Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1

Ngày đăng: Thứ tư 28/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nhưng thật sự không thể giải thích nổi khi:
* Thái Cực thể bản nguyên của vũ trụ lại được phát hiện sau cùng vào thời Khổng Tử (500 năm tr.CN).
* Âm Dương phát hiện vào đầu thời Chu (khoảng 1200 năm tr.CN).
* Cuối cùng theo Lý học Trung Hoa thì hậu quả lại là có cái trước: Bát quái và 64 quẻ được phát hiện vào khoảng 3500 năm tr.CN (Đời vua Phục Hy).
Sau đó vào thời Hán, sách vở sưu tầm được lại nói đến Trâu Diễn với thuyết Âm Dương Ngũ hành (đã trình bày ở trên). Khi thuyết Ngũ hành bắt đầu được phát triển và ứng dụng từ thời Hán Vũ Đế thì: Thái Cực – Âm Dương – Ngũ hành lại được gắn với nhau với sự ứng dụng phổ cập trong nhiều mặt của cuộc sống như: thiên văn, địa lý, y học Đông phương... như một hệ thống vũ trụ quan hoàn chỉnh. Trong khi đó thuyết Ngũ hành tương truyền do vua Đại Vũ phát hiện trước thời nhà Chu, tức là trước khi phát hiện Âm Dương cũng cả 1000 năm?
Hiện tượng vô lý này đã được ông cha ta nhắc đến trong một câu ca dao nổi tiếng còn lưu truyền trong dân gian đến tận bây giờ:

Sinh con (Bát quái) rồi mới sinh cha (Âm Dương)
Sinh cháu (Ngũ hành) giữ nhà rồi mới sinh ông (Thái Cực).

Câu ca dao này được dùng làm tựa và gán ghép cho một truyện cổ tích đã được cụ Nguyễn Đổng Chi sưu tầm trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Nhưng nội dung câu truyện cổ tích huyền thoại này chỉ là phương tiện chuyển tải câu ca dao đó. Chính nhờ câu ca dao này của tổ tiên truyền lại, nhắc nhở con cháu tìm ra sự vô lý trong quá trình hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành mà cổ thư chữ Hán ghi nhận và được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ.
Nhà lý học nổi tiếng Trung Quốc và quốc tế hiện nay là Thiệu Vĩ Hoa cũng đã nhận xét trong cuốn Chu Dịch và dự đoán học (Nxb Văn Hóa 1995 - người dịch: Mạnh Hà) thì sự ra đời của thuyết Ngũ hành là một vấn đề chưa được sáng tỏ. Xin được trích dẫn như sau:

Giới dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm Dương. Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra thuyết Ngũ hành là Mạnh tử. Trong cuốn “Trung Quốc thông sử giản biên” của Phạm Văn Lan nói: “Mạnh tử là người đầu tiên sáng lập ra thuyết Ngũ hành, Mạnh tử nói 500 năm tất có vương giả hưng, từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn 500 năm... Từ Văn Vương đến Khổng tử lại hơn 500 năm... hầu như đã có cách nói tính toán về Ngũ hành. Sau Mạnh tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết Ngũ hành thành Âm Dương – Ngũ hành”. Nói học thuyết Ngũ hành là do Mạnh tử phát minh là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên đã nói: “Mạnh tử không tin Ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát huy”. Mạnh tử là người nước Lỗ thời Chiến quốc mà thời Đông Chu đã có thuyết Ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh tử phát minh ra Ngũ hành. Có những sách sử nói học thuyết Âm Dương Ngũ hành là Đổng Trọng Thư thời Hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.
Giới triết học như Vu Bạch Huệ, Vương Dung thì cho rằng: “Văn bản công khai của Ngũ hành có thể thấy trong cuốn sách “Thượng Thư” của Hồng phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng của người cận đại có thể là thời Chiến quốc). Ngũ hành, một Thủy, hai Hỏa, ba Mộc, bốn Kim, năm Thổ; Thủy nhuận dưới, Hỏa nóng trên, Mộc cong thẳng, Kim là cắt đứt, Thổ là nông gia trồng trọt” (Xem “Ảnh hưởng của học thuyết Âm Dương - Ngũ hành với khoa học truyền thống Trung Quốc”). Qua đó có thể thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết Ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.

Qua phần trình bày ở trên thì ngay các nhà lý học Trung Hoa cũng không xác định được nguồn gốc của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Tất cả những điều vô lý nói trên đã chứng tỏ sự gán ghép một cách khiên cưỡng những giá trị tư tưởng cho những nhân vật tuy nổi tiếng, nhưng lại không phải tác giả của nó. Đây là một hiện tượng phổ biến trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý học Trung Hoa vào thời Hán và hậu quả của sai lầm này còn kéo dài đến tận bây giờ.
Ông Hồ Thích – một học giả nổi tiếng Trung Hoa vào đầu thế kỷ này – đã có nhận xét:

Triết học sử có ba mục đích là chứng tỏ sự biến hóa, tìm tòi nguyên nhân và phân phán giá trị. Song triết học phải nên trước hết làm công việc căn bản có thể mong đạt được mục đích trên; công việc căn bản ấy gọi là học thuật tức là dùng thủ đoạn chính xác, phương pháp khoa học, tâm tư kinh tế, dựa vào sử liệu đã có để vạch ra việc làm, tư tưởng nguồn gốc biến đổi cùng là bộ mặt thật của các nhà triết gia. Thế nào là bộ mặt thật?
Số là người xưa biên sách đọc rất đỗi cẩu thả, thường đem học thuyết của người không liên quan với nhau đặt vào học thuyết của người khác. Ví như thiên thứ nhất của Hàn Phi tử là của Trương Nghi nói về vua Tần. Lại như sách Mặc tử, kinh thương hạ, kinh thuyết thương hạ, đại thủ, tiểu thủ, quyết không phải chính tay Mặc Định viết.
Hoặc ấy là sách giả làm sách thật, ví dụ như Quản tư, Quan Doãn tử, Án Tử Xuân Thu v.v... Hoặc là lấy sách của người sau đem vào của tiền nhân cho là vốn có từ đầu. Các tệ này ở các sách chư tử đều không tránh được. Thử lấy cái học Trang tử làm tỷ dụ. Sách Trang tử có nhiều thiên ngụy. Người đời nhận thiên Thuyết Kiếm, Ngư ông là chân, còn các thiên khác không bàn vậy .
Hoặc không hiểu được học thuyết của cổ nhân bèn để cho mất đi, như Mặc tử, kinh thượng chẳng hạn.
Hoặc lấy sách cổ nhân giải thích sai lầm bèn làm mất đi nguyên lý. Như người nhà Hán dùng phân dã, hào thìn, quái khí để thuyết Dịch kinh. Tống nhân dùng Thái Cực đồ, Tiên thiên Quái vị đồ để thuyết Dịch kinh; lại như Hán nhân phụ hội Xuân Thu để thuyết về tai dị, Tống nhân đảo lộn sách Đại Học tự ý thêm bớt. Hoặc mỗi người dùng ý riêng để giải thích cổ, làm rối loạn nhiều thuyết lý về sau, hồ đồ hỗn loạn. Như trong sách Đại Học, hai chữ Cách Vật có tới hơn bảy mươi nhà giải thích khác nhau. Lại như Lão tử, Trang tử, các thuyết bời bời không có đến hai nhà giống nhau như vậy.
Vì có những chướng ngại như thế nên bộ mặt thật của học thuyết các nhà mờ mịt đến quá nửa. Còn đến việc làm bình sinh của triết gia cùng là thời đại của triết gia thì cổ nhân rất là không để ý đến. Lão tử có thể gặp Dương Chu; Trang Chu có thể thấy Lỗ Ai Công; Quản tử có thể nói với Mao Tường, Tây Thi. Mặc tử có thể thấy Ngô Khởi chết và nước Trung Sơ diệt vong. Thương Ưởng có thể biết được chiến tranh Trường Bình v.v... Vô số những điều lỗi lầm như vậy. Lại như Sử ký nói Lão tử sống 160 năm, hay là hơn 200 tuổi hay là Khổng tử chết đi 129 năm sau Lão tử chưa chết. Nhưng điều thần thoại ấy thực không đáng bàn.

(Theo sách Lịch Sử triết học phương Đông Tập I - Nguyễn Đăng Thục - Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1997 - tr.68).

Nói tóm lại về xuất xứ của thuyết Âm Dương Ngũ hành, ngay cả những nhà nghiên cứu Trung Hoa – là nơi mà từ cổ sử đến nay vẫn cho rằng là quê hương của thuyết này – vẫn không thống nhất về tác giả của nó. Hay nói một cách khác: Nguồn gốc thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán hết sức mơ hồ.

Những mâu thuẫn trong phương pháp lý giải bản nguyên vũ trụ của các nhà Lý học Trung Hoa trong các trước tác liên quan.

Có thể nói cho đến tận ngày hôm nay – khi bạn đang đọc cuốn sách này – các nhà Lý học đành phải tạm bằng lòng với cách lý giải có tính tiếp cận và sự cảm nhận về một ý niệm tính bản nguyên của vũ trụ là Thái Cực và hệ quả trực tiếp của nó là Âm Dương. Ngoài tính không thống nhất cách lý giải của các nhà Lý học Trung Hoa như đã trình bày trong phần “Bánh Chưng, bánh Dầy và thuyết Âm Dương Ngũ hành”, bạn đọc có thể tham khảo nhận định của nhà Lý học nổi tiếng Trung Hoa thời Tống là Chu Hy về ý nghĩa của Thái Cực và Âm Dương (Thời Tống là thời đại đầu tiên của Trung Hoa tương đương với đầu thời hưng quốc của Việt Nam, cho nên có thể coi ông ta là đại biểu đầu tiên của nền Lý học Trung Hoa với nước Đại Việt). Mặc dù xuất hiện sau nền Lý học của nhà Hán cả ngàn năm – tức là đã có một quá trình nghiên cứu tổng hợp với một thời gian đáng nể – ông Chu Hy vẫn sai lầm khi nhận xét trong sách “Thái Cực đồ thuyết” như sau:

Vô Cực nhi Thái Cực. Thái Cực động nhi sinh Dương, động cực nhi tĩnh; tĩnh nhi sinh âm; tĩnh cực phục động; nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn ...
Nghĩa là “Vô cực mà là Thái Cực, Thái Cực động sinh Dương, động đến cực điểm thì tĩnh, tĩnh sinh Âm; tĩnh đến cực đỉnh thì lại động. Một động một tĩnh làm căn bản cho nhau...”
(Chu Dịch Vũ trụ quan, sách đã dẫn).

Đây là sự sai lầm căn bản của ông Chu Hy. Bởi vì Âm Dương là một cặp phạm trù có tính bao trùm. Ý niệm khởi nguyên của nó chính là ở sự phân biệt. Chỉ cần bạn đọc vạch một đoạn thẳng, thì đầu đoạn thẳng và cuối đoạn thẳng; phía trên phía dưới đoạn thẳng; bên phải bên trái đoạn thẳng; bên trong bên ngoài đoạn thẳng là đã có sự phân biệt Âm Dương. Ông Chu Hy đã đưa ý niệm Vô Cực và Thái Cực là sai lầm đầu tiên. Sự sai lầm càng rõ nét khi phân biệt Thái Cực với cặp phạm trù Âm Dương, vì Âm Dương lúc này chỉ là một vế của chính nó.
Ý niệm cho rằng Dương động, Âm tịnh là sai lầm thứ hai của ông Chu Hy vẫn ảnh hưởng đến tận bây giờ. Điều này đã thể hiện trong Kinh Dịch Phục Hy (Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1997, Giáo sư Bùi Văn Nguyên. tr.140) như sau:

Quẻ Khôn biểu thị cái thể của đất, như lớn lao, dầy dặn, vững vàng, bao dung, còn quẻ Kiền biểu thị cái thể của trời. Đất thuộc Âm thì tĩnh, như con ngựa cái đi trên mặt đất, còn trời thuộc Dương thì động, như con rồng biến hóa, khi thì hiện ở đồng ruộng, khi thì nhảy ở vực sâu, khi thì lại bay lên trời.

Chính từ những sai lầm có tính rất căn bản trong việc giải thích những nguyên lý của Âm Dương Ngũ hành, đã dẫn đến một hậu quả là: cho đến tận bây giờ, thuyết Âm Dương Ngũ hành không phát triển được trong hơn 2000 năm qua – kể từ thời Bắc thuộc – và đưa tất cả
những phương pháp ứng dụng về mọi mặt của nó vào một trạng thái huyền bí.
Sau đây là hai đồ hình Thái Cực chứng tỏ quan điểm sai lầm về thể bản nguyên của vũ trụ của Lai Trí Đức và Chu Hy. Bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy: vòng tròn nhỏ ở giữa là biểu tượng của Thái Cực, phân biệt với phần đen trắng ở ngoài vòng tròn nhỏ thể hiện Âm Dương.

Như vậy giữa Thái Cực và Âm Dương là hai trạng thái phân biệt, đây là điều vô lý như đã trình bày ở trên.

Như vậy, cùng với sự không thống nhất quan điểm và mâu thuẫn khi giải thích nguồn gốc vũ trụ với sự vô lý về thời điểm xuất xứ, đã chứng tỏ rằng thuyết Thái Cực sinh Lưỡng Nghi (Âm Dương), Âm Dương sinh Ngũ hành không thuộc sự phát minh của các nhà Lý học Hoa Hạ, mà chỉ là thể hiện những cái nhìn khác nhau trong sự phát hiện rời rạc về một học thuyết, cũng như những phạm vi đã ứng dụng của nó đã có trong một nền văn minh đã mất.
Điều này là cơ sở của giả thuyết cho rằng: thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Văn Lang thể hiện ở bánh chưng, bánh dầy. Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải đã tồn tại gần 3000 năm. Trong quá trình diễn biến của lịch sử và khi bị đô hộ hoàn toàn vào đời Hán, thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh Văn Lang đã dần dần truyền sang Trung Hoa (Giả thuyết này sẽ được minh chứng rõ hơn ở các phần sau). Do đó, sự lý giải hợp lý nhất về nguồn gốc xuất xứ và nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành phải là của những người chủ phát minh ra nó. Đó là nền văn minh Văn Lang.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch
  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu
  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu
  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I
  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2
  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương
  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II
  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1
  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2
  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III
  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1
  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2
  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3
  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV
  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1
  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V
  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI
  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1
  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2
  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1
  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2
  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII
  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1
  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2
  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3
  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4
  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII
  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1
  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương I:Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành. Bánh Chưng bánh Dầy biểu tượng của thuyết Âm Dương – Ngũ hành: Bánh Chưng bánh Dầy ...

Phần mở đầu: Những đặc điểm của truyền thuyết - Cổ tích huyền thoại Văn Lang. Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam về một truyền thống văn hóa kéo dài ...

Lời nói đầu: Thời Hùng Vương đã đi vào huyền sử, còn sót lại chăng chỉ có một số truyền thuyết được ông cha lưu truyền qua bao thăng trầm của lịch ...

Lời bạch: Cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại“ sau khi phát hành lần thứ I vào tháng 1/1999 đã được sự quan tâm của bạn đọc. Cuốn ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương. ...

Vua Hàm Nghi: Số phận đã khiến ông cũng là người sáng lập nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Vua Hàm Nghi có thể có vị trí vinh dự không chỉ trong lịch sử ...

Vua Hàm Nghi: Cuộc đời và những câu chuyện kể về vua Hàm Nghi - vị vua tài năng và có số phận kỳ lạ không chỉ được ghi lại trong lịch sử của nước ...

Báo Tin tức buổi chiều Tây An (Tây An vãn báo) của thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) ngày 25/02/2008 có bài của phóng biên bản báo Hô Diên Tư Chính ...

Phục chế y phục xã hội thời Hùng Vương: Những bằng chứng trên tất cả mọi lĩnh vực: Từ các bản văn cổ của chính Khổng tử, di vật khảo cổ và các ...

Tất cả sự so sánh và minh chứng ở trên đă chứng tỏ rằng: Y phục dân tộc người Việt thời Hùng Vương được phản ánh qua y phục của những nhân vật ...