Phát hiện một bản đồ cổ Việt Nam (II)

Ngày đăng: Thứ hai 27/04/2009 12:00:00 (GMT +7)

“Vua cho là quý đại thần định ra là muốn được kẻ thực tài, chuẩn cho theo thế mà làm, nhưng dụ cho quan các phủ, tỉnh trong kinh và tỉnh ngoài, đều đem hỏi khắp cả, không cứ quan, lại, sĩ, dân, người nào là kiến văn rộng rãi, có thể biết rõ các việc đã nghĩ ấy, biên chép thành sách, hạn trong 6 tháng. Tại kinh thì do bộ Lễ, tại tỉnh ngoài, do quan địa phương làm danh sách đệ lên, đợi chuẩn cho quan xét duyệt, quả là người thông hiểu có thể làm được thì chia thứ bậc, trừ đã có toàn quyền thưởng riêng ra, triều đình sẽ cho bổ dụng, và chuẩn bị cho quan viện Hàn lâm thưởng thêm cho người trúng hạng nhất 400 đồng bạc, hạng nhì 100 đồng bạc, để tỏ thể lệ rộng rãi mà mong được thực dụng.” (5)

Ba tháng sau, không có một ai trong quan chức cũng như ngoài dân gian thông thạo vấn đề “bờ cõi nước ta khi trước thẳng đến bờ phía đông sông Khung Giang” tức sông Mêkong hay Cửu Long và có thể “ghi chép rõ các loại man lạo trong hạt” tức các dân tộc thiểu số, để nhận lãnh giải thưởng lớn lao vừa kể.

Thế nên, sử Thực Lục ghi: Tháng 9, “Sai làm sổ sách biên chép cương giới nước ta. Bấy giờ viện Cơ mật tâu nói: Cương giới nước ta, phía bắc gần với nước Đại Thanh, phía tây nam giáp với nước Xiêm La, Miến Điện; từ trước phải có giới hạn đích ở chỗ nào. Từ trước đến giờ, quốc sử ít thấy chép đến, thấy nghe cũng ít, nhiều lần các đại thần toàn quyền, khâm sứ Đại Pháp có ý nghiên cứu, hoặc định treo thưởng; hoặc có nghe thấy gì, thì tự đi yêu cầu để xem xét. Về việc treo thưởng, nhiều lần đã vâng lời dụ thông sức, chưa có người hưởng ứng.”

“Kể ra bờ cõi non sông cũng là cách học bác vật, biển rộng mây trùng, đường xa muôn dặm, người ta còn nghĩ dò tìm được, huống chi cương giới nước ta, mà lại “còn mà không bàn, bàn mà không xét”, tưởng không phải chỉ để cho người biết được ít nhiều ! Nghĩ nên xin phái quan, thuộc, tìm xét khắp cả, duy công việc ở Bộ, Viện, Quán, Các bề bộn, nếu giao cho làm kiêm cả, sợ không chuyên chủ kỹ càng, khó mong thành hiện. Xin nên đặt viên có trách nhiệm để đôn đốc việc ấy, Quang lộc tự khanh lãnh Thị lang bộ Lại Hoàng Hữu Xứng là người trầm tĩnh, học cũng hơi rộng, xin cho theo nguyên hàm sung làm Đổng lý, cấp cho ấn khâm phái quan phòng, và phái viên dịch theo để làm việc, đến ở phòng Nội các làm việc, phàm hễ nước ta tiếp giáp với nước Thanh, nước Xiêm, và sông Khung Giang, đích là chỗ nào, đều xem xét rõ ràng, cần có chứng cớ đích xác, biên chép thành sách và vẽ đồ bản để tham khảo. (Tháng sau, vua chuẩn cho viên ấy đến sở tu thư ở Quốc sử quán)” (6).
Việt Nam dưới thời Minh Mạng (Bảnđồ Lê Thành Khôi)

Hai tháng sau, sử Thực Lục chép: “Tháng 11, viên trông coi việc làm tập biên cương giới là Hoàng Hữu Xứng nghĩ dâng sách ấy phàm lệ có 12 điều:
- Về nguyên chuẩn cho kiểm xét cương giới nước ta tiếp giáp với nước Thanh, nước Xiêm, nước Diến và sông Khung Giang đích là chỗ nào, biên tập thành sách. Nay kính xét miền thượng du nước ta lấy sông Khung làm giới hạn, thì từ Nghệ An trở vào nam, có giáp sông ấy, còn từ Nghệ An trở về Bắc, thì giáp giới với sông ấy, không liên can với nhau. Sách này xin chuyển lấy cương giới tiếp giáp các nước làm chủ, sông Khung cũng xét cả một thể, tùy theo địa phương nào, thông với sông ấy, biên thêm vào, để phòng xem xét, nhưng đặt tên sách là Đại Nam cương giới vựng biên, không phải cùng biên cả chữ “Khung Giang”.

- Về sách này chuyên chủ cương giới tiếp giáp với các nước, và biên thêm những địa phương thông với sông Khung. Nay kính xét các sách vở hoặc các nhà biên chép cất làm của riêng, về thượng du dọc theo biên giới, đoạn nào như có ghi chép cũ: nước ra tiếp giáp với các nước và tiếp giáp với hai bên tả, hữu sông Khung, là tên ở đất ở phủ, huyện, châu nào, hoặc trại Man nào, xin phải biên chép tất cả. Đoạn nào, như chưa rõ địa giới ấy thuộc về nước ta, nhưng chép là “trại Man ở nước ta” (như Man Thạch Bích, hoặc các Man tiêu điều lán trại linh tinh, tuy hoặc chúng đối với ta, khi theo, khi phản bất thường, nhưng ở bờ phía đông sông Khung, đều là các trại Man trong giới hạn nước ta), nơi thuộc về nước khác, thì vẫn chép là địa phận nước mỗ. Về hạ du, giáp biển, thì chỉ tra xét tên cửa biển, ghi chép cả để nêu rõ toàn đồ. Còn các nơi hơi xa, cùng giới hạn không liên tiếp nhau, và tất cả dân phong, thổ sản đã chép cả ở bộ Gia Long nhất thống địa dư chí nay chỉ chép qua thôi.

- Về cương giới tiếp giáp và hai bên tả hữu sông Khung, phải xét biên tên đất các trại Man đều là căn cứ ở sách cũ và thuyết cũ, từ trước đến nay, không phải không tùy thời thay đổi, (như các loại hoặc chỗ ấy, nguyên là lán trại của Man, nên sách cũ, thuyết cũ đã chép vào, nhưng nay đã điêu tán dời đi nơi khác, cũng là có khi nguyên là Man ấy, nhưng nay bị bọn Man khác lấy cả), nhưng nay không xét vào đâu cho đúng được, xin phải kiểm xét, nguyên ủy nơi nào đích xác thì biên chép tất cả, không thì vẫn theo sách cũ, thuyết cũ chép điền vào.

- Về cách chép tổng quát, là chép tất cả toàn cõi nước ta, các địa phương các đời thay đổi thế nào, tuy đã chép ở Dư địa chí, sách này, xin cũng dò xét tận nguồn gốc biên qua ở phần trên, sau đến số dặm dài, rộng, cả nước hiện đặt bao nhiêu phủ, tỉnh, đạo; cuối cùng đến cương giới, lấy sông Khung phụ thêm vào, bản đồ thì cho biên rõ ở chỗ giáp giới và sông Khung mà thôi.

- Về cách chép riêng biệt, là chia riêng từng tỉnh mà chép, xin phải chiểu theo thứ tự chép tổng quát, đều chiểu theo địa phận tỉnh chép riêng ra, duy lại ghi rõ các đạo, phủ huyện, châu hiện đặt trong cả tỉnh, nhưng lấy kinh sư làm tôn trọng, đầu tiên là phủ Thừa Thiên, sau đến các tỉnh từ Thừa Thiên trở vào nam, trở ra bắc. Trong đó, tỉnh nào không có giới tiếp với nước khác, thì vẫn theo từng khoản, biên rõ những chữ: “Không có tiếp giáp với nước khác”, để cho bản đồ riêng, cũng theo từng tỉnh vẽ kế tiếp.

- Về tiếp giáp các xứ, xứ nào hễ từ trước nước ta có cùng nước khác khám định, hoặc lấy tự báo bàn định, tra trong sách Sử có chép rõ ràng, thì tùy thuộc tỉnh phận nào đem chép ra hết để tham khảo.

- Về địa phận ở dọc biên giới, từ trước là thuộc nước ta, nhưng nay tuy đã mất vào nước khác (như loại trước kia nhà Hồ, nhà Mạc cắt đất cho nhà Minh, nhà Thanh) xin cũng chiểu theo trước thuộc hạt tỉnh nào, ghi chép vào, cho biết lai lịch.

- Về phía sau miền núi nước ta, có đường sông nào mà chảy thông được đến sông Khung, thì đường sông ấy phát nguyên và chảy qua phủ, huyện, châu nào, hoặc trại Man nào, xét các sách vở có thể căn cứ, cũng ghi vào cả.

- Về 6 tỉnh ở Nam kỳ, nay là quản hạt của nước Đại Pháp, sách này biên chép cương giới có lẽ nên chiểu từ Thừa Thiên trở vào Nam đến Bình Thuận, trở ra bắc đến Cao Bằng, nhưng gián hoặc có biên đến địa phương nào sông Khung chảy qua, thì đoạn hạ lưu sông Khung ở cả vào khoảng An Giang, Định Tường; thì 6 tỉnh ở Nam kỳ xin phải chép cả vào trong khoản chép tổng quát, và chép riêng biệt để cho còn danh hiệu.

- Về địa phương Cao Miên, đã được tiên triều kinh lý, ghi cả vào bản đồ, sau rồi bỏ đi, nay cũng xét qua sự tích biên thêm vào sau, cho biết đầu đuôi.

- Về xưa nay cùng truyền, cương giới của nước là việc lớn, mà từ trước đến nay không có chứng cứ; đã có các nhà bàn luận (như loại dựng cột đồng của Mã Phục Ba) cũng phải chép cả cho đủ các thuyết.

- Về các sách biên thuật lại, gián hoặc có nói đến cương giới nước ta và nguyên lưu sông Khung chảy đến đâu, trong đó thường có chỗ nói khác nhau, có chỗ giống nhau, cũng chép cả lưu lại, để đợi khảo chính” (7)
Đại Nam thống nhất toàn đồ năm 1840

Hoàng Hữu Xứng và các chuyên gia phụ thuộc thực hiện công trình Cương giới vựng biên theo đúng nguyên tắc như vừa kể. Năm tháng sau, công trình hoàn thành.

Ngày 9 tháng 4 năm Đinh Hợi (1887), sử Thực Lục ghi: “Pho sách Cương giới vựng biên đã xong”, (gồm 7 quyển và 1 bức địa đồ).

“Cho Đổng lý Hoàng Hữu Xứng, thực thụ hàm Thị lang bộ Lại, thự Tả tham tri (nguyên lãnh Quang Lộc tự khanh); các người tùy phái đều gia thưởng (thăng trật, kỷ lục hay tiền) có thứ bậc. Rồi cho Hữu Xứng sung chức Toản tu ở Quốc sử quán)” (8)

Khi ấy Paul Bert đã chết ngày 11 – 11 – 1886, không hiểu số tiền 1000 đồng bạc thưởng cho ai thực hiện được công trình có đem chia cho Hoàng Hữu Xứng và cộng tác viên không ? Chính sử chỉ ghi đến đây là hết về Cương giới vựng biên.
Từ trái sang:ông Nguyễn Đình Đầu, tác giả Harold E.Meinheit và
Chủ tịch Hội Howard Lange - Ảnh chụp T2 - 2009 tại Tp. HCM

Nhà sử học Phan Thuận An đã viết bài Hoàng Hữu Xứng: tác giả sử học – địa lý Việt Nam thế kỷ XIX trên báo Cửa Việt số 17 tháng 10 năm 1992. Trong có bản dịch tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng – một bổ túc thông tin cho Thực Lục – giúp ta hiểu thêm về quá trình nghiên cứu và biên soạn pho sách Cương giới vựng biên, và đặc biệt về lý lịch tấm Đại tổng đồ mà ta đang quan tâm:

Khâm phái sở Tu Thư, Quang lộc Tự khanh, Lãnh Hữu thị Lang Bộ Lại, thần là Hoàng Hữu Xứng, kính tâu: vừa biên soạn thành dạng bản sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên, nay cung kính tiến trình cùng với bản tấu để xin Hoàng thượng thẩm định. Vào một ngày thuộc tháng 9 năm ngoái, tiếp được phiến chỉ do Viện Cơ Mật cung lục, Hoàng thượng chuẩn định thần sung làm Đổng lý trong việc nghiên cứu kiểm tra cương giới nước ta, tỉnh nào tiếp giáp với Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Khung Giang (sông Cửu Long), đích thị là xứ nào, cần có căn cứ chính xác, sưu tập lại, biên chép thành sách và vẽ thành bản đồ. Khảo cứu đầy đủ rồi lại được Hoàng thượng đặt tên cho sách là Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên, và tuân hành làm theo bài phàm lệ gồm 11 điều:
- Thần trộm nghĩ sách này có thể làm rõ về sự quan hệ ở cương giới. Cương giới phía tây của miền thượng du nước ta, từ xưa đến nay triều đình chưa đến kinh lý, còn có nạn sách vở tam sao thất bản, việc khảo đính lại thiếu sót.
- Nhưng nay tuân chiếu theo phàm lệ, thần đôn đốc việc sưu tầm tìm hiểu các sách và bản đồ nước ta và Trung Quốc cũng như Tây phương, rồi nghiên cứu, dịch thuật, ghi chép, thu thập lại (Sách là Thực Lục chính biên của nước ta, tham khảo thêm những sách của các nhà biên thuật. Bản đồ thì các loại bản đồ của nước ta, tham khảo thêm bản đồ của Trung Quốc và Tây phương, cùng bản đồ mới vẽ của các tỉnh. Nếu có nhượng bỏ đến năm ba tỉnh thì cũng kính xin đề cập tới luôn, vì sự ghi chép cương giới ở những nơi đó cũng chưa được rõ ràng).
- Nếu có chỗ chưa biết được rõ thì để khuyết chứ chẳng dám làm một cách kiêng cưỡng hoặc lấy ý mình mà điền thế vào. Tùy theo nơi, nếu cần thì làm phần cẩn án phụ thêm ở dưới mỗi khoản, đợi sau sẽ khảo đính. Toàn bộ sách và từng phần của sách đều có bản đồ kèm theo; cùng với phụ lục và phụ khảo, đóng thành 7 quyển. Thần chẳng ngại dốt, kính sợ tuân theo lệnh của Hoàng thượng, chẳng dám ngại khó, kính tham khảo thêm những tài liệu ngoại sử sách của triều đình, lượm lặt các sách vở cũ ngày xưa còn sót lại, và hỏi han thêm ý kiến của nhiều người, tuy đã cố gắng nhiều nhưng vẫn còn sai lầm thiếu sót, xin kính sợ tuân theo những điều sửa chữa.
- Hoàng thượng đã chuẩn cho các đại thần ở Viện Cơ Mật là Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật và Hoàng Hữu Thường đọc và sửa.
- Nay kính cẩn viết thành dạng bản và vẽ riêng một bức bản đồ chung lớn (đại tổng đồ), đều xin tiến trình, dám xin mạo muội kính đệ lên cùng tập tấu, và xin đợi tôn ý quyết định của Hoàng thượng.
Kính tâu,
Ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai (tức 1 – 5 – 1887)
Thần: Hoàng Hữu Xứng” (9).


Các sử liệu trên đã giải đáp được toàn thể thắc mắc của Meinheit. Bức bản đồ chung lớn – đại tổng đồ đây là kết quả công trình nghiên cứu vựng biên của Hoàng Hữu Xứng, nhằm ngày 1 – 5 – 1887. Mục đích chủ yếu của công trình là xác định biên giới của Việt Nam về phía tây tiếp giáp với sông Mêkong, thậm chí có đoạn lấn sang cả hữu ngạn nữa. Cương vực Việt Nam rộng từ ải Nam Quan (đại tổng đồ có vẽ rõ) tới mũi Cà Mau. Phía bắc giáp Trung Quốc (đại tổng đồ ghi Tụ Long bi đình, nhưng sau Pháp nhường cho Trung Quốc). Phía tây giáp Miến Điện và Xiêm La. Khi Pháp chiếm được cả Đông Dương thuộc Việt Nam rồi chia ra ba nước Việt Nam – Lào – Cao Miên và độc đoán vạch đường biên giới cho ba nước với những thiệt thòi về phía Việt Nam. Tuy nhiên, ngày nay nước ta vẫn tôn trọng biên giới lịch sử ấy. Để bổ sung cho “đại tổng đồ” chưa vẽ xong này, chúng ta nên nghiên cứu kết hợp với hai bản đồ: 1) Đại Nam nhất thống toàn đồ công bố khoảng năm 1840 có vẽ rõ hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa; 2) Bản đồ Đại Nam dưới thời Minh Mạng của Lê Thành Khôi có vẽ rõ các tiểu vương quốc thuộc Việt Nam kể cả các châu mường, như Mường Lũ có biên giới giáp Miến Điện. (10)

Tra trong Thư mục đề yếu Di sản Hán Nôm Việt Nam nơi hai mục từ Đại Nam cương giới vựng biênĐại Nam quốc cương giới vựng biên, ta thấy còn lưu trữ 5 bản viết (7 Q), 1 phàm lệ, 1 mục lục, 1 biểu “dâng sách” và các bản sao chép lẻ từng phần, hiện Viện Hán Nôm vẫn bảo vệ tốt, có số nhỏ sao chép trùng lặp để ở Thư viện Hiệp hội Châu Á (Société asiatique) tại Paris (11). Không thấy nơi đâu nhắc nhở tới “đại tổng đồ”. Bản đồ to lớn đặc biệt này thất lạc tự bao giờ, không ai hay. Chỉ biết rằng năm 1982, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ mua được từ một nhà buôn bản đồ cổ có tiếng ở Mỹ. Thật là may !

Để kết thúc bài báo này, chúng tôi xin nói lời cám ơn đến người giới thiệu tấm “đại tổng đồ” đã thất lạc trên 120 năm (1887 – 2009) là Harold Meinheit, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp tham gia Ban giám đốc Washington Bản Đồ. Chúng tôi cũng xin tỏ lòng thán phục tác giả công trình nghiên cứu vựng biên và tấm “đại tổng đồ” là Hoàng Hữu Xứng (sinh năm 1831 tại Quảng Trị, đậu cử nhân năm 1852, làm Huấn đạo huyện Tuy Viễn, Bình Định năm 1860, giữ chức Biện lý ở Bộ Binh khoảng năm 1869, Bố chánh Thanh Hóa năm 1873, Thự tuần phủ Hà Nội năm 1880, nhịn ăn để phản đối Pháp khi bị bắt năm 1882, bị cách chức rồi được phục hồi làm Tu soạn viện Hàn lâm năm 1884, làm Đổng lý biên soạn Cương giới vựng biên tháng 6 – 1886, giữ nhiều chức vụ khác rồi Thượng thư Bộ Công năm 1889, về hưu năm 1900 và qua đời năm 1905)

Hoàng Hữu Xứng đáng kể là người có công đầu trong việc nghiên cứu lịch sử và vẽ bản đồ “Vựng biên” nước ta từ thời Đông Dương thuộc Việt Nam đến lúc Pháp xâm chiếm gọi là Đông Dương thuộc Pháp.


Chú thích:
(1) The Portolan, Journal of the Washington Map Society Issue 73 Winter 2008. Trong có bài A Glimpse into Vietnam’s Turbulent 19th Century của tác giả Harold E.Meinheit (từ trang 18 đến 27)

(2) Như trên, trang 19

(3) Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam (1592 – 1820). Paris, 1919, tr. 45 và 278.

(4) Đồng Khánh địa dư chí. Ngô Đức Thọ dịch. NXB Thế giới, 2003.

(5) Đại Nam thực lục. Tập XXXVII Viện Sử Học phiên dịch. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 177 – 173.

(6) Như trên, tr.208 – 209.

(7) Như trên, tr. 217 – 220

(8) Như trên, tr. 281

(9) Phan Thuận An, Hoàng Hữu Xứng: tác giả sử học – địa lý Việt Nam thế kỷ XIX. Trong sách Nếp nhà – Họ Hoàng. NXB Trẻ, TPHCM 2001, tr. 38 – 49.

(10) Lê Thành Khôi, Le Viet Nam – Histoire et Civilisation. Les Editions de Minuit. Paris, 1955. Trích bản đồ số 15 đặt sau 514.

(11) Viện nghiên cứu Hán Nôm và Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu. NXB Khoa học – Xã hội, Hà Nội, 1993. 1. tr. 480 và 496.
Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

Ngày 28 tết vừa qua (23-1-2009), tôi nhận được tập san The Portolan, cơ quan của Washington Map Society (hội bản đồ Washington), trong đó có bài giới thiệu một bản ...

Châu Sa là một thành cổ của người Chăm cổ xưa được đắp bằng đất. Thành Châu Sa thuộc thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. ...

Áo tơi được nhân dân ta làm bằng lá tro còn gọi là lá cọ (lá mà người dân quê dùng để làm tranh lợp nhà). Suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc ...

Chuông đồng là những di vật cổ có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, văn hóa... của mỗi dân tộc trong từng thời đại. Dựa vào công nghệ đúc đồng và ...

Đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc nói chung, tiếng nói và chữ viết là những yếu tố phản ánh chính xác cội nguồn của một nền văn hoá ...

Với vẻ đẹp quyến rũ của hang, cuốn Merveille de Monde (kỳ quan thế giới) chuyên về du lịch của Pháp xuất bản năm 1938, khi giới thiệu các danh thắng nổi ...

Các nhà khoa học Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Cao Bằng vừa phát hiện một cầu đá đang được dân sở tại dùng để đi lại nhưng được ...

Tôi đến đền Chử để tìm một không gian kiến trúc cổ tiêu biểu của đồng bằng Bắc bộ, và cũng là để ghi lại những hình ảnh cuối cùng của đền khi ...

Một tuyệt tác điêu khắc được tạc vào năm Quảng Hữu thứ 22 (1086), cột đá chùa Dạm với tên chữ “Lãm Sơn Tự” là công trình lưu truyền cho hậu thế ...

Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương sửa lại tựa.Nguyên văn: Trên Giadinh.net.vn: Chuyện chưa biết về người Việt CổNhững tưởng hàng vạn năm trước, khi ...