Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2

Ngày đăng: Thứ tư 28/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Bởi vì, khi một đất nước bị chinh phục với âm mưu đồng hóa, thì việc đầu tiên của kẻ xâm lược là xóa sổ tất cả giá trị văn hóa chính thống của nền văn minh bị xâm lược. Đối tượng chính của sự xóa sổ đó là tri thức văn hóa có trong sách vở và con người. Do đó, các học giả còn sống sót của Văn Lang không thể công khai phổ biến tri kiến của mình. Họ phải bảo vệ hệ thống tư tưởng chính thống của văn minh Văn Lang dưới một hình thức khác. Đó là: tục ngữ, ca dao, cổ tích thần thoại… dưới dạng mật ngữ, truyền miệng đời này qua đời hác.

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Như phần trên đã trích dẫn lời của học giả Thiệu Vĩ Hoa trong uốn Chu Dịch và dự đoán học đã đặt vấn đề:

Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm Dương.

Sự thật đúng như vậy! Nhưng sở dĩ qua hơn 2000 năm tính từ thời Hán cho đến những năm đầu của thế kỷ 21 này, các nhà Lý học Trung Hoa vẫn chưa tìm được bản chất sự quan hệ thuyết Âm Dương Ngũ hành mà chỉ mới đặt vấn đề một cách dè dặt cho sự liên quan của nó; chính vì thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ được phát hiện một cách rời rạc qua những sách vở còn sót lại của một nền văn minh bị hủy diệt, nên đã tạo ra những khoảng trống không lý giải được. Đối với nền văn minh Văn Lang – cội nguồn và là nền tảng cho một nền văn hiến gần 5000 của Việt Nam – thì sự thống nhất và liên hệ đồng thời của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được thể hiện trong chiếc bánh chưng, bánh dầy. Bởi vì, khi Ngũ hành giải thích sự vận động của tự nhiên, xã hội và con người, không phải tự nhiên sinh ra mà phải có bản nguyên của nó. Do đó, Thái Cực theo vũ trụ quan của tổ tiên người Việt được truyền lại với câu tục ngữ: “Mẹ tròn, con vuông” thì lý của Thái Cực phải hiểu là:
Bản nguyên của vũ trụ có tính thuần khiết, tràn đầy, viên mãn. Do thuần khiết nên không thể coi cấu tạo thể bản nguyên gồm những cái cực nhỏ và cũng không thể là một cái cực lớn; trong đó không có cái “Có” để nói đến cái “Không”. Tượng của Thái Cực do tính viên mãn nên là hình tròn. Tính của Thái Cực chí tịnh. Bởi chí tịnh nên động. Có tịnh, có động đối đãi sinh Âm Dương. Cái “Có”, Động (Âm) ra đời đối đãi với cái “Không” bản nguyên. Tính của Âm tụ, đục, giới hạn nên tượng của Âm hình vuông. Bởi vậy, ông cha ta đã truyền lại câu tục ngữ: “Mẹ tròn, con vuông” nhằm hướng dẫn việc lý giải về bản nguyên của vũ trụ. “Mẹ tròn” cái có trước và là Thái Cực – Trở thành Dương, khi sinh Âm – “Con vuông”, cái có sau. Với ý nghĩa của câu tục ngữ này và cách giải thích như trên, thì Dương cũng là Thái Cực (Mẹ tròn) vì có đối đãi nên có sự phân biệt Âm Dương. Hoàn toàn khác hẳn ý niệm Thái Cực sinh Lưỡng Nghi theo cách hiểu của các nhà Lý học cổ kim, khi họ cho rằng: Âm Dương tuy cũng có nguồn gốc của Thái Cực, nhưng không phải là Thái Cực.
Cũng bởi quan niệm phân biệt giữa Thái Cực và Âm Dương, cho nên hầu hết các nhà Lý học thuộc văn minh Trung Hoa và sau này ở các nơi khác, cho rằng: tính của Âm là tĩnh và tính của Dương là động. Tức là hiểu sai về căn bản sự vận động của Âm Dương Ngũ hành. Nhưng theo cách lý giải của văn minh Văn Lang thì Âm động, do đó Ngũ hành thuộc Âm phải động. Nếu Âm tịnh thì không thể nói đến sự vận động của Ngũ hành. Điều này lý giải tượng của Ngũ hành nằm trong bánh chưng vuông thuộc Âm.

Như vậy, quan điểm dựa trên cơ sở phân tích truyền thuyết về bánh chưng, bánh dầy mà di chứng còn truyền lại đến ngày nay cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành của tổ tiên người Việt đã phát minh và hoàn chỉnh có từ trước thời Hùng Vương thứ VI, thì hoàn toàn có thể biết được căn nguyên của sự hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành và giải thích được tất cả những hiện tượng liên quan tới nó.

Linh diệu thay! Mỗi khi năm hết tết đến, nhìn lên bàn thờ tổ tiên lại thấy chiếc bánh dầy tròn đầy một màu trắng thuần khiết, được đặt lên trên chiếc bánh chưng vuông với màu lá dong xanh mượt, buộc bằng bốn sợi lạc (lạt) hồng. Đó là tất cả ý nghĩa bản căn của nền lý học cổ Đông phương mà tổ tiên người Lạc Việt truyền cho con cháu qua hàng thiên niên kỷ, cho đến tận bây giờ.
Để minh họa rõ hơn ý cho rằng Âm Dương - Ngũ hành là một học thuyết xuất hiện đồng thời mà các nhà Lý học Trung Hoa hiện đại đã đặt vấn đề hoài nghi và chưa thể giải quyết; ngoài phần minh chứng qua câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông” và biểu tượng của nó là bánh Chưng, bánh Dầy, xin được trình bày một trò chơi trẻ em Việt Nam vẫn còn tương đối phổ biến, đó là trò chơi “Ô ăn Quan”.
Đối với trẻ em Việt Nam trước thời văn minh phương Tây du nhập để có những trò chơi như: búp bê, bắn bi, hoặc các trò chơi như “Xút xanh”... thì “Ô ăn Quan” là một trò chơi hấp dẫn, truyền từ đời này qua đời khác cho đến tận bây giờ.
Trò này được chơi như sau:

Trên một hình vẽ gồm 10 ô vuông sắp thành hai hàng trong một hình chữ nhật. hai đầu hình chữ nhật có hai nửa vòng tròn. Có hai người chơi ngồi hai bên, đối xứng theo trục dọc của hình. Mỗi bên có 25 quân chia cho mỗi ô 5 quân. Mỗi nửa vòng tròn trong đó có một quan. Quân có thể là hạt nhãn hoặc hòn sỏi, quan có thể là hạt vải hoặc hòn sỏi to hơn.

Đồ hình trò chơi Ô ăn Quan

Cách chơi: lần lượt từng người chơi. Mỗi bên khi đi chỉ được phép bốc quân ở một trong năm ô phía bên mình và rải đều mỗi ô một quân theo một chiều nhất định (kể cả ô quan). Khi hết quân trên tay thì bốc tiếp ở ô kế đã rải quân cuối cùng và rải tiếp, cho đến khi ngưng trong những điều kiện sau đây:
@ Ô rải quân cuối cùng sát ngay ô quan (nếu ô quan vẫn còn quân hoặc quan trong đó).
@ Ô rải quân cuối cùng mà hai ô kế liên tiếp thuận chiều không có quân để bốc.
@ Kế ô rải cuối cùng không có quân và ô kế đó có quân thì được lấy hết quân trong ô cách ô trống ra ngoài, kể cả đó là ô quan.
Hai trường hợp trên gọi là “Chựng” và phải nhường cho người kia đi. Trường hợp cuối gọi là “Ăn” và sau đó cũng đến lượt người kia đi.
Một điều đáng lưu ý ở trò chơi này là: mặc dù cả hai bên đều còn quân để đi, nhưng ô quan không còn quân (đã rải vào trong quá trình chơi) hoặc quan thì trò chơi vẫn bị ngưng lại. Người chơi hô: “Hết quan, toàn dân kéo về!”. Người nào ăn và còn nhiều quân nhất thì thắng.
Theo cái nhìn của người viết thì hình ảnh và cách chơi “Ô ăn Quan” đã thể hiện sự liên quan chặt chẽ của Âm Dương Ngũ hành:
@ Hai quan nằm trong ô tròn biểu tượng hình và tướng của Âm Dương.
@ Mười ô vuông biểu tượng Ngũ hành (năm Âm Ngũ hành và năm Dương Ngũ hành).
@ Sự vận động của năm quân trong ô biểu tượng cho sự vận động của Ngũ hành. Trong suốt quá trình chơi là thể hiện sự tiêu trưởng sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.
@ Trong lúc chơi, khi không còn quân ở hai ô quan (tức là hông có Âm Dương) thì trò chơi bị ngưng. Nghĩa là: không có Âm Dương thì cũng không có sự vận động của Ngũ hành.
Phải chăng, trò chơi này nếu không do sự ngẫu nhiên trùng hợp với nguyên lý của Âm Dương Ngũ hành, thì chính là do ông cha ta đã đặt ra để lưu truyền trong đời qua thế hệ mầm non một ý niệm về Âm Dương Ngũ hành và sự diễn biến, liên hệ chặt chẽ của nó: Âm Dương có trước, Ngũ hành có sau và là một hệ tư tưởng thống nhất hoàn chỉnh, với hy vọng sau này cùng với bánh Chưng, bánh Dầy sẽ chứng tỏ được nền văn minh kỳ vĩ của tổ tiên.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một hệ thống Lý học hoàn chỉnh về vũ trụ quan của người Việt được phát triển và ứng dụng vào nhiều mặt của tự nhiên, xã hội và con người: trên xét thiên văn, dưới xem địa lý, làm lịch pháp, luận đoán cát hung, y lý Đông phương và ứng dụng vào cả việc cân bằng sự phát triển, ổn định xã hội (xin xem phần: “Cửu trù Hồng phạm - bản hiến pháp cổ nhất của người Lạc Việt”, ở phần sau).
Đến thời Hùng Vương thứ VI, thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được biểu tượng hóa một cách độc đáo trong chiếc bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh. Sự ấn chứng của vua Hùng chứng tỏ thuyết Âm Dương Ngũ hành là hệ thống tư tưởng vũ trụ quan chính thống của nền văn minh Văn Lang.
Các học giả của thế giới hiện đại trên nhiều lãnh vực khoa học đã dày công nghiên cứu thuyết Âm Dương Ngũ hành và đã phát hiện nhiều điểm tương đồng với khoa học hiện đại. Mặc dù họ chưa có một kết luận về tính khoa học của thuyết này, nhưng cũng chưa khám phá hết sự kỳ ảo của nó. Nhưng với phạm trù rộng lớn và qui mô ứng dụng trên khắp mọi lĩnh vực của học thuyết này, đã chứng tỏ:
Thời Hùng Vương không thể chỉ tồn tại khoảng 300 năm và là một thời kỳ được coi là chưa văn minh lắm so với các quốc gia đương thời. Và cũng không thể kể từ khi bắt đầu hình thành xã hội Văn Lang cho đến khi chiếc bánh chưng, bánh dầy được tôn vinh vào thời Hùng Vương thứ VI mới khoảng 100 năm (tức khoảng 4 thế hệ, theo quan điểm mới) – mà một xã hội lạc hậu hoang sơ, có thể phát minh ra một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh cùng với sự ứng dụng rộng rãi của nó.
Sự tồn tại và phát triển của một học thuyết vũ trụ quan cổ đại với qui mô to lớn là thuyết Âm Dương Ngũ hành trong một xã hội của người Lạc Việt, tổ tiên của người Việt Nam hiện nay. Học thuyết này có tham vọng lý giải từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi sự vận động của con người. Mặc dù những thăng trầm của lịch sử đã khiến nó bị thất truyền, nhưng sự vi diệu sâu sắc qua những gì còn lại của nó đã làm kinh ngạc tri thức con người hiện đại. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý là: Đã có một nhà nước với một tổ chức chặt chẽ của cộng đồng người Lạc Việt như truyền thuyết đã nói tới. Đó chính là nhà nước Văn Lang, dưới thời trị vì của các vua Hùng.

“Chơi Ô ăn Quan”
Bức danh họa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh sáng tác năm 1931

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...

Báo Tin tức buổi chiều Tây An (Tây An vãn báo) của thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) ngày 25/02/2008 có bài của phóng biên bản báo Hô Diên Tư Chính ...

Phục chế y phục xã hội thời Hùng Vương: Những bằng chứng trên tất cả mọi lĩnh vực: Từ các bản văn cổ của chính Khổng tử, di vật khảo cổ và các ...

Tất cả sự so sánh và minh chứng ở trên đă chứng tỏ rằng: Y phục dân tộc người Việt thời Hùng Vương được phản ánh qua y phục của những nhân vật ...