Những khoa thi cuối cùng của nhà Nguyễn

Ngày đăng: Thứ ba 22/06/2010 12:00:00 (GMT +7)

Gia Long lên ngôi, tình hình chính trị xã hội còn rất phức tạp, nhưng việc học hành đã bắt đầu được quan tâm. Tháng 5/1802, bắt đầu bổ nhiệm quan chức học hiệu những vùng trọng yếu ở Bắc Hà. Tháng 9, đặt chức đốc học trấn Bắc thành.

Năm 1803, cho dựng nhà Đốc học ở Quốc Tử Giám, lập trường học theo hệ thống từ trấn, phủ, huyện, xã và quy định con em từ 8 tuổi trở lên vào tiểu học rồi đến học sách hiếu kinh, trung kinh; 12 tuổi trở lên học sách Luận ngữ, Mạnh tử rồi tới sách Trung dung, Đại học; 15 tuổi trở lên học Thi, Thư, sau học Dịch, Lễ, Xuân thu, học kèm Chư tử và Sử. Cấp lương tháng cho các quan dạy học.

f

Năm 1807, định phép thi Hương và thi Hội. Phép thi và danh vị những người thi đỗ vẫn theo quy chế nhà Lê. Gia Long mở được 3 khoa thi Hương vào các năm 1807, 1813 và 1819 lấy đỗ 256 hương cống và hơn 1.000 sinh đồ. Còn thi Hội chưa mở được khoa nào. Minh Mệnh lên ngôi năm 1821, mở Ân khoa thi Hương. Năm 1822, mở Ân khoa thi Hội. Năm 1825, Minh Mệnh xuống chiếu đổi danh sắc. Trước, người đỗ thi Hương gọi là hương cống nay đổi là cử nhân, người đỗ sinh đồ nay gọi là tú tài. Nhà Nguyễn theo luật tứ bất: không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong tể tướng, không phong vương cho người ngoại tộc. Trong các khoa thi nhà Nguyễn không có danh hiệu đệ nhất giáp đệ nhất danh.

Năm 1829, Minh Mệnh cho lấy thêm danh hiệu phó bảng trong các kỳ thi Hội. Về quyền lợi đãi ngộ không bằng tiến sĩ nhưng việc bổ dụng vẫn được trọng thị.

Đến đời Vua Thiệu Trị, cứ 3 năm 1 khoa thi. Các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hương. Các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hội.

d

Thời Tự Đức còn có các khoa thi đặc biệt như năm 1851 vừa thi chính khoa xong lại mở thêm Chế khoa Cát sĩ. Các cử nhân, giám sinh Quốc Tử Giám, các giáo thụ, huấn đạo ở các phủ, huyện, các tiến sĩ, phó bảng chưa bổ nhiệm, các cử nhân, tú tài đều được dự thi. Khoa thi này khó hơn khoa thi tiến sĩ. Những người đỗ được ân chuẩn, đãi ngộ cao hơn.

Năm 1865, lại mở thêm khoa Nhã sĩ, những người đỗ được khắc tên vào bia tiến sĩ. Ân khoa tiến sĩ còn được mở thêm một khoa vào năm 1884 đời vua Kiến Phúc. Sau hiệp ước Patenotre 1884, triều Hàm Nghi, Đồng Khánh không mở được khoa thi nào. Thành Thái lên ngôi, khoa thi tiến sĩ lại được tiến hành đều đặn như thường lệ.

d

Những năm cuối triều Thành Thái, Duy Tân, những nhà nho nhiệt huyết Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đòi phải đề cao tân học, cải cách khoa cử để đào tạo nhân tài có thực học.

Những khoa thi cuối thời Duy Tân bị dư luận phê phán không còn là một khoa thi Nho học đơn thuần vì đã thêm kỳ thi tiếng Pháp và luận quốc ngữ. Những khoa thi dưới triều Khải Định càng bị dư luận phê phán là không hợp thời thế, các nhà khoa bảng ở giai đoạn này cũng thấy cần phải có một cuộc cải cách thi cử lớn mới mong đáp ứng vai trò kẻ sĩ với thời đại. Khoa thi Hội năm 1919 là khoa thi cuối cùng của lịch sử khoa bảng nước nhà.

Từ khoa thi 1075 triều Lý Nhân Tông đến khoa thi 1919 đời Khải Định, các triều  đại phong kiến Việt Nam đã tổ chức được 183 kỳ đại khoa, lấy đỗ 2.898 vị tiến sĩ, trong đó có 47 vị trạng nguyên, 48 bảng nhãn, 75 vị thám hoa, 597 tiến sĩ hoàng giáp, 1.799 vị tam giáp tiến sĩ, 266 vị phó bảng, hàng ngàn hương cống (cử nhân), hàng vạn sinh đồ (tú tài) và không biết bao nhiêu người đỗ nhất, nhị trường làm cho nền văn hiến nước nhà càng thịnh vượng.


Bài viết cùng chuyên mục

Vua Quang Trung đặc biệt chú trọng truyền thống văn hiến Bắc Hà, nhiều lần xuống chiếu cầu hiền, thu phục nhân tài để phục vụ  triều đại mới. Nhà vua ...

Khoa cử triều Nguyễn chia làm hai thời kỳ: thời các chúa Nguyễn và thời kỳ các vua Nguyễn - trước hết ta hãy xét thời kỳ các chúa Nguyễn.

Festival Huế 2010 diễn ra vào trung tuần tháng 6/2010. Trong chương trình Festival có lễ hội Nam Giao-một phần của lễ tế Nam Giao ngày xưa. ...

Thời quân chủ, hằng năm nhà nước tổ chức lễ  tế Nam Giao để các bậc thiên tử (con vua) cầu trời phù hộ cho quốc thái dân an. Qua thế  kỷ XX, đất ...

Lâu nay, mỗi khi nhắc đến cuộc dời đô lịch sử của Lý Công Uẩn tròn 10 thế kỷ trước, sử sách luôn đề cao vai trò của Thiền sư Vạn Hạnh. Nhưng gần ...

Cuối thế kỷ thứ XVII, cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn kéo dài (từ 1627 - 1672) không phân thắng bại đã khiến đất nước bị chia cắt thành Đàng ngoài và ...

Thời nhà Mạc, việc chọn nhân tài bằng thi cử được đề cao để tỏ  ra đây cũng là một triều đại chính thống như  ...

Trên tấm bản đồ tỉnh thành Trung Đô được vẽ vào thời Hồng Đức cách đây hơn 500 năm và một số tấm bản đồ thời Lê Trung hưng, còn ghi lại sự hiện ...

Từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, sử sách thường nhắc đên quân thủy của các nước Văn Lang, Âu Lạc, Chăm Pa, Phù Nam... Đây được coi là những nước có ...

Đình cổ Vạn Niên (thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, Hải Dương)  đặc trưng của của lối kiến trúc đình thế kỷ 17-18 với kiểu: tiền nhất, ...