Thành cổ Diên Khánh - Khánh Hòa

Ngày đăng: Thứ năm 24/06/2010 12:00:00 (GMT +7)

Năm 1775, sau khi đánh bại quân Chúa Nguyễn, chiếm thành Diên Khánh, Nghĩa quân Tây Sơn đã lấy đây làm sở lị của dân Bình Khang. Vào năm Quý Sửu (1793), sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng Diên Khánh thành một căn cứ vững chắc, một công trình vừa mang tính phòng thủ từ xa, vừa là trụ sở mang tính chính trị. Thành Diên Khánh chính thức xuất hiện từ đó. Ngày nay, thành cổ Diên Khánh nằm ở trung tâm huyện Diên Khánh, cách thành phố Nha Trang khoảng 10 km về phía Tây, bên phải Quốc lộ 1A.

thanh_dienkhanh1661

Thành cổ Diên Khánh là một quần thể kiến trúc kiểu thành trì quân sự phổ biến ở Châu Âu thế kỷ 12-13. Nó nằm trên một vùng đất cao thuộc địa phận xóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh, xung quanh đắp đất, với tổng diện tích khoảng 36.000m2. Tường thành lục giác, dài 2.693m, 6 cạnh thông đều nhau, đắp bằng đất, cao gần 4m. Mặt ngoài gần như dựng đứng. Xưa, thành có 6 cửa nhưng nay có 2 cửa đã bị lấp bớt, 4 cửa còn lại được xây gạch kiên cố, trên có Vọng Lâu để quan sát. Mỗi cổng thành là một kiến trúc rộng khoảng 17m, cao 4.5m gồm 2 tầng với lối xây dựng hình vòng cung vừa bền, vừa chịu được áp lực từ trọng lượng của Vọng Lâu dồn xuống. Mái Vọng lâu lợp ngói âm dương, 4 đầu đao uốn cong như đầu thuyền. Phía ngoài thành có hào sâu thông ra sông Cái, vì vậy hào luôn luôn đầy nước. Chung quanh hào lại có luỹ tre bao bọc dầy đặc, cho nên thành luỹ tuy bằng đất nhưng lại rất kiên cố. Rễ tre giữ thành rất tốt, còn thân tre tạo thành một hàng rào phòng ngự chống lại đạn pháo từ ngoài bắn vào.

Với lối kiến trúc thành cao hào sâu, trên mặt tường thành và phía ngoài hào cây cối um tùm, thành Diên Khánh đã trở thành một cứ điểm quân sự quan trọng trong hệ thống phòng thủ của tỉnh Khánh Hoà trước kia. Theo các tài liệu lưu trữ và dấu tích còn sót lại thì bên trong thành Diên Khánh có nhiều công trình kiến trúc như: Hoàng cung (xây theo kiểu Điện Thái Hoà ở Huế), sân Chầu, dinh Tuần vũ, Án sát, Lãnh binh, Tham tri, nhà kho, nhà lao... rất kiên cố. Từ khi xây xong cho đến cuối thời Pháp thuộc, thành Diên Khánh là nơi đóng các quân đầu não địa phương của Triều Nguyễn và là một trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của địa phương. Trong phong trào Cần Vương (1885- 1886), thành là tổng hành dinh của Nghĩa quân Khánh Hoà. Pháp đã nhiều lần nã pháo vào thành. Khi chiếm được, thực dân Pháp cho san bằng 2 mặt Bắc Nam. Thời kháng chiến chống xâm lược Pháp (1945-1954) thành Diên Khánh lại trở thành trụ sở của Bộ Tư lệnh Mặt trận Nha Trang. Dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh, quân dân Nha Trang, Diên Khánh đã phối hợp cùng nhau đánh thắng nhiều trận giòn giã trong cuộc chiến đấu 101 ngày đêm lịch sử, từ Cầu Mới Nha Trang đến thành Diên Khánh. Từ năm 1975 đến nay, thành Diên Khánh trở thành trụ sở của các cơ quan lãnh đạo huyện Diên Khánh.

Nói đến thành Diên Khánh, không thể không nhắc tới Văn Miếu Diên Khánh, được dựng lên để thờ Đức Khổng Tử. Văn Miếu xây dựng và trùng tu vào năm 1864 trên một khu đất cao ráo nhất trong vùng, có diện tích rộng gần 1.500m2. Văn Miếu có tấm bia đá khắc tên những người đỗ đạt cao trong các khoa thi. Những ông Cử, ông Tú thời ấy như Nguyễn Khanh, Lê Thiện Kế, Lê Nghị, Lê Viết Tạo... Ngoài việc lấy đạo học làm người quân tử, nhiều người đã đem lòng yêu nước, ủng hộ phong trào Cần Vương chống Pháp hồi đầu thế kỷ 20.

Với lịch sử 200 năm, thành Diên Khánh chứng kiến bao biến động, thăng trầm của xã hội thời phong kiến cũng như cuộc đấu tranh của nhân dân Khánh Hòa trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Thành Diên Khánh và Văn Miếu Diên Khánh đã trở thành di tích lịch sử cấp Quốc gia, một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều du khách trong nước và quốc tế.

Bài viết cùng chuyên mục

Từ Gia Long (1807) đến Khải Định (1919), nhà Nguyễn tổ chức được 42 khoa thi Hương, 39 kỳ đại khoa lấy đỗ 2 bảng nhãn, 9 thám hoa, 547 tiến sĩ và hàng ngàn ...

Vua Quang Trung đặc biệt chú trọng truyền thống văn hiến Bắc Hà, nhiều lần xuống chiếu cầu hiền, thu phục nhân tài để phục vụ  triều đại mới. Nhà vua ...

Khoa cử triều Nguyễn chia làm hai thời kỳ: thời các chúa Nguyễn và thời kỳ các vua Nguyễn - trước hết ta hãy xét thời kỳ các chúa Nguyễn.

Festival Huế 2010 diễn ra vào trung tuần tháng 6/2010. Trong chương trình Festival có lễ hội Nam Giao-một phần của lễ tế Nam Giao ngày xưa. ...

Thời quân chủ, hằng năm nhà nước tổ chức lễ  tế Nam Giao để các bậc thiên tử (con vua) cầu trời phù hộ cho quốc thái dân an. Qua thế  kỷ XX, đất ...

Lâu nay, mỗi khi nhắc đến cuộc dời đô lịch sử của Lý Công Uẩn tròn 10 thế kỷ trước, sử sách luôn đề cao vai trò của Thiền sư Vạn Hạnh. Nhưng gần ...

Cuối thế kỷ thứ XVII, cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn kéo dài (từ 1627 - 1672) không phân thắng bại đã khiến đất nước bị chia cắt thành Đàng ngoài và ...

Thời nhà Mạc, việc chọn nhân tài bằng thi cử được đề cao để tỏ  ra đây cũng là một triều đại chính thống như  ...

Trên tấm bản đồ tỉnh thành Trung Đô được vẽ vào thời Hồng Đức cách đây hơn 500 năm và một số tấm bản đồ thời Lê Trung hưng, còn ghi lại sự hiện ...

Từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, sử sách thường nhắc đên quân thủy của các nước Văn Lang, Âu Lạc, Chăm Pa, Phù Nam... Đây được coi là những nước có ...