Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương

Ngày đăng: Thứ tư 28/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Sự hoài nghi của người viết, dựa trên cơ sở một truyền thuyết được coi là của chính nền văn minh Trung Hoa (tuy nhiên phải xem lại xuất xứ của nó có phải ở miền Nam sông Dương Tử hay không?). Truyền thuyết này có những yếu tố phản bác tác giả của Bát quái trong kinh Dịch là Phục Hy và Chu Công. Xin được thuật lại như sau (Đoạn sau đây được trích trong bộ Tam Quốc Chí, tác giả La Quán Trung, dịch giả Phan Kế Bính, Nxb Đại Học & Giáo Dục chuyên nghiệp Hà Nội 1988, tập 6, trang 167, hồi thứ 86):

“Tần Bật biện bác hỏi vặn Trương Ôn.
Từ Thịnh hỏa công phá quân Ngụy chủ”

... Khi ấy Tần Bật ứng đối trôi chảy, nói năng hoạt bát, cả đám ngồi đều kinh. Trương Ôn không hỏi vặn được câu gì nữa. Bật mới hỏi lại rằng:
- Tiên sinh là danh sĩ Đông Ngô, đã lấy việc trên trời mà hỏi, tất là hiểu sâu lẽ trời. Khi xưa lúc hỗn độn mới mở, Âm Dương chia biệt, khí nhẹ mà trong thì bay lên thành trời; khí nặng mà đục thì đọng xuống dưới thành đất. Đến đời họ Cung Công đánh trận thua, húc đầu vào núi Bất Chu thì cột trời đổ gẫy mà rường đất sứt mẻ, trời nghiêng về phía Tây Bắc, đất đổ về phía Đông Nam. Trời đã là khí nhẹ mà trong, làm sao lại còn nghiêng về phía Tây Bắc? Vả lại, ở ngoài lần khí nhẹ mà trong còn có vật gì nữa, xin tiên sinh dạy cho tôi được biết?

Trương Ôn không biết đối đáp ra sao mới đứng dậy tạ rằng:
- Tôi không ngờ trong Thục lắm người tuấn kiệt thế này, nghe lời ngài giảng luận, khiến tôi mở được đường ngu dốt...

Đoạn trích dẫn trên chỉ là phần mở đầu của truyền thuyết huyền thoại về sự tích lúc trời đất mở mang của Trung Hoa.
Đoạn sau của truyền thuyết này tiếp tục kể rằng:

Khi cột trời đổ gẫy, nước từ trên trời trút xuống gây lũ lụt ở trần gian, khiến muôn loài điêu linh. Bà Nữ Oa phải luyện đá ngũ sắc, vá trời ngăn mưa lũ. Sau đó khiến một con rùa lớn đứng đội trời lên, thay cho cột trời đã gẫy. (Truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”)

Qua nội dung truyền thuyết nói trên, người viết nhận xét thấy có một sự liên quan khá chặt chẽ đối với xuất xứ của Bát quái Tiên thiên như sau:

Xét sự sắp xếp của 8 Quái trong Tiên thiên ở hình vẽ trên (tương truyền do vua Phục Hy phát hiện) thì quẻ Càn (trời) ở trên; Khôn (đất) ở dưới, ứng với đoạn đầu của truyền thuyết: Khí nhẹ và trong bay lên thành trời; khí nặng và đục tụ xuống thành đất.
Đối với sự sắp xếp lại quẻ Hậu thiên Bát quái, những nhà nghiên cứu lịch sử Lý học Trung Hoa cho rằng: đó là do vua Văn Vương nhà Chu khi bị Trụ Vương giam ở ngục Dữu Ly, ngài đã nghiên cứu Bát quái Tiên thiên và hiệu chỉnh lại thành Bát quái Hậu thiên, như hình
vẽ sau đây:

Hậu thiên bát quái theo cổ thư chữ Hán

Theo truyền thuyết thì trong Hậu thiên Bát quái, ngài Chu Văn Vương đã đưa quẻ Càn (trời) lệch về phía Tây Bắc.Truyền thuyết cũng cho rằng ngài đã chú giải kinh Dịch. Lời chú giải của ngài gọi là Soán từ, như đã trình bày ở trên.
Nhưng ứng với truyền thuyết thì sự nghiêng lệch của trời đất lại do cột trời đổ gẫy. Cột trời có tên là Bất Chu, hiểu theo một nghĩa khác thì Bất Chu nghĩa là không phải nhà Chu làm trời lệch sang phía Tây Bắc. Qua hình vẽ dưới đây, bạn đọc sẽ thấy trong hình Hậu thiên, quẻ Càn (trời) lệch về phía Tây Bắc. Phía trên thay thế là quẻ Khảm (thuộc Thủy) ứng với truyền thuyết: Nước từ trên trời đổ xuống gây lụt lội khắp nơi. Chi tiết khác nhau duy nhất là theo truyền thuyết thì đất lệch về hướng Đông Nam; nhưng ở hình Hậu thiên Bát quái - quẻ Khôn (tượng Đất) - lệch về phía Tây Nam. Sự sai lệch giữa truyền thuyết và thực tế sắp xếp của Hậu thiên Bát quái có thể lý giải do sự tam sao thất bản vì đã lưu truyền hàng ngàn năm (kể từ khi Văn Lang bị đô hộ đến thời Tam Quốc chí thì đã 400 năm, đến thời La Quán Trung viết Tam Quốc thì đã hơn 1000 năm).
Tuy nhiên, theo cái nhìn của người viết thì – mặc dù sự sắp xếp quẻ Hậu thiên Bát quái có bản văn truyền lại theo cổ thư chữ Hán (tiết 5, Thuyết quái truyện) – nhưng đã sai lệch. Còn câu chuyện thần thoại này – mặc dù được truyền miệng, lại chứng tỏ tính chính xác của nó – là một mật ngữ hướng dẫn cho việc đi tìm những bí ẩn của văn hóa Đông Phương. Bởi vì: xét Bát quái Tiên thiên thì các quẻ đều có sự đối xứng Âm Dương qua tâm điểm, nhưng ở Bát quái Hậu thiên không có sự đối xứng đó. Nếu ta theo truyền thuyết đưa quẻ Khôn (Đất) về vị trí Đông Nam và quẻ Tốn đang ở phía Đông Nam về vị trí Tây Nam của quẻ Khôn, thì sẽ lặp lại qui luật đối xứng qua tâm của hình Bát quái Hậu thiên. Qui luật đối xứng (cân bằng Âm Dương) là nguyên lý căn bản của Lý học Đông phương. Xin độc giả so sánh hai hình vẽ dưới đây để tham khảo.

Hậu thiên bát quái theo cổ thư chữ Hán

Hậu thiên bát quái
Đã sửa vị trí Tốn, Khôn theo truyền thuyết
“Đất lệch về phía Đông Nam”

Xuất phát từ sự trùng hợp phản bác đến kỳ lạ của truyền thuyết với nguyên nhân xuất hiện của Hậu thiên Bát quái và kinh Dịch thiếu một hệ thống lý thuyết căn bản cho sự vận động của nó (có thể nguyên lý của Bát Quái trong Dịch học nằm ngay trong truyền thuyết nói trên). Đó là lý do đầu tiên khiến người viết đặt vấn đề hoài nghi nguồn gốc đích thực của kinh Dịch.
Sự hoài nghi nguồn gốc Hậu thiên Bát quái do vua Chu Văn Vương trước tác, còn xuất phát từ chính sự nghiệp của ngài Khổng tử. Bởi vì, nếu do vua Văn Vương - vị vua sáng lập nhà Chu - trước tác thì tất nhiên kinh Dịch phải là quan điểm vũ trụ quan chính thống của nhà Chu và phải được phổ biến. Nhưng tại sao với một đại học giả như ngài Khổng tử mà suốt đời bôn ba khắp các nước chư hầu, lại đã từng làm quan ở một số nước mà mãi đến cuối đời mới biết đến Dịch học? Để rồi ngài phải lấy làm tiếc vì đã già không có thời gian nhiều để hiểu hết kinh Dịch. Điều này được chứng tỏ qua đoạn trích dẫn trong sách Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương (Gs. Nguyễn Hữu Lượng - Nxb T/p Hồ Chí Minh 1992 - trong phần “Thay lời giới thiệu” - phần này do Gs. Bửu Cầm viết) như sau:

... chính Khổng tử trước khi từ trần, còn than tiếc nói với học trò: “Giá như ta được thêm ít năm nữa để học Dịch cho trọn vẹn thì không có điều sai lầm lớn” (Luận Ngữ học tri).

Ngài chưa hiểu hết sự biến hóa kỳ ảo của Bát quái, thì tại sao ngài lại có thể diễn giải ý nghĩa cho các quẻ Dịch như những sách về lịch sử Dịch học Trung Hoa đã nói tới. Khổng tử - một đại học giả - được tặng danh hiệu “Vạn thế sư biểu”, tất nhiên không thể có việc san định thiếu thận trọng, nhất là lúc ngài đã đứng tuổi. Một điều đáng lưu ý nữa là: Vào thời Xuân thu Chiến quốc (tức là tương đương ới thời Khổng tử và sau đó hàng trăm năm) có rất nhiều các nhà tư ưởng nổi tiếng Trung Hoa như Mạnh tử, Hàn Phi tử, Tuân tử... nhưng rong các trước tác của họ không hề có một câu nhắc đến kinh Dịch. ếu như kinh Dịch được Khổng tử san nhuận và phổ biến với kinh ách của ông; thì với một người nổi tiếng như ông, không thể nào tư tưởng của kinh Dịch do ông san định lại không ghi dấu ấn cho các học giả đời sau.
Những vấn đề nêu trên đã chứng tỏ kinh Dịch không phải là một học thuyết phổ biến và càng không phải là một hệ thống vũ trụ quan của nền văn minh Trung Hoa, ít nhất đến thời Khổng tử. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề rằng: cả Khổng tử lẫn Chu Công, các ngài chưa hề san nhuận hoặc chú giải kinh Dịch. Sự gán ghép khiên cưỡng cho các ngài chú giải kinh Dịch đã tạo ra sự phi lý:

Sinh con rồi mới sinh cha
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông

Cũng như hiện tượng gán ghép vua Phục Hy dựa vào Hà đồ để vạch quẻ Bát quái Tiên thiên, vua Văn Vương dựa vào Lạc thư làm ra Bát quái Hậu thiên. Nhưng Lạc thư lại là phương tiện để xuất hiện Hà đồ và nội dung cả hai đồ hình này đều thể hiện sự vận động của Ngũ hành. Tất cả những sự phi lý nói trên đã phủ nhận kinh Dịch có nguồn gốc từ văn minh Hoa Hạ. Vấn đề này chính những nhà Lý học Trung Hoa thời Tống cũng lên tiếng hoài nghi. Đoạn trích dẫn dưới đây chứng tỏ điều này (Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương - sách đã dẫn, trang 85):

Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ tính như ai! Ngay trong làng Nho, thiếu gì người lên tiếng đả kích Hán nho, nhất là đả kích Khổng An Quốc. Du Diễm đời Tống căn cứ vào câu nói của Khổng tử trong Dịch Hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo” mà cho rằng Đồ Thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy, chứ không phải hai thời khác nhau như họ Khổng đã chia ra. Ông nói: Phục Hy bắt chước theo Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, Thế mà Khổng An Quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà đồ, còn Đại Vũ bày Cửu trù phải bắt chước theo Lạc thư. Vì sao họ Khổng lại chia làm hai như vậy? Sách Cửu Kinh biện nghi của họ Trần xét theo Ngọc xuyên văn tập có nói: “Nếu bảo Phục Hy hoạch quái, gốc ở Hà đồ thì Khổng tử chỉ cần nói Đồ xuất hiện ở sông Hà, đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi, hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Đã nói: bắt chước theo Đồ, Thư để làm Dịch thì như thế Đồ Thư đều phải có từ đời Phục Hy, chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc Thư”? Họ Du tiếp thêm: Số của Dịch bất quá từ Trời 1 đến Đất 10, chỉ có 44 số mà thôi, chứ chưa từng được mệnh danh là Hà đồ, cũng như chưa từng được mệnh danh là Lạc thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo: Thời Phục Hy có con long mã mang Đồ xuất hiện ở sông Lạc, nhà Vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành Cửu trù, gọi là Lạc thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?”
Chưa hết, Du còn phê bác, chỉ trích nhiều điểm khác: “Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những nét chấm của Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, chứ chẳng phải Đồ Thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Dịch Hệ từ nói: ngửa trông tượng ở trên trời, cúi xem phép ở dưới đất, quan sát hình nét của chim muông cùng với sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở mình, xa thì lấy ở vật, do đó mới vạch Bát quái; vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ và Lạc thư thôi sao?”

Nhưng Bát quái của Dịch học bắt nguồn từ đâu?
Theo như truyền thuyết đã trình bày ở trên, thì: Bát quái Tiên thiên và Hậu thiên đã có ngay từ thời tối cổ. Sự có mặt của Thái Cực - Âm Dương trong các bản Chu Dịch chữ Hán trước đây, cũng như sự có mặt của Âm Dương Ngũ hành trong các sách liên quan đến học thuyết này (Thí dụ như sự ứng dụng của nó trong Chu Dịch và Dự đoán học của tác giả Thiệu Vĩ Hoa), thực ra đã có từ lâu trong nền văn minh Văn Lang. Nhưng đấy chỉ là sự vận dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành để lý giải Dịch của tác gia Văn Lang. Chính sự có mặt của thuyết Âm Dương Ngũ hành với Bát quái, đã chứng tỏ Bát quái thuộc về một nền văn minh tối cổ tồn tại trong xã hội Văn Lang. Việc sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành để giải đoán quẻ trong “Chu Dịch và dự đoán học” không thấy có trong bản Chu Dịch gốc như đã trình bày ở trên. Điều này chứng tỏ rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là nguồn gốc của kinh Dịch và sự vận động của Bát quái chỉ là sự thể hiện của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hiện tượng này đã chứng tỏ tính bao trùm của học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đó là nguyên nhân để cuốn “Chu Dịch và dự đoán học” do ông Thiệu Vĩ Hoa công bố có thể sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành giải đoán quẻ Dịch. Nhưng như các phần trên đã đặt vấn đề: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán; Bát quái chỉ là ký hiệu thể hiện của học thuyết này.(*)

* Chú thích: Trong lần xuất bản trước, người viết không có ý tưởng này (phần in nghiêng) và vẫn cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành không liên quan đến kinh Dịch. Nhưng xuất phát từ sự hoài nghi đã trình bày ở trên, ngay sau lần xuất bản đầu tiên, người viết đã tiếp tục tìm hiểu về kinh Dịch và hiệu chỉnh như trên. Những ý tưởng trong phần phụ chương này, sau lần xuất bản thứ nhất, được trình bày trong sách “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” (Tái bản lần 1, Nxb VHTT – 2002).

Chính vì không phải là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, cho nên ngay cả việc ứng dụng Âm Dương trong thuyết Âm Dương Ngũ hành vào Bát quái từ nguyên lý khởi nguyên trong cổ thư chữ Hán, đã chứng tỏ tính phi lý của nó. Qua biểu tượng kinh Dịch quen thuộc dưới đây bạn đọc cũng nhận thấy vòng tròn (Thái Cực) với 2 nửa Âm Dương ở giữa – vốn được coi là nguồn gốc của Bát Quái. Bát Quái bao quanh thể hiện sự biến hóa của Âm Dương. Nhưng với 2 quẻ: Càn ( ) thuần Dương và Khôn () thuần Âm, so với biểu tượng của Âm Dương trong vòng tròn thì cái nào có trước? Không lẽ tính thuần Dương của quẻ Càn không phải là Dương trong vòng tròn (Dương bản nguyên) nhưng lại là Dương? Tính thuần Âm của quẻ Khôn không phải là Âm trong vòng tròn (Âm bản nguyên) nhưng lại là Âm?

Đồ hình minh họa qua bát quái Tiên Thiên

Sự phi lý do gán ghép khiên cưỡng này trải hàng thiên niên kỷ, phải chăng đã được ông cha ta nói đến trong một câu đố nổi tiếng: “Mồm bò, chẳng phải mòm bò, nhưng lại là mồm bò”. Câu đố được lý giải là con ốc! Con ốc thì không phải mồm (con) bò, nhưng dùng mồm để bò thì lại là con ốc. Thực là một lối chơi chữ đến tuyệt kỹ, cuối cùng chẳng hiểu là con gì?
Hơn nữa, kinh Dịch vốn được coi là một cuốn sách “bói”. Cũng chính vì được coi là một cuốn sách bói, nên nó đã thoát khỏi ngọn lửa hủy diệt văn hóa của Tần Thủy Hoàng. Trên thực tế, kinh Dịch dùng đã bói cũng đã trải hàng thiên niên kỷ; cho đến tận bây giờ, hầu hết những nhà nghiên cứu vẫn cho rằng kinh Dịch dùng để bói. Nhưng, chúng ta cũng biết rằng một trong những tiêu chuẩn để thẩm định cho một luận thuyết khoa học là nó phải có khả năng dự báo. Khả năng dự báo này chỉ thực hiện được sau khi đã hình thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Trong khi đó, kinh Dịch đã chứng tỏ khả năng dự báo - mà mọi người gọi nôm là bói - có hiệu quả trải hàng thiên niên kỷ; nhưng nó vẫn thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết của nó. Thật là một sự vô lý khi khả năng dự báo lại ra đời trước một học thuyết để có khả năng thực hiện những dự báo qua những ký hiệu của kinh Dịch. Điều này đã chứng tỏ: những ký hiệu trong kinh Dịch chỉ là hệ quả của một hệ thống lý thuyết đã thất truyền. Do đó, nếu nền văn minh Hoa Hạ - nơi mà từ trước đến nay vẫn được coi là cái nôi của nền văn minh phương Đông và kinh Dịch vốn được coi là có sự hình thành và phát triển liên tục trải qua nhiều thế hệ trong cái nôi đó - thì thật là sự vô lý với những tri kiến của khoa học hiện đại, khi khả năng dự báo lại có trước sự hình thành lý thuyết.
Với những vấn đề được trình bày ở trên, thì Bát quái thuộc về nền văn minh Văn Lang và là những ký hiệu mà các nhà lý học Văn Lang dùng để lý giải qui luật vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Dấu ấn của nền văn minh Văn Lang theo truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” chính là hình ảnh con Rùa - một biểu tượng của phương tiện chuyển tải tri thức của nền văn minh Văn Lang (xin xem thêm phần: “Phương tiện ghi nhận chuyển tải tri thức dưới thời Hùng Vương” ở chương IV “Sự tích Trầu Cau”) – còn ở trong kinh Dịch thì đó chính là Âm Dương Ngũ hành. Khi xã hội Văn Lang bị thu hẹp dần lãnh thổ theo những diễn biến của lịch sử, Bát quái đã truyền sang nền văn minh Trung Hoa. Có thể ngài Khổng tử đã biết đến Bát quái vào thế kỷ thứ VI – V trước Công nguyên. Điều này đã chứng tỏ có thể Bát quái của Văn Lang được truyền sớm nhất sang Trung Hoa. Như vậy hoàn toàn có cơ sở để cho rằng: lãnh thổ Văn Lang vào ngay thời Xuân Thu đã có những biến động hoặc hai nền văn hóa Trung Hoa và Lạc Việt đã có sự giao lưu ít nhất cũng qua ngài Khổng tử.
Do mục đích của cuốn sách này không đi sâu vào những học thuật cổ Đông Phương, người viết chỉ xin được trình bày để các bậc trí giả xem xét.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...

Báo Tin tức buổi chiều Tây An (Tây An vãn báo) của thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) ngày 25/02/2008 có bài của phóng biên bản báo Hô Diên Tư Chính ...

Phục chế y phục xã hội thời Hùng Vương: Những bằng chứng trên tất cả mọi lĩnh vực: Từ các bản văn cổ của chính Khổng tử, di vật khảo cổ và các ...

Tất cả sự so sánh và minh chứng ở trên đă chứng tỏ rằng: Y phục dân tộc người Việt thời Hùng Vương được phản ánh qua y phục của những nhân vật ...