Tam Miêu - Bách Việt

Ngày đăng: Thứ ba 08/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tại Hà Bắc liên minh Hoàng Đế (con vua Thiếu Điển) và Viêm đế ( Du Võng) được thành lập. Trong trận Trác lộc, thủ lĩnh Xuy Vưu của bộ tộc Cửu Lê đã bị liên minh Viêm Hoàng giết tại hang Hung Lê,. sau khi diệt được Xuy Vưu, Hoàng Đế lại diệt luôn Viêm Đế. Dân cư của Viêm Đế gồm tộc Hạ và tộc Khương, một số ở Sơn Tây sống dưới sự cai trị của dòng Hoàng đế làm nên văn minh Hoa Hạ, một số dân cư ở Khúc Phụ (Sơn Đông) vẫn chung sống với hậu duệ của bộ tộc Cửu Lê hay Miêu Lê là người Lão lai với người Caucasian . Người Lão có lẽ là họ Toại Nhân được cho là phát minh ra lửa đã di cư từ di chỉ Hemudu đến di chỉ Dawenku khoảng 4300 tr Cn , những người Hạ và người Khương này đã trở thành người Đông di, họ cùng người Miêu Lê phía đông bắcTrung Hoa vẫn luôn nổi dậy để chống lại Hoàng đế , được gọi là Tam Miêu. Khi vua Nghiêu thắng trận Đan Thủy ở đất của Tam Miêu (còn được gọi là bộ Di Lão) thì các dòng tộc của Tam Miêu tản mác khắp nơi còn những người nổi dậy được xem là một trong tứ hung. Tứ hung thời ấy gồm Hoan Đâu, Cộng công, Tam Miêu và Bá Cổn.(cha của Bá Vũ) Mặc dù Tam Miêu nổi dậy từ thời vua Nghiêu còn cai trị nhưng vua Nghiêu chưa xử tội cho đến khi vua Thuấn kế vị lúc ấy tứ hung mới bị lưu đày. Thượng thư chép rằng sau khi Vua Thuấn kế vị liền họp mặt với trưởng lão chư hầu bốn phương, thu nạp người hiền và bổ nhiệm các chức quan, trong đó Cao Đào là hậu duệ của Cửu Do Thiếu Hạo được giữ chức pháp quan. Vừa khoác áo quan Cao Đào lập tức tạo ra hình luật, thiết lập nhà tù và lưu đày tội phạm. Kinh văn nói : “Lưu Cộng công vu U Châu, phóng Hoan Đâu Sùng sơn, soán Tam Miêu vu Tam Nguy, cứu Cổn vu Vũ Sơn, tứ tội nhi thiên hạ hàm phục”

Nhà nghiên cứu Ahxiang
http://www.republicanchina.org/Prehistory.html căn cứ vào Trúc thư kỷ niên cho rằng Tam Miêu là những người đã sống trên vùng đất sau này là nước Sở, họ đã bị vua Thuấn đày đến núi Tam Nguy phía tây Trung Hoa tận Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay để trừng phạt họ vì đã giúp đỡ con trai của vua Nghiêu (Đan Chu) trong việc nổi dậy chống vua Thuấn.

Theo Thượng thư , chương Vũ cống sơn thủy thì dân Tam Miêu bị đày ra Tam Nguy sống ở vùng hồ Trư Dã. Ở Châu Ung, núi Kỳ, núi Chung Nam, hang Điểu Thử tới hồ Trư Dã là nơi có nhiều ngọc, dân cư sống ở vùng này là dân Tam Miêu, dân Côn Lôn, dân Cửu Sưu và Tích Chi được Trung hoa gọi chung là Yueh-zhi (Nhục Chi), trong đó Tam Miêu là hậu duệ của Viêm Đế với Xuy Vưu gồm ba tộc người : tộc Hạ và tộc Khương thuộc dòng Viêm Đế và Miêu Lê (Bộc Lão) là hậu duệ của Xuy Vưu.

Tộc Khương có một phần dính líu với hoàng tộc thời ấy vẫn ở trong bộ máy cai trị, nội tổ của Chu Văn vương là hậu duệ của ông Ích Tắc. Ích Tắc là con Bà Khương Nguyên với Đế Cốc được vua Nghiêu phong cho chức nông sư, có lẽ nông nghiệp ở khu vực phía bắc từ trước nhà Hạ chuyên trồng lúa tắc nên có tên Ích Tắc, con cháu của Tắc đời sau ở đất Bộc gồm Thái Bá,Trọng Ưng và Quí Lịch. Con Quí lịch là Cơ Xương được giữ đất tổ ở Kỳ Sơn – Thiểm tây; Thái Bá ( tổ tiên của người Nhật) lập ra nước Ngô ; Trọng Ưng lập ra Thích Việt, như vậy gốc tổ của nhà Chu là tộc Khương thuộc Viêm đế lai dòng Hoàng đế nhưng các vị vua của nhà Chu không mang họ Khương mà đều mang họ Cơ của dòng Hoàng đế. Từ khi bị vua Thuấn đày vào Tân Cương thì một bộ phận của tộc Khuơng trở thành Tây Nhung tô tem rồng gốc Viêm tộc Tam Miêu sống đời du mục kết thân cùng Tạng tộc.

Theo
http://www.republicanchina.org/zhou.html thì người tộc Khương tô tem rồng nói tiếng Hán-Tạng (Sino-Tibetan) có cùng chung dòng máu với người Hạ nhưng khác nhau về văn hóa như cách ăn mặc, tiền bạc, và ngôn ngữ.

Con dân của Viêm đế tộc Khương- Hạ không bị lưu đày vào thời vua Thuấn vẫn sống ở Sơn Tây thuộc phe Hoa Hạ , một số vẫn sống ở Sơn đông vùng Khúc phụ và vùng núi Yushan là đất Tề- Lỗ thuộc phe đông di, người Hạ-Khương ở Sơn đông như đã nói ở trên , đã trở thành Đông di của nhóm Bộc Lão. Trải qua hai triều đại Hạ-Thương nhóm Đông di phân biệt ra hai dòng “Di” là Phong Di và Hoài Di rất hùng cường đã giúp cho nhà Chu diệt vua Trụ ở Mục Dã, rồi dòng Hoài Di vào đất đất Bội, Yêm, Từ và sau này họp lại thành tộc Ư Việt với các họ Lâm, Nùng, Lý, Lê, hùng cứ đất Lạc Ấp, sau này Lạc Ấp mất về tay nhà Chu, Đông di lại bị lưu đày .

Vào đời Chu những người Di sống ở bán đảo Sơn Đông thường hay bị nhà Chu đàn áp do nhà Chu thuộc Hoa Hạ, Tây Bá Xương (Chu văn vương) đã có lần tấn công Khuyển Rồng , Chu Vũ vương đã đày những người dòng Viêm đế mang tô tem rồng ( Rong di) về phía bắc sông Kinh và sông Lạc đến tận biên cương Cam Túc, những người này còn được gọi là Hoang Phục ( Huangfu) do tính phục tùng thất thường của họ.Theo trúc thư, vào khoảng 985 BC Chu Mục Vương không nghe lời khuyên của quân sư đã tấn công Rong-di, sau đó đánh bại Khuyển rồng (Quan rong) và đày Khuyển rồng đến Thái nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây, Chu Tuyên vương (827-782BC) đã đánh Khương rồng nhưng bị bại trận và mất đội binh Nan-ren ( những chiến binh từ Nam Dương thuộc Hà Nam) dân Bách Bộc LãoViệt phải chạy tứ phương, một số đi thuyền theo bờ biển xuống vùng phía đông Hoa nam, một số chạy về phía tây xuống vùng Tứ xuyên.

Khi dòng Lạc Việt ở Lạc ấp bị mất đất thì dòng Sở Hùng lại cường thịnh , đời Hùng Vương VI vào năm 887 BC Hùng Cừ đem binh đánh lấy đất Đông và Dương Việt rồi cho con trưởng là Khang ( Wukang) ở đất Câu Đản, cho con thứ hai là Hồng ( Zhihong) đất Ngạc ở Hồ Bắc, cho con thứ ba là Chấp Tỳ làm vua ở nước Việt Chương là Việt Thường trước kia. Ghi chép trên cho thấy Hùng Cừ đã theo truyền thống của Đế Minh truyền ngôi vua cho con út và ban cho các con lớn những vùng đất mới mở mang. Chấp Tỳ lên ngôi vua truyền được nhiều đời , sau đó thì suy và mất chủ quyền về tay Sở Thành Vương.

Còn con cháu Khang ở đất Câu Đản có lẽ đã kết với Khuyển rồng họ Lạc tấn công vào Cảo Kinh. Thời U vương (781-771BC) khi U vương say mê Bao tự xa lánh hoàng hậu họ Thân gốc Khương tộc, định truất phế thái tử Nghi Cửu để lập con của Bao Tự là Bá Phục thay thế, Thái Tử Nghi Cửu mách với ông ngoại , Hầu Thân tức giận bèn liên hệ với Viêm tộc Khuyển Nhung kéo vào đánh úp Cảo Kinh giết U Vương ở Ly Sơn . Hầu Thân sau đó lại viết thư triệu các nước chư hầu Tấn, Tần, Trịnh đến đánh quân Khuyển nhung. Quân ba nước kéo đến đánh tan quân Nhung, con trưởng của U Vương là Nghi Cửu được lập lên ngội là Chu Bình Vương và dời kinh đô về Lạc Ấp. Từ đó không thấy sử nói đến hành tung của Khuyển Nhung.

Khi dòng Sở Việt bị mất đất bấy giờ ở phía nam sông Dương Tử lại nổi lên dòng Bách Việt : Bách Việt ở phía tây núi rừng là dân Bách Bộc-Lão Việt gọi là Tây Âu, còn Bách Việt phía đông Nam hùng cứ vùng hải tần từ Hà nam xuống đến hồ Động đình và các đảo Hải Nam là dân Lạc Việt gọi là đông Việt. Sách Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử đời Tống cho rằng người Âu tức người Việt họ Lạc có nguồn gốc từ núi Hùng Nhĩ ( núi có hình dáng giống tai gấu) trong dãy Tần Lĩnh. Điều này cho thấy rằng tất cả dân Việt cùng với các dân tộc anh em gốc Nam Đảo sau khi bị đàn áp đã trôi dạt về phía tây Trung Hoa sống tại Đôn hoàng vùng sa mạc Gobi, núi Tam Nguy, hồ Trư dã , vùng Tân Cương, cao nguyên Tây Tạng , sau này họ cũng như người Bộc Lão và Âu Việt họ Lạc từ Hùng Nhĩ Sơn đều định cư ở Hoa nam.

Dân tộc Nhục chi ở Đôn Hoàng đã qua tây vực rồi từ tây vực lộn qua ngả Ấn Độ. Nhục chi là tộc người đã lập nên Bắc Ấn. Theo sử Ấn Độ, Nhục Chi có mặt ở tây bắc Ấn vào thời vua Kanichka, khoảng 130BC đầu phục tộc chủng Bactriane sau đó chuyển đến vùng Bắc Ấn. Dân Nhục chi gồm có 5 chi tộc chính mà cầm đầu là chi tộc Kushan . Theo
http://vi.wikipedia.org (trang Nguyệt chi): Người Yueh Zhi định cư trong các vùng đồng cỏ khô cằn thuộc miền đông khu vực lòng chảo Tarim đã di cư tới Bactria khoảng 130BC, sau đó tới miền bắc Ấn độ và lập ra vương triều Quí Sương ( Kushan). Trong Sử ký Tư Mã Thiên ( thế kỷ thứ 2-1 BC) : “ người Nguyệt chi ban đầu sống trong khu vực giữa Kỳ Liên Sơn và Đôn Hoàng”, tương ứng với nửa phía đông của lòng chảo Tarim và phần phía bắc của Cam Túc.

Khoảng 176 BC dân tộc Nhục chi đã bị hung nô đánh đuổi bỏ Cam Túc lấn vào Tây vực rồi xuống Ấn độ như đã nói trên, mở con đường mà Huyền Trang đã đi qua . Còn chủng Tam Miêu và một số người Việt - Nhục Chi , người Ô Tôn ( Hồ Tôn ?) có lẽ không rút vào tây vực mà trước đó từ lâu đã di cư xuống tây nam Trung Hoa theo ngã Tân Cương- Thanh Hải , Bengal- Miến Điện đến Tứ Xuyên. và Vân Nam . Việt Nhục Chi cùng Khương tộc có lẽ vào Tứ xuyên hình thành văn hóa ngoại lai Sanxingdui cách đây hơn 3000 năm, người Việt nhục chi ở Tứ Xuyên mang nét Caucasoid , một số ít có mắt xanh và tóc màu sáng Các dân tộc ở Tứ Xuyên được phân thành hai loại thuần và hoang, vào khoảng 1000 BC đã di cư xuống phía nam ở tại di chỉ Jinsha sau đó đổ xuống Quí Châu, Vân Nam cùng Việt giao chỉ - Bách Bộc sau này lập ra Cửu Chân- Chân lạp, Tây đồ di, Phù Nam, Lâm Ấp, Việt Thường , sau này một số dân tộc trên bị nhà Hán đẩy lui xuống Thanh Hóa, Nghệ An , đến miền Trung Việt nam.

Ở di chỉ Tam tinh đôi (Sanxingdui) Ba- Thục (Tứ xuyên) người ta đã khai quật được nhiều đồ đồng có kiểu dáng không giống đồ đồng Hoa Bắc với các mặt nạ cũng như tượng người có mắt lồi , miệng rộng , kiến trúc ở đây cũng được xây bằng loại gạch chưa nung giống như ở Tân Cương. Người Ba ờ vùng này có lẽ là Khương tộc thuộc Tam Miêu sau này đã rời Trung Hoa vào khoảng 200 BC để lập nên nước Chân Lạp. Còn dân Cửu chân có thể là người Kushan (Quí Sương) hoang dã của tộc chủng Việt Nhục Chi đã di cư xuống qua ngả Tứ Xuyên , họ không biết cày cấy. Hậu Hán thư chép : “ Người Cửu Chân tục lấy săn bắn làm nghề nghiệp, không biết cày bằng trâu bò”. Đông quan Hán ký viết : “Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt ở ruộng”. Tiền Hán thư viết : “ Dân thường hay túng thiếu phải nhờ Giao Chỉ giúp lúa cho”. Sử Trung Hoa nói rằng khi Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân bấy giờ dạy cho dân cày cấy, có lẽ là dạy cho người Cửu Chân này.

Theo Thượng Thư , chương Vũ cống sơn thủy , thì con sông Hắc thủy ở về phía tây bắc Tửu Tuyền chảy về hướng tây qua Tam Nguy sơn đến vùng sa mạc cạnh Đôn Hoàng, ngoài ra ở Lương châu còn có một con sông Hắc thủy còn gọi là Kim sa giang ở Vân Nam, như vậy cũng có thể là tộc Tam Miêu khi di cư xuống Vân Nam đã mang theo tên của con sông này.

Sử Ký Tư mã Thiên cho rằng trong số Nam man có Dạ Lang (Yelang) tọa lạc ở phía tây nam Quí Châu là lớn nhất, ở phía tây Vân Nam là Điền Việt xung quanh hồ Nhĩ Hải (Erhai) được công nhận có kỹ thuật đúc đồng niên đại khoảng 1200BC. Tư Mã thiên đã phân loại người man ở tây nam Trung hoa thành hai nhóm: Nam di tương đương với người Bộc Việt có tổ tiên sống ở phía nam sông Hán thủy vào thời Thương Chu và Tây di là người Khương.

Theo
http://www.republicanchina.org/Vietnamese.html

Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ , học giả Zhan Quanyou cho rằng :
- Vân Nam có đồ gốm đơn sắc đa dạng có niên đại từ thời kỳ đồ đá mới
- Vùng đông nam tỉnh Vân Nam có rìu đá với hoa văn tương tự như những thứ khai quật ở phía đông nam Trung hoa.
- Ở giữa, ở phía tây và tây bắc tỉnh Vân Nam có đồ gốm, vũ khí bằng đá , tục lệ mai táng và hoa văn kiến trúc giống như những thứ khai quật được ở khu vực sông Hoàng Hà.
Zhan Quanyou dẫn chứng lời của Li Kungsheng, trưởng viện bảo tàng rằng:
- Phía tây Quí Châu và đông-đông bắc Vân Nam là đất của tộc Lao-ren.cổ
- Quảng tây, Việt nam và đông nam Vân Nam là đất của người Lạc Việt cổ.
- Ở trung tâm Vân Nam như vùng sông Langcan ( Mê kông) và hồ Dianchi là đất thuôc người Di Khương và người Bộc Việt cổ
- Phía tây Vân Nam như Bảo Sơn thuộc về đất của người Điền việt cổ

Học giả Zhang Zenggi cho rằng nền văn hóa hồ Erhai niên đại 3800 năm ở phía tây Vân Nam là văn hóa nông nghiệp trồng lúa như phía nam sông Dương tử với các dụng cụ nông nghiệp và dấu tích của gạo. Trái lại , nét văn hoá như đồ gốm, việc chôn cất và kiến trúc của vùng này tương tự như văn hóa Mã gia Diêu ( Majiayao) ở Thanh Hải và văn hóa Bán Pha (Banpo) ở Tây An tỉnh Thiểm tây.

Theo http://www.chinapage.com/archeology/ancient-site.html
Ở HeZhang thuộc Quí Châu ( giáp Tứ Xuyên) có một nền văn hóa bí ẩn đã phát triển thịnh vượng, người ta khai quật 108 ngôi mộ và tìm được 540 di vật bằng đồng và ngọc quí. Các nhà nghiên cứu cho rằng người Yelang đã cai trị vùng này kéo dài hơn 200 năm từ thời Chiến quốc (475-221BC) đến thời Tây Hán (206BC-24AD)

Với những chứng cứ khảo cổ trên , có thể nói rằng người Bách Việt ở phía đông nam Trung Hoa và người Bách Bộc-Lão-Việt phía tây nam Trung Hoa là những tộc người đã từng sống tại Hoa Bắc trải dài từ lưu vực Hoàng hà đến Thanh Hải ở phía tây Trung Hoa. Theo cổ thư, thuở xưa Hồ Bắc Hồ Nam là đất của người Bộc Lão , cũng thuộc dòng Cửu Lê . Người Lão đã di cư xuống tới đảo Quỳnh Nhai, rồi lại định cư tại Thái Nguyên Bắc Việt ngày nay thành một huyện Lão Nhai. Khoảng giữa lưu vực sông Nguyên- Tương có quận Kiền Trung của Sở cũng là đất Bách Bộc. Lăng Thuần Thanh, học giả Trung Hoa cho rằng: “ nước Sở là giống Bộc Lão nhưng giai cấp thống trị của Sở lại là miêu duệ của Thần nông và Chúc Dung” ( Chúc Dung trong truyền thuyết gọi là thần lửa. Ở Hoa nam- Chiết Giang người ta tìm được dung cụ làm ra lửa niên đại khoảng 8000 năm) . Như vậy cũng phù hợp với truyền thuyết vua Kinh Dương Vương có cha là Đế Minh họ Thần Nông và mẹ Vụ Tiên là người Lão. Sau khi Kinh Dương Vương lập quốc thành họ Hồng Bàng , có thể người Lão-Việt đã theo Kinh Dương Vương di cư xuống miền Bắc Việt Nam thành người Phùng Nguyên của họ Hồng Bàng . Người Lão là người Melanesien hay có thể gọi là người Hoà Bình, ở Hoa bắc cũng có người Lão có lẽ đã di cư từ di chỉ Hemudu thuộc Chiết Giang đến di chỉ Dawenkou thuộc Sơn Đông khoảng 4300 BC khi vùng Chiết giang bị ngập mặn, lúc con cháu dòng Thần Nông đến Sơn Đông họ sống chung với người Lão có yếu tố Melanesien-Caucasian như Thái, Lào , Miêu Lê, Dao...., từ chỗ có sự hỗn chủng cho nên sau này Thần nông trở thành tổ tiên chung của người đông nam á. và khi một số trong các tộc này trở xuống Hoa Nam theo ngả Bangladesh-Miến Điện thì trở thành Indonesien.

Lăng Thuần Thanh cũng cho rằng tất cả các dân cư sống chung quanh đầm Vân Mộng ( Động đình hồ) là giống Indonesien ( Ấn Trung) mà cổ thư Trung hoa gọi là Bộc Việt hoặc Lão Việt, . Giống dân ở lưu vực sông Trường Giang thời xưa được gọi là Cửu lê, sau này họ gọi giống ấy là Indonésien , tại Tây nam là Bách Bộc, tại Đông Nam là Bách Việt, ông cũng cho rằng trống đồng được người Indonésien ( Bộc Việt, Lão Việt) chế tạo từ thế kỷ VI tr CN ở vùng trung du Trường Giang chung quanh Động Đình Hồ.
Những di vật khảo cổ và những nhận xét của các học giả đã nói lên được đường di cư của tộc Tam Miêu thời vua Thuấn cũng như của số dân Bách Bộc Lão Việt khối đông di thời Chu. Có lẽ Khương tộc của nhóm dân cư này đã nhiều năm sống chung với người Lão tại đông bắc- đông Trung Hoa, sang phía Tây lại pha máu Âu nên có mắt to và sâu, sống mũi cao và thẳng, lại pha với Hắc nụy ở Ấn độ nên có nước da đen tiêu biểu là người Champa của Lâm Ấp (Linyi). Người Lâm Ấp có gốc gác ở đất Tề là địa bàn của tộc Khương, ban đầu nói tiếng Austro-Asiatic nhánh Môn Khmer có lẽ sống chung lâu năm với người Lão thuộc Melanesien nên nói tiếng Autronesien. Nơi ở của dân Lâm Ấp rất khó xác định, chỉ được biết là ở Tượng Lâm (có thể là Tượng quận giáp Quế Lâm). Vào đời Tần Tượng Quận ở Quí Châu và Quế Lâm là Quảng Tây ngày nay, khi Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc của phía Tây Âu gồm Quế Lâm và Tượng quận rồi chia thành Giao Chỉ và Cửu Chân, trong đó Giao chỉ gồm một phần phía Nam Quảng Tây ( Quế Lâm), một phần phía đông nam Vân Nam và một phần đồng bằng Bắc bộ, còn Cửu Chân có lẽ thuộc Tưọng quận (Quí Châu) và một phần Quế Lâm. Vào đời Hán Giao chỉ- Cửu Chân được chia lại thành 3 quận Giao chỉ-Cửu Chân-Nhật Nam. Tượng Lâm nằm trong quận Nhật Nam là nơi người Lâm Ấp sinh sống. Dân Lâm Ấp ở Tượng Lâm phía Tây âu có thể thuộc bộ tộc Cây dừa nói tiếng Austronesien theo mẫu hệ nghiêng nhiều về Melanesien quen sống ở vùng núi, còn nhánh Lâm Ấp bộ tộc Cau thuộc phụ hệ nghiêng nhiều về Australoid sống bằng nghề biển ở bờ biển miền trung Việt nam. Khảo cổ học và ngôn ngữ học lịch sử cho biết vào khoảng 600-500 TCN còn có một đợt di dân của người Nam Đảo (Austronesian) không biết từ đâu đổ bộ vào vùng Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay.ở Bình trị Thiên, Quảng.nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên do đó cũng có thể những người Austronesien ấy đã tụ lại thành Lâm Ấp bộ tộc Cau ở nơi này, còn bộ tộc Cây dừa ở Tây Âu đã cùng hai bà Trưng khởi nghĩa , sau khi bị Mã Viện đánh bại có lẽ chạy xuống miền Trung Việt vùng Bình Thuận cạnh bộ tộc Cau nói trên.. Lại còn một địa danh Lâm Ấp nữa ở nước Tề , phía nam tỉnh Sơn đông giáp với Giang Tô của nước Ngô, địa danh Linyi bắt đầu có ở nơi này vào khoảng 400 BC . Theo sử Trung Hoa vào khoảng 1046 BC nước Tề được thành lập do nhà Chu đã ban thưởng cho Khương Thái Công đất này , kinh đô nước Tề đóng ở Lâm Truy dưới quyền cai trị của họ Khương hơn 600 năm, sau đó họ Điền là một quý tộc cũ của nước Trần lưu vong sang Tề được vua Tề phong làm lãnh chúa ở đất Điền lật đổ họ Khương năm 389 BC, vua Tề đời sau là Tề Mẫn Vương tự xưng là Đông Đế, do đó Linyi ở Sơn đông có vẻ như liên quan đến việc thay đổi quyền lực ở nước Tề, có thể sau khi họ Khương mất quyền , dân Lâm Truy cụm lại lui xuống phía nam tỉnh Sơn Đông thành Lâm Ấp .Vị trí của Lâm Ấp không rõ ràng do đó dẫn đến vị trí cột đồng của Mã Viện cũng không xác định được , có sách cho là ở phía nam Quảng tây, có sách cho là ở miền trung Việt nam. . Theo truyền thuyết thì phía nam nước Văn Lang giáp Hồ Tôn, nơi ở của Hồ tôn tinh sau khi bị Lạc Long quân diệt đã trở thành đầm Xác Cáo ngày nay gọi là Tây hồ. Vậy những địa danh từ Tây hồ trở xuống như Thanh Hóa, Nghệ An chỉ có thể xuất hiện vào đời sau, có thể từ khi nước Việt ở Chiết Giang tan rả hoặc sau khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc và sau khi Mã Viện dẹp cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng, do người Cửu Chân và người Lâm Ấp chạy giặc di cư xuống.

Còn người Lao-ren ở Yelang?. Họ là người Lão đã di cư từ Hemudu đến Dawenku khoảng 4300 BC thành đông di, sau khi bị nhà Chu đàn áp những người Lão lai Việt tộc có lẽ là tổ tiên của Thục Phán đã chạy trở lại Hoa nam sống với người Lão Việt nhánh Thần nông nam của họ Hồng Bàng. Trong
http://www.republicanchina.org/Vietnamese.html học giả Wang Zhonghan cho rằng : “ Lao có thể cùng nghĩa với Lạc của người Lạc Việt cổ và tương tự Lào.” Vào thời Đông Tấn, khi người Tứ Xuyên được định cư ở phía đông, người Lao-ren chiếm vùng đất bị bỏ trống của Tứ Xuyên. Một số người Lao-ren được cho rằng đã sống cùng nơi ở với những người được gọi là người Hạ ( Âu Việt họ Lạc đến từ Hùng Nhĩ sơn ?) . Người Lao-ren sau đó thường xuyên mở các cuộc tấn công chống lại Trung Hoa.

Người Lão-Việt lai Caucasian ở Yelang có lẽ vào thời Tần nhờ thế đông di hùng cường họ đã quay trở về quê hương cũ ở Liaoning (Liêu Ninh) mang theo địa danh Anshan đến nơi này ( xem
http://en.wikipedia.org/wiki/Anshan ), Anshan thuộc về quận Liêu đông vào đời Tần khoảng 221-207 BC. Sau khi nhà Hán nắm quyền , số người Lão-Việt-Caucasian tiếp tục di cư về phía đông bắc Trung hoa khoảng 87BC đến định cư ở Lelang thuộc Korean Peninsula .

(xem
http://en.wikipedia.org/wiki/Lelang )
Người Lao-ren và Lạc Việt còn lại ở Yelang sau trận chiến bại của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị một số đã chạy xuống đồng bằng sông Hồng ( Lạc Việt) , một số chạy qua Vân Nam, một số chạy lên Tứ Xuyên (Thục) sau này có lẽ trở thành người Lào .

Vào đời Hậu Chu , Loa Thành lại được xây dựng lên ở Khai Phong còn gọi là thành Đông Kinh . Theo sách Đông Kinh hoa mộng lục thành này có ba vòng gồm thành ngoài, thành trong và hoàng thành. Tương truyền, người có công trong việc xây dựng là Chu thế Tông, ông đã cho một viên tướng thân tín lên ngựa ra roi phi nước đại theo chiều đông-tây-nam-bắc cho tới khi nào ngựa kiệt sức thì lấy chỗ đó làm địa giới xây thành. Ông đã huy động 10 vạn dân phu chở đất hoàng thổ từ Cổ Lao Quan về để đắp tường thành theo chiều xoáy trôn ốc nên có tên Loa thành. Ở Khai Phong còn có phong tục giống người Việt như : tục chọi gà , tục đi thăm chợ đêm mua sắm các thứ hàng hóa và nếm các món ăn đặc sản đã có hàng mấy trăm năm lịch sử.

Ở nam trung bộ Việt Nam, tại vùng biển tỉnh Khánh Hoà có nhiều nhóm dân thủy cư làm nghề đánh cá trong đó có một bộ phận đã định cư từ lâu trên đảo Phú Quý ngày nay thuộc về tỉnh Bình Thuận. Nhóm ngư dân thủy cư này trước đây được gọi là người Hạ, cư dân đồng bằng gọi là người Hạ Bạn, cha ông người Hạ trước đây đã rất thành thạo nghề câu, kể cả câu cá mập. Về người Hạ, Ông Lê Quang Nghiêm đã từng giải thích : “ Người Hạ, theo đồng bào hiện nay nói là người Thượng lai. Nhưng họ là người Hạ Châu, có lẽ là dân Phù Nam gốc Indonesia, xây dựng vương quốc tại miền nam Việt Nam, đã có một thời oanh liệt (thế kỷ thứ 6). Sau đó bị vương quốc Khờ Me (Căm Bốt) tiêu diệt. Dân Phù Nam ở miền nam Trung phần trong lãnh thổ Chiêm Thành., người Việt gọi họ là người Hạ Châu để phân biệt với người Thượng. Hiện nay người Hạ đã là người Việt Nam” Vấn đề nguồn gốc người Hạ mặc dù chưa được nghiên cứu sâu nhưng bước đầu các nhà nghiên cứu đã giả thuyết rằng họ có nguồn gốc từ người Nam Đảo.

Có thể thấy được Tam Miêu và Bách Bộc LãoViệt khối đông di là những tộc người luôn luôn phải đấu tranh để được sống còn , nói theo cách của người Mường thì họ là người của chỗ này chỗ kia . Tam Miêu bách Bộc lão Việt là những người đã theo dấu vết xưa của tổ tiên , mở lại con đường từ Ấn Độ đến Trung hoa.

Năm 135 BC, phái viên của nhà Hán là Tang Meng đã được phái đến nướcYelang và nhận thấy Nam Việt có thứ nước tương từ Tứ Xuyên. Nước Yelang với đội quân hùng hậu 100.000 quân đã bị nhà Hán ngắm tới như một liên minh trong trận chiến ở Nam Việt. Phái viên của nhà Hán phát hiện ra con sông Zangke ở tỉnh Tứ Xuyên ngày nay ; nơi người Yelang sống; chảy vào tỉnh Quảng Đông ( qua Quí châu vào sông Tây giang). Khoảng 122 BC. Zhang Qian đã thấy vải vóc Tứ Xuyên ở ở Bactria và thuật lại rằng ông đã nhìn thấy sản phẩm bằng tre Zangke và vải Tứ Xuyên mà theo lời người lái buôn Bactria là hàng được chở từ Ấn đô bằng tàu thủy. Hán Vũ đế lệnh cho 4 đội thăm dò vùng Tây nam để tìm con đường đến Ấn độ và được biết có một xứ sở gọi là Yueh-Chi.

Ở Ấn Độ về phía đông giáp Miến Điện là Bangladesh, tên Bangladesh mang ý nghĩa là xứ Bengal nhưng nguồn gốc của tên Bengal hoặc Bangla hiện nay cũng chưa xác định được. Một manh mối xuất phát từ Bengal cần được nghiên cứu đó là lịch sử của xứ này có đề cập đến lai lịch của Lạc Long Quân. Theo
http://en.wikipedia.org/wiki/History of Bangladesh thì Lạc Long Quân là một chiến binh Naga di cư từ bôn-lang (Bengal) đến An Nam (Việt nam) vào thế kỷ thứ 7BC xâm chiếm đất và đặt lại tên theo tên đất nước của ông là Bon-lang. Nòi giống vua Lạc Long Quân được biết là Bôns ( Bongs) và họ cai trị AnNam cho đến năm 300 BC.

Cổ sử khảo của Tiều Chu chép :”....Viêm đế từ đất Trần dời đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lặp lại số 8 quẻ, tức 8 lần 8 làm 64 quẻ, ở ngôi 120 năm, bèn băng, táng ở Trường Sa. Viêm Đế nạp con gái họ Bôn thủy tên Thính Yếu sinh Đế Lâm Khôi, rồi Đế Thừa, rồi Đế Minh, rồi Đế Trực, rồi Đế Ly ( không có Đế Lai), rồi Đế Du Võng, phàm 8 đời cộng 530 năm.......” Họ Bôn Thủy có lẽ là người Australoid nhánh Môn-Khmer mà Trung hoa gọi là Khương tộc do đã theo sông Khương mà đến, họ này có thể liên quan đến Bà Po Naga của Chiêm Thành vẫn còn đền thờ ở Khánh Hoà, người Việt gọi là Thiên Y thánh Mẫu.. Naga có âm tương tự như nước nên có thể Po Naga là vị thánh mẫu của họ Bôn Thủy. Chế Bồng Nga ( Che Bonguar) tên thật là Po Binasor có lẽ cũng thuộc dòng họ Bôn này.

Tên gọi Bôn có thể bắt nguồn từ một thứ vũ khí mà nhà khảo cổ gọi là bôn đá , Bôn đá có thể là vũ khí của người Australoid nhánh Môn Khmer cũng như rìu (Yue) là một thứ vũ khí của người Việt được cho là căn nguyên của tên Việt. Mặc dù chưa rõ Bôn hay Bongs mang ý nghĩa gì nhưng có thể thấy được dấu vết lờ mờ, đó là vào thế kỷ 19 các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong sa mạc Gobi huyền bí cạnh Đôn Hoàng có một hồ rộng trên đó có đảo Bông tọa lạc một thành phố văn minh, người ta tìm thấy những tấm thẻ bằng vàng nói đến loài người của nền văn minh Đất Mu (ngang với nền văn minh Atlentique) . Người ta cũng tìm được một tấm thẻ ở Đôn Hoàng, R.Charnoux cho biết tài liệu này gồm một danh sách các đấng vương quốc tổ tông ở Tây Tạng.

Giả thuyết “ Đất Mu” mà James Churchward viết trong The lost continent of Mu (Đại lục bị tiêu trầm) được xem như là miền đất mẫu ( Mother land) , nếu như giả thuyết này được chứng minh là có thật thì người đảo Bông ở sa mạc Gobi và dòng giống Bongs của Lạc Long quân hẳn phải là hậu duệ của họ Thần nông Viêm đế, là cư dân ở lục địa đã bị đắm chìm.

Lạc Long Quân ; theo lịch sử Bangladesh; đã từ Bengal đến An Nam nhưng ông đã từ đâu đến Bengal? . Có lẽ Lạc Long Quân không phải là hậu duệ gần của Tam Miêu đã từng sống ở Đôn Hoàng vùng sa mạc Gobi thời Nghiêu- Thuấn mà là hậu duệ cũa Bách Bộc Lão Việt thời Chu thuộc dòng dõi Sở Hùng Cừ ở đất Câu Đản ( nhánh Kinh dương Vương ?), có thể vào thời Chu U Vương khoảng 771BC đã kết với Khuyển rồng ( Ư Việt ở Lạc Ấp trước kia bị mất đất đã di cư xuống Động đình hồ mà lập vua Động đình quân ?) , tiến vào Cảo Kinh giết được U Vương tại Ly sơn, nhưng vì Hầu Thân cầu viện ba nước chư hầu đến dẹp nên bị bại trận phải chạy qua xứ Bengal. Sau đó vào ngả Vân Nam khoảng 700 BC dựa vào tên Bôn – lang mà lập ra đất nước của mình. Dòng dõi Sở Hùng Cừ ( Hùng vương VI ) đã sống cùng địa bàn với Hán tộc là giống Mông Cổ lai Việt tộc và Khương tộc nên có thể đã gọi tên nước theo Hán Việt là Văn Lang. Theo Đại Việt sử Lược: “vào cuối đời Trang Vương nhà Chu (696-682 BC) ở bộ Gia Ninh có một dị nhân (người lạ) dùng pháp thuật khuất phục các bộ lạc khác và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở bộ Văn Lang, đặt tên nước là Văn Lang....”. Thông tin trên nghe qua có vẻ vô lý, tuy nhiên nếu liên hệ với truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu cơ , liên hệ với lịch sử Bangladesh thì cũng đáng để cất công nghiên cứu.

Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ kể rằng : “ ....... Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi........Đến bờ biển đông nam diệt được ngư tinh........ Đến Long Biên dẹp được Hồ Tinh là chồn tinh hóa thành người để hại dân chúng , Lạc Long Quân cứu những người bị Hồ tinh hãm hại rồi sai loài thủy tộc dâng nước sông Cái (sông Hồng) xoáy hang cáo thành vực sâu người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau gọi là Tây Hồ..... Lại đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu có cây cổ thụ gọi là Chiên Đàn sau bị khô héo mà biến thành Mộc tinh luôn thay đổi hình dạng để bắt người ăn thịt. Để cứu dân Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống ..làm nó khiếp sợ phải chạy về phía Tây nam sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ xương cuồng”.

Như đã nói ở trên , khoảng 600-500 TCN còn có một đợt di dân của người Nam Đảo (Austronesian) không biết từ đâu đổ bộ vào vùng Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay, đó có thể là đợt di dân của những người sau này là Chiêm Thành đã từ Bengal tiến xuống , và cũng có thể người lạ mặt xuất hiện vào thế kỷ thứ 7 BC dùng phép thuật (đánh thủy quái phía đông, dẹp Quỷ xương cuồng phía tây nam, diệt Hồ tinh phía nam) thu phục được các bộ lạc và tự xưng là Hùng Vương đã đến từ Bengal.

Truyền thuyết lại kể rằng diệt xong yêu quái Lạc Long Quân day cho dân cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm , đốn gỗ làm nhà sàn để ở. Dân chúng dựng cho Lạc Long quân một cung điện trên ngọn núi cao nhưng ông không ở mà về thủy phủ . Một chi tiết gây lộn xộn là lúc ấy Đế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương nam mang theo người con gái là Âu Cơ.

Như đã giả định Lạc Long Quân ở vào thời điểm thế kỷ thứ 7 BC thì Đế Lai lúc ấy đã mất từ lâu nên có thể Đế Lai trong truyền thuyết này đã ám chỉ họ Thần Nông phía Bắc Trung Hoa đã trở thành Hoa Hạ của dòng Hoàng đế , có thể là Sở Thành Vương đã theo lệnh Chu Huệ Vương đi trấn dẹp loạn di Việt không cho họ xâm lược Trung quốc, và nàng Âu Cơ con của Đế Lai có thể là nhóm người Âu Việt họ Lạc đã sống ở núi Hùng Nhĩ Sơn phía Bắc.
Đế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài, nhân dân phải phục dịch cực khổ nên gọi Lạc Long Quân về cứu. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình trên núi cao và đánh đuổi quân Đế Lai lui về phương bắc. Sống ở cung điện trên núi cao một thời gian Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ hóa rồng bay về biển cả. Ít lâu sau Âu Cơ gọi Lạc Long quân trở về. Đó là lúc chia con, 50 con theo cha, 50 con theo mẹ, người con trưởng được ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang.lấy hiệu là Hùng Vương.

Một điểm đáng chú ý là Lạc Long Quân không ở cung điện trên núi cao. Vậy ông đã đi đâu và đã làm gì? Truyền thuyết kể rằng ông đã về quê mẹ ở Thủy phủ . Mặc dù truyền thuyết không nói đến họat động của Lạc Long Quân khi về thủy phủ nhưng thiết tưởng một chiến binh như Lạc Long Quân đã bình đinh được vùng đất hoang vu không yên ổn, đã từng tổ chức cuộc sống tốt đẹp cho dân chúng, ông sẽ không trở về quê mẹ sống đời dân dã.. Truyền thuyết khi nói đến việc dựng cung điện trên núi cao cho Lạc Long Quân cũng chưa đề cập đến vua Hùng Vương . Tên nước Văn Lang và vua Hùng Vương chỉ bắt đầu xuất hiện từ lúc chia con, có thể là khoảng 500 BC, lúc Doãn Thường mất , Việt Vương Câu Tiễn thay cha làm vua giết được Hạp Lư của nước Ngô

- Theo Sử ký Tư Mã Thiên , Việt Vương Câu Tiễn là con cháu vua Thiếu Khang nhà Hạ có cha là Doãn Thường nhưng không nói rõ Câu Tiễn mang họ gì.
- Thế Bản chấp Bổ của Trần Gia Mô viết : “Việt họ Mỵ, con tước, với Sở cùng tổ, là hậu duệ của Chúc Dung, con của Duẫn Thường, tức vua Việt Câu Tiễn .
- Theo nguồn tin từ wikipedia ( xem
http://en.wikipedia.org/wiki/king Gou jian of yue ) Việt Vương Câu Tiễn tên là Lạc Câu Tiễn (Luo Goujian) nhưng không thấy dẫn từ sách nào, nếu nguồn tin này có căn cứ thì dị nhân đã thu phục các bộ lạc để lập nên nước Văn Lang ấy chính là tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn . Lạc Long Quân trong truyền thuyết không phải là tên người mà là tên gọi chung cho các vị thủ lĩnh của một dòng tộc trong một thời đại như Viêm đế, Hoàng đế, Xuy Vưu, Kinh Dương Vương, Hùng Vương. Có một điểm khác biệt cần làm sáng tỏ là chữ Lạc trong Lạc Câu Tiễn được viết là Lạc Chuy còn chữ Lạc trong Lạc Long Quân được viết là Lạc Trãi. Sự khác biệt giữa các chữ Lạc đến nay cũng đang còn làm cho nhiều người thắc mắc. Theo họ chữ Lạc Trãi , được Hán tự phát âm là He, Ho, Mo chứ không phát âm là Lạc , chữ này chỉ có tiếng Cantonese của người Quảng đông phát âm là lok3 và chỉ được dùng cho Lạc long Quân trong ghi chép của người Việt nam. Mặc dù cho đến nay chưa ai giải thích được ý nghĩa của sự khác nhau giữa các chữ Lạc nhưng có thể các chữ Lạc này dùng để phân biệt các tộc người trong nhóm đông di như Phong di, Hoài di chẳng hạn. Có thể Lạc Chuy chỉ người Lạc nhóm Hoài di sống ở vùng sông Hoài hà ; Lạc Mã chỉ người Lạc nhóm Phong di sống ở Hà nam – đất Trần , hiện nay hãy còn đền thờ Bạch Mã gần Lạc Dương và Lạc Trãi có thể là người Lạc giống Bộc- Lão-Việt nhánh Kinh Dương vương có dây mơ rễ má với Thục Phán , với người Hàn Quốc.

Với 3 thông tin khác nhau như trên thì thông tin của Thế Bản Chấp Bố đã nói lên được Câu Tiễn thuộc dòng dõi Thần Nông Nam nhánh Kinh Dương vương mang họ Mỵ , cùng tổ với Sở, có thể là con cháu của vua Hùng Vương Thứ 6 – Mỵ Hùng Cừ hoặc Sở Hùng Cừ (887-877BC).

Ở Trung Hoa thời ấy việc kết hôn giữa các dòng tộc khác nhau là phổ biến nên họ tộc cũng khó có thể xác định được . Ví dụ như Cao dương Chuyên Húc là cháu nội cuả Hoàng đế , theo sử sách Trung Hoa thì thuộc dòng Hoàng Đế, nhưng một số nhà nghiên cứu lại cho rằng thuộc dòng Viêm đế vì mang họ Cao. Nói thế nào cũng không sai vì Chuyên Húc mang dòng máu Viêm-Hoàng .Hơn nữa , người thời xưa thường lấy tên sông, tên núi làm họ tộc, lại sống rày đây mai đó nên họ tộc cũng luôn thay đổi theo dẫn đến việc truy tìm nguồn gốc theo họ tộc có khó khăn, đó là trường hợp của Việt Vương Câu Tiễn..

Trở lại vấn đề trống đồng của người Indonesien. Như đã nói, các nhà khảo cổ đã nhận xét những di vật khai quật được ở phía đông nam Trung hoa là vùng đất của Việt Vương Câu Tiễn tương tự như các di vật khảo cổ đào được ở phía đông nam Vân Nam là nơi người Lạc Việt sinh sống .

Hoa văn hình người khắc trên rìu đồng hình trái soan giống như hình người được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ do người Lạc Việt chế tạo ra là hoa văn thể hiện nét văn hóa của dân tộc Việt, khác với hoa văn trên rìu đồng hình hia vuông và hoa văn trên trống đồng ở các nơi trong vùng phía tây Hoa nam thể hiện nét văn hóa của người Bộc Lão chỉ có hình voi, cóc, ốc, hổ, hươu, nai, cá, chồn, chó, bò, chim , cá sấu và nhà sàn.... cũng khác với nét văn hóa trên trống đồng Trấn Ninh có lẽ của người Di Khương được khai quật ở Vân Nam trên mặt có những khối hình người , hình súc vật như bò, ngựa, chó và thể hiện cảnh sống như săn bắn, tế lễ..v...v. , không có hình thuyền và đoàn người với y phục gắn lông chim. Về chất lượng trống đồng Lạc Việt cũng khác và hơn hẳn các trống đồng của các dân tộc anh em đồng bào ở phía tây Hoa Nam vì người Lạc Việt ở Cối Kê có kỹ thuật đúc đồng cao, như đã nói ở các bài trước người ta đã khai quật một thanh gươm tự đúc lấy của Việt Vương Câu Tiễn được đánh giá là có trình độ kỹ thuật đúc rất cao. Người Lào cũng có trống đồng tinh xảo do đã từng sống cùng nơi ở với người Âu Việt họ Lạc ở Quí Châu giáp Tứ Xuyên, tuy nhiên vẫn mang bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ với nét hoa văn , hình nai, hình cá. Người Mường Thanh ở bắc Việt có lẽ là người Lão-Việt cũng có dây mơ rễ má với dân tộc Lào qua truyền thuyết chàng cá và nàng hươu sao.

Về nguồn gốc trống đồng Đông Sơn , L.Finot cho rằng chủ nhân trống đồng là người thuộc giống Indonesia vốn chiếm vùng phía đông Ấn Độ China ; V.Goloubew thì cho rằng chính người Trung Quốc đã dạy cho những thị tộc Indonesia ấy thuật luyện kim, theo ông tổ tiên của người Việt mà ông cho là giống Indonesien đã học được kỹ thuật đúc đồng của người Trung quốc mang vào miền bắc Việt nam sau khi chinh phục đất này từ trước công nguyên, nhờ đó người Việt đã chuyển hóa nền văn hóa đồ đá mới thành nền văn hóa đồ đồng đạt đến trình độ kỹ thuật khá cao với những chiếc gươm hai lưỡi không kém gì gươm thời Chiến quốc và thời Tần của Trung quốc, tuy nhiên ông lại nói thêm rằng những hoa văn trên trống đồng trông giống hệt những hoa văn của chiếc bàn bằng đồng tại Bác vật quán Copenhagen nước Đan Mạch. O.Janse lại cho rằng có mối liên quan giữa văn hoá Đông Sơn với văn hóa Hoài Hà của Trung quốc nhưng tiếp theo lại chứng minh rằng văn hoá Trung quốc cũng như văn hoá Ấn độ China trong khoảng thiên niên kỷ trước công nguyên đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Hallstatt ở Châu Âu.

Nhận xét của các học giả về mối liên hệ , sự giống nhau giữa đồ đồng Đông Sơn với đồ đồng Hoài Hà của Trung quốc là đúng đắn, chỉ không đúng ở chỗ cho rằng người Trung quốc đã dạy cho người Đông Sơn (Indonesia) thuật luyện kim, còn nhận xét cho rằng đồ đồng Đông Sơn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương tây thì cần xem lại bởi đồ đồng phương tây có thể có nguồn gốc hoặc ảnh hưởng nét văn hóa từ nhóm người Tiền Sumerien và Tiền Elam từ Địa Trung Hải mang đến.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng ở thời kỳ mà các dòng tộc cùng chung sống với nhau trên cùng một mảnh đất sẽ không tránh được sự hỗn chủng và tất nhiên không thể tránh được ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về văn hóa. Rõ ràng là đã có sự giao lưu văn hóa giữa tộc Tam Miêu ; Bách Bộc -Lão-Việt với những người sống ở vùng đồng cỏ phía tây Trung Hoa qua những đồ đồng khác với Trung hoa thể hiện hoa văn xoắn ốc, thừng tết mà có lẽ do những người Australoid - Mongloid phía đông nam Trung Hoa là Lạc Việt đã mang lên khu vực Hoài Hà sau khi Việt Vương Câu Tiễn chiếm nước Ngô. Một nét hoa văn khác cũng thể hiện ảnh hưởng tây phương trên trống đồng đó là hoa văn ngôi sao trung tâm . Tuy vậy khi nghiên cứu kỹ hoa văn trên trống đồng Đông sơn Việt nam có thể thấy được nét văn hoá đặc thù của dân tộc thuộc giống Australoid nhánh Việt Mường như thuyền hình lưỡi liềm với đoàn người có gắn lông chim trên đầu, đó là nét văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt có thể đã có từ khi còn ở xứ Elam vùng phía đông Địa trung Hải trước khi mang đia danh Anshan đến Trung hoa vì hình người với y phục gắn lông chim đã thấy xuất hiện trên con dấu niêm khai quật được ở Lưỡng hà ( xem Phương đông thời cổ đại). Victor Goloubew cho rằng những hình tượng trên trống đồng có thể là cảnh tượng một buổi lễ chiêu hồn của người Dayak ở đảo Borneo. Lăng Thuần Thanh cũng đã nêu lên sự giống nhau của dãy hình người trên trống đồng có gắn lông chim trên đầu với trang phục của người Naga ở Assam , người A-mi ở Đài Loan và người Dayak ở Borneo là những tộc người thuộc Đông nam Á.

Liệu có quá tự đề cao khi cho rằng người Việt đã mang văn hóa đồng từ Bách Việt vào khu vực Hoài Hà trái ngược hẳn với nhận xét của các học giả phương tây. Một số nhà nghiên cứu sẽ cho rằng giả như đúng vậy thì người mang văn hóa đồng lên khu vực Hoài hà là người Bách Việt , không có nghĩa là người Việt cổ đã thực hiện điều này vì người Việt cổ chỉ là một tộc người trong cộng đồng Bách Việt. Nếu vậy câu hỏi cần có đáp án sẽ là : Vì sao trong cộng đồng Bách Việt chỉ có người Việt bộ Tẩu có tổ tiên ở Chiết Giang và người Quảng Đông- Việt bộ Mễ tự nhận mình là người Việt trong khi các tộc khác như một số người Lạc Chuy ( Hoài di ở Hoài hà ?), một số người Lạc Mã ( Phong di thờ Bạch Mã ở Hà nam ?) , và một số Lạc Trãi (Bộc Lão Việt ở Hoa nam và Liêu ninh ?) hiện nay đã là Thái Lan, Lào , Kampuchia, Hàn quốc, Nhật bản......đều cho rằng tổ tiên họ đã từng sinh sống ở Hoa Nam nhưng không hề nhận họ là người Việt ?.

Sử gia Trung Hoa Vương Đồng Linh cho rằng Tam Miêu Bách Việt gồm nhiều tộc người như :Thái, Miên, Lào, Miêu, Mán, Việt ....tất cả những tộc này nhất là ngành Việt đã cùng Hoa tộc làm nên nho giáo. Vì thế có thể trả lời : người Việt nam và người Việt ở Quảng đông tự nhận mình là người Việt vì chỉ có họ mới là người Việt , vào thời Xuân thu chiến quốc người Việt bộ tẩu giữ vai trò chủ đạo trong cộng đồng Bách Việt ( Văn Lang) theo mô hình Tiền Elam ở Địa Trung Hải , trong đó Lạc Việt của Việt Vương Câu Tiển thống trị vùng biển phía đông, còn phía tây là nhóm Âu cũng do người Lạc Việt là Hùng Vương thống trị, khi đời Hùng Vương cuối cùng suy yếu Thục Phán lên thay mới có tên Âu Lạc . Lạc Việt đã từng giữ vai trò chủ đạo trong cà hai nhóm Tây Âu và Đông Việt, các tộc khác có dân số ít lại sống rải rác và tự trị tương tự như một số vùng tự trị ở Trung quốc ngày nay , mặc dù có sử hỗn chủng nhưng họ vẫn giữ bản sắc văn hóa riêng của tộc mình và không cho rằng tổ tiên mình là người Việt . Riêng người Việt ở Quảng đông có nguồn gốc từ nước Triệu và các nước vùng Sơn Tây ở di chỉ Taosi là nơi người Việt cổ thuộc Hoa Hạ đã từng sinh sống ở thời điểm xảy ra trận chiến tại Trác Lộc, vào thời cổ xưa người Hạ mang tô tem rồng có hai bộ tộc chính là Yu long shi và Huan-long shi .Yu long shi là bộ tộc cai quản ( dưới quyền cùa Bá Vũ ?) còn Huan long shi là bộ tộc phát triển nông nghiệp , có lẽ vì thế mà có chữ Việt bộ Mễ .Một số người Hoa Hạ ở Sơn Tây đã di cư xuống vùng Kinh Sở sau khi bị nhà Ân phe đông di đánh đuổi. Vào đời Tần có khoảng 500.000 người từ Hoa bắc bị đưa xuống Hoa nam đến Nam Hải-Quảng đông có lẽ do nhà Tần thuộc Đông di nên phải lưu đày và đặt quan cai trị để quản thúc những người Hoa Hạ này. Vùng Quế Lâm , Tượng Quận không bị đặt quan cai trị có lẽ do người lãnh đạo nước Âu Lạc là Thục Phán thuộc phe đông di nên đã cử Lý Ông Trọng làm quan cho nhà Tần để yên ổn mà tổ chức kháng chiến. Năm trăm ngàn người bị đưa xuống Nam hải với thành phần gồm những tội đồ , những lái buôn và những người rễ thừa. Vì sao những người rễ thừa lại bị đưa xuống phương nam ? Theo quan niệm của người Trung hoa theo chế độ phụ hệ thì rễ thừa là những người nghèo không đủ tiền cưới vợ phải ở mãi bên nhà vợ làm việc như đày tớ nhưng đối với người Việt cổ theo chế độ mẫu hệ thì việc ở rễ là phong tục vì thế những người rễ thừa này kể cả Triệu Đà đều là người Hoa Hạ gốc Việt nên mới có việc Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt . Những người Việt này nghiêng nhiều về phía Mongloid mang đậm nét Trung hoa do có thời gian khá dài sống cùng nhau, mặc dù là người Việt nhưng họ không gần gũi , gắn bó với người Lạc Việt thuộc đông di, thậm chí người Triều Châu ở Quảng đông và ngưòi Phúc Kiến – Lạc bộ Mã thuộc đông di cũng không cưới gã với nhau. Đa số người Việt Quảng đông lựa chọn ở lại Hoa nam, vì cũng như Triệu Đà , họ muốn cho tông miếu tổ tiên ở phía bắc được trường tồn, không bị diệt vong. Người Lạc Việt thuộc Hoa Hạ ở Giao chỉ đa số là những người Âu ( Mường) đã từng sống ở núi Hùng Nhĩ, có lẽ do sống cách biệt trên miền cao nên không bị Hán hóa vẫn giữ được bản sắc của dân tộc Việt, từ khi sống ở Bắc Việt đã thích nghi với đồng bằng. Theo các nhà nghiên cứu thì bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi ... đều là người Việt nhóm Âu.

Khác với người Lạc Việt nhóm đông di thạo về khoa học kỹ thuật, thạo về nghề biển bao gồm cả giao thương bằng đường biển , người Lạc Việt nhóm Hoa Hạ lại nổi bật về văn chương, thi ca xuất phát từ những bộc lộ thể hiện tình cảm trong lao động sản xuất nông nghiệp ngoài đồng áng. Phân loại theo truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh, người Việt nhóm Hoa Hạ thuộc phe Sơn Tinh còn người Việt có xuất xứ từ Đông di thuộc phe Thủy tinh . Từ khi Văn Lang tan rả cả hai nhóm lại tụ họp với nhau thành Giao Chỉ. Dù vẫn là người một nhà nhưng thỉnh thoảng cũng xung đột và thay nhau cai trị qua các triều đại về sau. Hiện nay chỉ còn một số ít người mang óc kỳ thị giữa các miền trên đất nước, sự kỳ thị này cũng góp phần làm cho đất nước chậm tiến bộ.

Đã từ bao đời nay chỉ vì đất nước Việt đã từng bị Tàu đô hộ nên những gì giống Hán đều được cho là đã học từ văn minh Hán, chúng ta thường mang những thành tựu đạt được trong điều kiện sống dưới ách đô hộ của Trung hoa kéo dài hàng ngàn năm để so sánh với văn minh của chính dân tộc ta đã để lại trên đưòng từ Trung Hoa đến Việt nam rồi tự thấy mình kém cõi. Thậm chí văn hóa đồng sáng chói khai quật được trong lòng đất Việt ngày nay cũng không thể chứng minh được đó là thành quả của tổ tiên mình là do bởi suy nghĩ cho rằng dân tộc Việt chỉ phát triển quanh quẩn vùng đồng bằng Bắc bộ, những gì khai quật được ở Hoa nam đều là thành tựu của Trung Hoa. Thực trạng ấy được tổ tiên chúng ta thể hiện qua câu :

“ Cây bên ta, lá bên Ngô.
Ngọn tầy bồ, gốc bằng chỉ.”

Hiện nay thế giới cũng gọi nền văn minh nói trên là văn minh Trung Hoa vì nó được hình thành trên đất Trung hoa. Về phía người Trung Hoa ngày nay , họ cho rằng nền văn minh của chung ấy có được là do tổ tiên họ xây dựng nên mặc dù không phủ nhận sự đóng góp của các dân tộc khác cho nền văn minh này. Điều này cũng hợp lý bởi trong người họ cũng có pha dòng máu Việt, dòng máu Australoid, Melanesien, Caucasoid, họ tự xưng là con cháu Viêm Hoàng, hàng năm họ cũng tế lể các vị tổ tiên của họ trong đó có Thần nông là tổ tiên người Việt.

-------------------------

Tài liệu tham khảo:
- Bài viết của các nhà nghiên cứu : Trần Đại Sỹ, Cung Đình Thanh, Nguyễn văn Tuấn, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng, Nguyễn Trọng Cảm, Nguyễn thị Thanh, Hà văn Thùy, Trương Thái Du, Nguyên Nguyên, Nguyễn vũ Tuấn Anh.
- Địa đàng phương Đông - Stephen Oppenheimer
- Ánh sáng mới trên 1 quá khứ lãng quên - Wilhelm G. Solheim II
- Phương đông thời cổ đại - Pierre Amiet
- Biên Khảo người tiền sử - Trần Kim Thạch&Trần Hải Vân
- Trung Quốc- Triều Tiên - Nhật Bản
- Đỉnh cao văn minh Đông Á - Gina L. Barnes
- Thượng thư - Nhà xuất bản Đồng Nai
- Kinh Dịch - Nguyễn Hiến Lê
- Chu dich nhập môn - Đỗ Đình Tuấn
- Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch - Lôi Đạc
- Hệ thức thời gian Độn giáp - Bùi Biên Hòa
- Mở tung cánh cửa huyền vi - Nhà xuất bản Sống mới
- Chân trời lời quê tiếng mẹ Việt Nam - Nguyễn Đoàn Tuân
- Lich sử Việt Nam - Đào duy Anh
- Việt sử Toàn Thư - Phạm văn Sơn
- Văn hóa Trung Hoa - Đặng Đức Siêu
- Cội nguồn văn hóa Trung Hoa - NXB Hội nhà văn ( Nguyên bản : Sự hình thành và phát triển nền văn minh TH- Nhà XB Nhân dân Sơn Đông)

Bài viết cùng chuyên mục

Nỏ thần của An Dương Vương không phải là vũ khí thô sơ, những bằng chứng còn lại cho đến ngày nay chứng tỏ điều đó :...

Lần đầu tiên, người Hà thành được “mãn nhãn” khi chứng kiến cảnh bắn thử nỏ thần (cơ nỗ) An Dương Vương trong khu bảo tàng Lịch sử quân sự. Công ...

Thuật tiên tri (tiếp theo): Tự nhiên đặt ra trước con người vô số hiện tượng không thể (hoặc chưa thể) giải thích bởi các ngành khoa học. Về nguyên tắc, ...

Thuật tiên tri: Những đặc điểm của „khoa học chính thống“ trình bầy trong Phần I bài viết này thực ra không có gì mới vì chúng chỉ là kết quả tổng ...

I - Khoa học là gì? Phật giáo nói đến Tam bảo: Có Phật có Pháp làm gì khi không có Tăng chúng. Tương tự như vậy ta có thể định nghĩa Khoa học chính là toàn ...

Khoa Học Và Tiên Tri ( 05/04/2008)

Lời nói đầu: Bài viết dưới đây của một học giả có thâm niên trong việc nghiên cứu khoa học - Ông Lý Hoàng Khôi. Đề tài của ông bàn về tính khoa học ...

Nguyễn An, người Việt Nam có công lớn trong việc xây dựng Bắc Kinh: Cố Cung còn gọi là Tử Cấm Thành, là một công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới, tọa ...

Lạc thư hoa giáp lý giải các vấn đề liên quan. Độ số cục trong tử vi và Lạc Thư Hoa Giáp. Trên cơ sở tiêu chí khoa học là: Một lý thuyết khoa học chỉ ...

Hà đồ và Lạc Thư Hoa Giáp. Người viết xin được nhắc lại một tiêu chí khoa học cho tất cả các lý thuyết khoa học là: Một lý thuyết khoa học chỉ được ...

Giải mã bài khẩu quyết. Bài khẩu quyết học thuộc lòng cho những người mới học Tử Vi về nạp âm 60 hoa giáp là: Ngân (Kim) Đăng (Hỏa) Giá (Mộc) Bích (Thổ) ...