanh được một bọc chứa 100 trứng, nở thành 100 người con trai. Tổ phụ đưa 50 người con xuống biển. Tổ mẫu đưa 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang và người con cả lên ngôi vua là Hùng Vương thứ nhất. Nước Văn Lang chia làm 15 bộ…

Đây là hình ảnh biểu tượng được thần thoại hóa, trong đó gửi gấm những ý tưởng của cha ông truyền lại cho đời sau về nguồn gốc Lạc thư – Hà đồ và thuyết Âm Dương Ngũ hành, khẳng định sự kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang, niềm tự hào của người Lạc Việt. Hình ảnh biểu tượng này được lý giải và trình bày như sau:
@ Cái bọc trứng là sự thể hiện tính bao trùm của vũ trụ với sức mạnh kỳ vĩ trong đó chứa đựng tri thức của một nền văn minh mà sự phát xuất nguyên thủy của nó chính là Thái cực. Tượng của Thái cực là hình tròn, đồng thời là Dương khi phân biệt Âm Dương.
@ Một trăm quả trứng (tức là 100 vòng tròn): Đó là tổng độ số của Lạc thư – Hà đồ, gồm: Độ số của Lạc thư là 45; độ số của Hà đồ là 55; tổng độ số của Lạc thư – Hà đồ đúng 100 vòng tròn. Trong đó có 50 vòng tròn đen thuộc Âm, tương ứng với 50 người con trai theo Tổ mẫu Âu Cơ và 50 vòng tròn trắng thuộc Dương, tương ứng với 50 người con theo Tổ phụ Lạc Long Quân.
@ Lạc thư thuộc Dương (cái có trước) với độ số Dương 25 so với độ số Âm là 20; nhưng thể hiện lý tương khắc thuộc Âm. Hà đồ thuộc Âm (cái có sau) với độ số Âm là 30 so với độ số Dương là 25. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm là nguyên lý bản căn của lý học Đông phương; tương ứng với 50 người con theo Mẹ (Âm) lên núi (Dương). Và 50 người con theo Cha (Dương) xuống biển (Âm).
@ Âm thuộc hình thể nên những người con theo Mẹ lên lãnh đạo đất nước Văn Lang.
@ Trong truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” thì
* Rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ.
* Tiên là biểu tượng của sự thông thái, sáng suốt thuộc về tri thức của con người.
* Sự kết hợp Rồng Tiên là hình ảnh biểu tượng của sự kết hợp giữa tri thức con người và sức mạnh vũ trụ; bắt nguồn từ sự nhận thức của con người với sự vận động của vũ trụ, mà tiền đề căn bản của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư Hà đồ.
Sở dĩ 100 trứng không nở ra 50 con trai (Dương) và 50 con gái (Âm), vì Lạc thư Hà đồ thuộc giá trị tinh thần nên được hình tượng bằng con trai (Dương). Con số 15 bộ hành chính của nước Văn Lang, chính là tổng độ số của ma phương Lạc thư khi cộng ngang, dọc, chéo. Đây là sự vận dụng những qui luật vũ trụ trong việc điều hành đất nước. Trong Lạc thư Hà đồ đã bao gồm lý của Âm Dương Ngũ hành như đã trình bày ở trên. Xin xem hình sau đây:

Độ số Lạc thư = 45

Độ số Hà đồ = 55

Tổng độ số của Lạc thư và Hà đồ đúng bằng 100

Biểu tượng Lạc Thư
45 vòng tròn

Biểu tượng Hà đồ
55 vòng tròn

Tổng số vòng tròn trong Lạc thư và Hà đồ bằng 100
Trong đó:
50 vòng tròn đen (Âm) và 50 vòng tròn trắng (Dương)

@ Phả hệ của vua Hùng còn liên hệ với chu kỳ các sao Thiên cực Bắc được trình bày như sau:
Theo các nhà thiên văn hiện đại thì các chòm sao Thiên cực Bắc thay đổi với chu kỳ 26000 năm. Trong đó:
* Khoảng hơn 7000 năm Tr.CN là sao “t”, thuộc chòm sao Vũ Tiên.
* Gần 3000 năm Tr.CN là sao “a”, thuộc chòm sao Thiên Long
* Hiện tại là sao “a”, thuộc chòm sao Tiểu Hùng Tinh.
(Theo sách Vũ trụ quanh em, tập I – Nxb Giáo Dục – 1998, trang 23)
So sánh với phả hệ của vua Hùng , chúng ta lại thấy một sự trùng khớp sau đây:
Thế hệ thứ nhất:
– Hoàng hậu Vụ Tiên và chòm sao Vũ Tiên
Thế hệ thứ hai:
– Tổ phụ Lạc Long Quân và chòm sao Thiên Long.
Thế hệ thứ ba:

– Quốc tổ Hùng Vương và chòm sao Tiểu Hùng Tinh.
Như vậy, qua phần chứng minh trên, bạn đọc cũng nhận thấy sự trùng khớp hoàn toàn của truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” trong sự lý giải những nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành và những sự vận động của các chòm sao trong vũ trụ gần gũi với Địa cầu. Bạn đọc cũng lưu ý rằng việc phát hiện ra các chòm sao thiên cực Bắc của khoa học hiện đại chỉ khoảng một hoặc hai thế kỷ gần đây.
Giả thuyết về Lạc thư - Hà đồ phát hiện ngay từ thời đầu lập quốc được bổ trợ bằng một di vật khảo cổ là một chiếc rìu đá tìm thấy ở Bắc Sơn, trên đó khắc chòm sao Vũ Tiên (Hercules), có niên đại từ 5000 năm tr.CN, được minh họa ở bên. (theo Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Gs. Trần Ngọc Thêm - Nxb T/p Hồ Chí Minh, In lần thứ 2,1997). Khoa thiên văn học hiện đại đã xác nhận: Chòm sao Vũ Tiên cách đây 7000 năm chính là chòm sao Thiên cực Bắc trên bầu trời nhìn từ trái Đất. Điều này chứng tỏ rằng: từ thời tối cổ, những con người đầu tiên ở vùng đất này đã quan sát thiên văn, để hơn 2000 năm sau đến khoảng đầu thiên niên kỷ thứ 3 tr.CN đã tạo dựng nên một nền văn minh kỳ vĩ với bề dày tính bằng thiên niên kỷ còn truyền lại đến tận bây giờ.
Sự vận động của vũ trụ (cái có trước – Dương – Rồng) kết hợp với tri thức của con người (cái có sau – Âm – Tiên) đã mở đầu cho nền văn minh Văn Lang kỳ vĩ. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và những tri kiến qua việc tìm hiểu thiên văn với những hiệu ứng vũ trụ tác động lên thiên nhiên, cuộc sống và con người chính là nền tảng căn bản của nền văn hiến Văn Lang. Sự kết hợp của Rồng Tiên chính là niềm tự hào của người dân Lạc Việt. Dân tộc Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với niềm tự hào đó. Theo sự lý giải trên thì thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, Lạc thư – Hà đồ phải xuất hiện đồng thời và là giá trị của nền văn minh Văn Lang đã có ngay từ buổi đầu lập quốc. Nền văn minh ấy bao trùm trên một vùng rộng lớn: Bắc giáp Động Đình hồ; Tây giáp Ba Thục; Nam giáp Hồ Tôn; Đông giáp Đông Hải. Đất nước ấy dưới quyền cai trị của các thời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì, bắt đầu từ thời Hùng Vương thứ I (giả thuyết trên sẽ xin được tiếp tục bổ sung qua những phần được trình bày ở những chương sau).

Lịch pháp và khoa Thiên văn cổ Văn Lang

Qua nội dung của Lạc thư - Hà đồ, một vấn đề chứng tỏ tiếp theo là: người Lạc Việt đã phát minh ra lịch, cụ thể là Âm Dương lịch sớm nhất thế giới. Bởi vì phải có sự phát minh ra lịch thì mới có căn cứ để xác định độ số của Hà đồ. Điều này đã chứng tỏ qua sách Thông Chí của Trịnh Tiều, theo đó thì:

Đời Đào Đường (vua Nghiêu - năm 2253 tr.CN) phương Nam có bộ Việt Thường cử sứ bộ qua hai lần phiên dịch sang chầu, dâng con rùa thần có lẽ đã sống trên 1000 năm, mình dài hơn 3 thước, trên lưng có khắc văn khoa đẩu ghi việc trời đất mở mang. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Lịch. (Bàn về Vạn niên lịch, tác giả Tân Việt Thiều Phong, Nxb Văn hóa Dân tộc 1995).

Thời vua Nghiêu được ước tính có niên đại 2253 tr.CN; tức là sau thời Hùng Vương lập quốc 600 năm. Điều hiển nhiên là không phải đến lúc tặng lịch người Việt mới biết làm lịch mà phải làm ra từ trước đó. Căn cứ vào nội dung của Hà đồ và việc tặng lịch của người Việt Thường cho vua Nghiêu; cùng với việc phát hiện ra chòm sao Vũ Tiên đã chứng tỏ: Người Việt đã phát minh ra Âm Dương lịch sớm nhất thế giới, tức là trước thời điểm phát minh ra Lạc thư – Hà đồ. Vì nội dung của Âm Dương lịch không phải chỉ căn cứ đơn thuần vào sự vận động của mặt Trời và mặt Trăng mà còn có sự tương ứng với vị trí của những chòm sao trên Thiên hà gần Thái Dương Hệ.
Các truyền thuyết từ cổ thư Trung Hoa lưu truyền từ đời Hán về sau cho rằng: lịch pháp cổ Trung Hoa do vua Nghiêu sai hai đại thần của mình là họ Hy và họ Hòa làm ra. Nhưng điều này đã bị các học giả Văn Lang phản bác. Trong dân gian Việt Nam còn truyền tụng một câu ca dao độc đáo:

Ai về nhắn họ Hy Hòa
Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh?

Hai câu ca dao này không thể xuất hiện từ thời Việt Nam hưng quốc trở về sau. Bởi vì nếu xuất hiện vào khoảng thời gian này thì đã không có việc sử dụng lịch của các vương triều Trung Hoa; càng không thể xuất hiện vào thời Bắc thuộc từ sau Công nguyên. Hai câu ca dao này chỉ có khả năng xuất hiện trong giai đoạn đầu của thời Bắc thuộc dưới triều Hán; đó là lúc Nho giáo được độc tôn và những kinh điển của Nho giáo coi lịch pháp là phát minh của triều đại vua Nghiêu. Đây cũng là lúc chế độ Lạc hầu, Lạc tướng vẫn còn được duy trì ở những vùng còn lại của Văn Lang; hay nói một cách khác là những cơ sở hạ tầng của xã hội Văn Lang ở một mức độ nào đó vẫn tồn tại (*)

* Chú thích: Từ những ý tưởng trong phần này, người viết đã tiếp tục trình bày rõ hơn trong sách “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp”. Nxb VHTT 2002.Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa và bổ sung.

Chính sự dùng lối thắt nút
Sự ứng dụng qui luật vũ trụ trong việc điều hành đất nước dưới thời Hùng Vương

Các thời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì Văn Lang đã coi Âm Dương Ngũ hành và những tri thức về thiên văn được phát hiện từ căn bản của Lạc thư – Hà đồ như là một hệ tư tưởng chính thống, làm chủ đạo cho việc điều hành ổn định và phát triển xã hội. Và đó là nguyên nhân của vấn đề được nói tới trong cổ sử Việt Nam “Chính sự dùng lối thắt nút”. Đây là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi tìm hiểu về thực trạng xã hội Văn Lang, nhưng chưa có sự lý giải thỏa đáng. Với quan niệm cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư Hà đồ thuộc về nền văn minh Văn Lang và là hệ tư tưởng chính thống, làm chủ đạo cho việc điều hành xã hội thì “Chính sự dùng lối thắt nút” có thể giải thích như sau:
Trong các sách sử khi nói tới sự lạc hậu của thời đầu lập quốc, thường thí dụ qua một câu trong truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên”“Chính sự dùng lối thắt nút”.
Phải chăng vào buổi đầu lập quốc cách đây gần 5000 năm, khi việc sử dụng chữ viết chưa phải là một hiện tượng phổ biến trong sinh hoạt xã hội; “Chính sự dùng lối thắt nút” mà cổ sử nhắc tới, tức là sự thể hiện quan điểm vũ trụ quan qua lối thắt nút để chứng minh cho việc điều hành xã hội thuận theo qui luật tự nhiên, chứ không phải là văn tự thể hiện bằng thắt nút. Qua những chấm đen, trắng được nối nhau của Lạc thư Hà đồ – là những tiền đề khởi nguyên cho khoa thiên văn của nền văn minh Văn Lang – mà những phát hiện của nó đã góp phần quyết định cho chính sự Văn Lang (thể hiện ở sự phận định địa lý hành chính: chia nước thành 15 bộ); phải chăng tổ tiên ta đã dùng nút dây để biểu tượng cho độ số của Âm Dương Ngũ hành và khoa thiên văn của nền văn minh Văn Lang, để truyền đạt những tri thức căn bản của hệ tư tưởng chính thống thuộc nền văn minh này.

Biểu tượng Lạc thư thể hiện bằng nút thắt

Hình dưới đây minh họa cho giả thuyết nêu trên, thể hiện những nút thắt tương ứng với Lạc thư (một gút là Dương, hai gút là Âm).
Như vậy, qua vấn đề “Chính sự dùng lối thắt nút” trình bày ở trên, chứng tỏ là các vua Hùng đã thuận theo quy luật vận động của vũ trụ để ứng dụng vào việc điều hành đất nước. Căn cứ trên cơ sở này lý giải việc các vua Hùng chia nước làm 15 bộ như sau:
Như phần trên đã trình bày, tổng độ số của Lạc thư cửu cung ngang, dọc, chéo là 15. Do đó việc chia nước làm 15 bộ là một việc thuận theo tự nhiên được ghi nhận ở Lạc thư cửu cung; khác hẳn với ý nghĩa: tập hợp 15 bộ lạc để trở thành liên minh bộ lạc gọi là Văn Lang, như một số nhà nghiên cứu hiện đại đã quan niệm để minh chứng cho sự lạc hậu của thời Hùng Vương.
Từ đó suy ra những vấn đề chính sự mà cổ sử Trung Hoa nhắc tới liên quan đến Lạc thư – Hà đồ, thí dụ như: “Vua Vũ định ra phép cống chín châu...”. Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng: đó là việc làm các vua Hùng, vì nó liên quan đến Lạc thư cửu cung.

Tử vi đẩu số - Một ví dụ khẳng định tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương ngũ hành với những vấn đề liên quan

Người ta không thể tìm thấy sự liên quan đến nhau giữa thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán trước thời Tần. Nhưng những phương pháp ứng dụng của học thuyết này lại phổ biến trong mọi lĩnh vực học thuật cổ Đông phương như: Y lý, lịch số, dự đoán học... và đặc biệt trong Tử vi. Điều này đã chứng tỏ tính nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành trên thực tế.
Tử vi đẩu số là một cuốn sách có tham vọng dự đoán tương lai cho số phận con người. Số Tử vi dựa trên sự phân bố của hơn 100 vì sao trên 12 cung Tử vi, sự dự đoán của nó trên cơ sở sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành được thể hiện trong tính chất của các cung và các vì sao tương quan đến nhau. Người công bố cuốn sách này theo truyền thuyết Trung Hoa là Trần Đoàn lão tổ vào đầu thời Tống. Nhưng chính sự liên quan và khoảng trống trong việc ứng dụng phương pháp luận thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Tử vi đã chứng tỏ những vấn đề sẽ được trình bày sau đây.

Ý nghĩa sự liên quan và khoảng trống giữa những ý niệm bản căn của thuyết Âm Dương Ngũ hành với những vấn đề thuộc phạm trù của nó trong sự ứng dụng qua Tử vi đẩu số

Môn Tử vi đẩu số được công bố vào đầu đời Tống, sau khi Văn Lang và sự tiếp nối của nó là Âu Lạc bị tiêu diệt hơn 1000 năm. Nhưng giữa môn Tử vi đẩu số cũng như hầu hết các môn ứng dụng thuyết Âm Dương Ngũ hành của văn minh Đông Phương cổ như: thiên văn, địa lý (phong thủy), y lý, lịch số ... và Lạc thư – Hà đồ có sự liên quan và khoảng trống xin được trình bày qua môn Tử vi đẩu số như sau:

Sự liên quan
Sự liên quan dễ nhận thấy là thuyết Âm Dương Ngũ hành là phương pháp luận duy nhất lý giải, luận đoán lá số Tử vi. Những sự liên quan khác trong tính đặc thù của lá số Tử vi xin được dẫn chứng như sau:
@ So sánh đồ hình Hà đồ cửu cung với đồ hình Tử vi bạn đọc sẽ nhận thấy mỗi hành gồm hai cung Âm và Dương. Sự vận động của Ngũ hành trong Hà đồ cửu cung theo chiều thuận kim đồng hồ thể hiện sự tương sinh của Ngũ hành: Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hoả; Hỏa sinh Thổ (Trung cung). So sánh đồ hình Tử vi đẩu số thì: mỗi hành cũng gồm hai cung Âm và Dương. vận động theo chiều kim đồng hồ thể hiện Ngũ hành tương sinh.
@ Đồ hình Hà đồ có nội dung thể hiện sự vận động, tương tác của Ngũ hành trong vũ trụ qua các sao gần gũi với trái đất trong Thái Dương hệ. Đồ hình Tử vi đẩu số là sự phát triển của Hà đồ cửu cung (có nội dung thể hiện sự tác động do ảnh hưởng của Ngũ hành qua các sao trên), bỏ trung cung thuộc Thổ, thêm 4 cung Thổ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi sau mỗi Hành, thành 12 cung để cân bằng Âm Dương và thể hiện qui luật sinh, vượng, mộ trong sự vận động của Ngũ hành. Xin xem hình vẽ dưới đây:


@ 12 cung của Tử vi được sắp theo thứ tự của 12 con giáp bắt đầu từ Tý khởi từ cung thứ hai hàng dưới từ bên phải sang, kết thúc là Hợi theo chiều kim đồng hồ. Tên của các cung trong Tử vi là tên gọi của các năm Âm lịch, mà tính chất của nó chính là chu kỳ tương ứng 12 năm Địa cầu quay quanh mặt Trời với năm của sao Mộc ( tức sao Thái tuế, là một trong những hành tinh lớn trong hệ mặt Trời gần trái Đất nhất). Đồng thời đây cũng chính là chu kỳ thời gian thu nhỏ, đồng dạng theo chu kỳ thời gian vận động vũ trụ trong Thái Ất và Kỳ Môn (Trong Thái Ất: Một nguyên = 180 năm, chia làm thượng, trung, hạ; 6 Nguyên là một vận = 1080 năm; 12 Vận là một Hội = 12.960 năm; 12 Hội là một Đại Nguyên, được đặt tên theo 12 con giáp. Chu kỳ của một Đại Nguyên bắt đầu từ Hội Tý, kết thúc ở Hội Hợi. Theo Thái Ất thì hiện nay đang ở trong Hội Ngọ thuộc Hỏa – sắc hồng của thịt heo trong bánh chưng, bánh dầy, phải chăng thể hiện điểm xuất phát và sự chi phối của hành Hỏa trong hội này).
@ Hầu hết các vì sao được phân bố trên 12 cung Tử vi dựa trên dữ kiện là ngày, giờ, tháng, năm sinh của người lập lá số đều có trong Thái Ất và Độn Giáp. Thí dụ: sao Tử vi chính là Ngũ Đế Tọa, hoặc sao Phá Quân (Bộ Sát, Phá, Liêm, Tham) chính là vị sao đầu tiên thuộc chòm sao Đại Hùng hay Hoa Cái, Thiên Trù (trong Lạc thư cửu tinh đồ) đã dẫn trong sách này v.v...

Khoảng trống
Trong Tử vi chỉ có phương pháp ứng dụng mà không có lý giải, thí dụ như:
@ Quy luật phân bố các sao dựa trên ngày, giờ, tháng , năm sinh của lá số.
@ Ngũ hành trong Tử vi đẩu số đã được phát triển chi tiết hơn gồm 6 tính chất cho mỗi hành. Thí dụ như hành Hỏa thì gồm: Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét); Sơn Đầu Hỏa (lửa trên núi - nham thạch); Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời); Phúc Đăng Hỏa (lửa trong đèn); Lư Trung Hỏa (lửa trong lò). Sự phân chia mỗi hành thành 6 tính chất lại liên quan đến việc ứng dụng thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Âm lịch; tức là liên quan đến việc nạp âm Ngũ hành trong Lục thập hoa giáp. Nhưng hiện tượng nạp âm Ngũ hành trong Âm lịch, cho đến bây giờ vẫn còn là một vấn đề bí ẩn của văn minh Đông phương (vấn đề này, người viết đã hân hạnh trình bày với bạn đọc trong sách “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp”).
@ Tính chất và sự tương tác của các sao để tạo nên hiệu quả dự đoán của lá số. Tham vọng dự đoán rất chi tiết: Đến từng ngày của lá số.

Tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và vấn đề tác giả Tử vi đẩu số

Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ sự ứng dụng của nó rộng khắp trong nhiều lĩnh vực: y học, thiên văn, lịch số... Thậm chí trong cả những lĩnh vực thuộc sự vận động của xã hội và con người, như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, những tài liệu liên quan đến những lĩnh vực này, chỉ nói đến phương pháp thực hiện và thiếu phần lý giải liên hệ. Không riêng gì môn Tử vi, mà có thể khẳng định rằng: Tất cả các môn cổ học Đông phương ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành đều ở trong một tình trạng thiếu hẳn một hệ luận liên hệ với một hệ thống lý luận căn bản (vốn rất mơ hồ). Những khoảng trống này, không phải vì không có sự liên quan trong quá trình phát triển lý thuyết và sự quan sát thực tế để ứng dụng, nằm trong phạm trù của thuyết Âm Dương Ngũ hành với những phương pháp thực hiện. Chính những khoảng trống lý thuyết liên hệ và sự huyễn ảo của hệ thống lý luận căn bản đã chứng tỏ một cách sâu sắc rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, khi phương pháp luận của học thuyết này phổ biến rộng khắp trên hầu hết mọi lĩnh vực liên quan đến con người. Nhưng hệ thống lý luận căn bản của học thuyết này đã bị thất truyền và cội nguồn của nó không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, nếu nó thuộc về văn minh Hoa Hạ, thì không thể có khoảng trống trong quá trình phát triển lý thuyết và sự ứng dụng của học thuyết này (mức độ tàn phá của lịch sử đối với nền văn minh Trung Hoa và văn minh Văn Lang hoàn toàn khác nhau).
Vì vậy, mặc dù cho đến tận ngày hôm nay – khi bạn đọc đang coi cuốn sách này – các nhà Lý học Trung Hoa nói riêng và cả những nhà nghiên cứu trên thế giới, vẫn còn chưa tìm được bản chất sự liên hệ giữa thuyết Âm Dương và Ngũ hành – thì thật là vô lý, lại có một bộ môn ứng dụng học thuyết này trong việc dự đoán tương lai, được tính đến đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ, như Tử vi đẩu số.
Cho dù xuất phát từ những cái nhìn khác nhau, hoặc về tính khoa học (trên cơ sở hiệu quả dự đoán tồn tại hàng ngàn năm nay), hay phi khoa học (trên cơ sở khoa Tử vi thiếu hẳn một hệ thống lý luận căn bản, mà chỉ có phương pháp ứng dụng) thì thực tế vẫn là: những phương pháp ứng dụng trong Tử vi đẩu số có những qui tắc hẳn hoi và rất phức tạp (cho dù một số qui tắc vẫn gây sự bàn cãi). Hoàn toàn không thể cho rằng: Đó chỉ là một phương pháp thống kê, một hệ quả của kinh nghiệm, một trò chơi toán học … Bởi vì, không một phương pháp thống kê nào, hoặc sự tổng hợp những kinh nghiệm, hay một lý thuyết toán học nào được thực hiện ngay trong xã hội loài người hiện đại với tất cả phương tiện tốt nhất có thể có, để tạo ra những phương pháp thực hiện một lá số với tham vọng dự đoán tương lai cho một con người đến đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ như Tử vi đẩu số. Sự tồn tại và lưu truyền hàng ngàn năm (ít nhất từ đời Tống, kể từ khi Trần Đoàn lão tổ công bố môn này) với dấu ấn của một học thuyết vũ trụ quan cổ là thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ rằng: Tử vi đẩu số đương nhiên phải là hệ luận và là sự phát triển của học thuyết này. Vì vậy, chính sự tồn tại của Tử vi đẩu số đã chứng tỏ tính thống nhất và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và khả năng phát triển lý thuyết của nó. Nếu quan niệm cho rằng: “Thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ là một học thuyết vũ trụ quan thô sơ, sự phát triển của học thuyết này (nếu có) chỉ là hiện tượng duy lý với sự chặt chẽ có tính hình thức”, thì người ta cũng không thể phát triển được hệ quả của một học thuyết từ một sự mơ hồ của nó như môn Tử vi đẩu số mà hiệu quả của nó đã chứng tỏ và được lưu truyền hàng ngàn năm nay.
Vì vậy, trên thực tế cho đến ngày hôm nay, khi thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn còn chứa đầy sự huyễn ảo, thì mặc dù trong Tử vi đầu số có những yếu tố chưa nói đến ở những sách Lý học liên quan đến Âm Dương Ngũ hành được phát hiện trước đó; nhưng hoàn toàn có cơ sở để hoài nghi Trần Đoàn lão tổ không phải là tác giả của Tử vi. Ông chỉ là người công bố sự phát hiện của mình đối với những giá trị của nền văn minh Văn Lang vẫn còn tồn tại, lưu truyền trong dân gian. Ông ta không thể phát triển tạo nên một hệ quả của một học thuyết trong Tử vi đẩu số, từ một sự huyễn ảo của học thuyết này. (xin xem thêm phần “Một hệ thống chữ viết chính thức của nền văn minh Văn Lang” ở phần sau). Để minh họa điều này xin được trình bày một đoạn trích dẫn từ sách Địa lý toàn thư (tác giả Lưu Bá Ôn, Nxb VHTT 1996, dịch giả Lê Khánh Trường, Lê Việt Anh):

Lưu Công học xong học thuật phong thủy năm 40 tuổi, dùng thuật đó hành nghề 22 năm, được mọi người tôn kính, vì ông đem lại cho họ nhiều ích lợi. Tất cả những việc này đều được ghi lại. Trước thư lập thuyết là đại sự của đời ông, lẽ nào người đời bỏ quên?
Chúng ta hãy xem nguồn gốc của thuật phong thủy mà ông học được từ đâu?
Lưu Công học từ con gái của Ngô Cảnh Loan.
Ngô Cảnh Loan học được từ Hy Di Trần Đoàn.
Trần Đoàn học từ Tăng Văn Địch.
Tăng Văn Địch học từ Dương Quân Tùng.
Dương Quân Tùng và Tăng Cầu Kỷ
vốn là chỗ thâm giao. Vào khoảng năm cuối đời của Đường Hy Tông, loạn Hoàng Sào nổi lên, đánh tới kinh đô Trường An. Hai người Dương, Tăng nhân lúc chiến tranh loạn lạc lên đánh cắp “Quốc Nội Thiên Cơ thư” trong Quỳnh Lâm khố. Học xong mới biết cuốn sách này nguyên là của Khâu Đình Hàn dâng cho triều đình.
Khâu Đình Hàn vốn là người huyện Vân Hỷ tỉnh Hà Đông từng được thần tiên truyền cho kinh sách nên thông hiểu đạo lý Âm Dương

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Phụ chương: Những vấn đề về nguồn gốc kinh dịch. Trong cuốn sách này, người viết vẫn theo truyền thuyết đã tồn tại hàng ngàn năm coi Bát quái trong kinh ...

Sử giải lý bàn nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương ngũ hành từ nền văn minh Văn Lang: Để tìm hiểu bản nguyên của vũ trụ bắt đầu từ Thái Cực – Âm ...

Sự mâu thuẫn trong truyền thuyết và thư tịch cổ Trung Hoa về thuyết Âm Dương ngũ hành. Sự mâu thuẫn về thời điểm xuất xứ: Theo Lý học Trung Hoa phát ...

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...