Những dấu tích của con người thời tiền - sơ sử ở khu vực Đồng mô (Sơn Tây, Hà Tây)

Ngày đăng: Thứ hai 22/03/2010 12:00:00 (GMT +7)

Về mặt địa hình, đây là vùng đệm, chuyển tiếp giữa vùng đồi núi cao dưới chân núi Ba Vì với vùng đồng bằng thấp. Nơi đây mang đặc trưng của miền địa hình "bán sơn địa", với các đồi núi thấp dạng "bát úp" cùng hệ thống các sông suối nhỏ, hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi sớm được người Việt cổ chọn làm nơi cư trú. Khoảng những năm 1960, các dòng chảy khu vực này được đắp chặn tạo thành hồ Đồng Mô để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Quá trình ấy đã tạo nên những biến đổi lớn về cảnh quan môi trường vốn có ở nơi đây. Nhiều quả đồi trở thành "đảo nổi" giữa hồ nước mênh mông, nhiều dòng suối đã biến mất hay bị "chết" vì khô cạn... và, theo đó nhiều di tích của con người phản ánh lịch sử lâu đời đã bị nhấn chìm. Mùa khô năm 1998 là năm hồ Đồng Mô nước xuống ở mức thấp nhất (cốt 13m), là cơ hội có thể tiến hành khảo sát khảo cổ học thuận lợi.

Cảnh quan khu vực Đảo Nổi

Kết quả khảo sát đã xác định được mật độ phân bố dày đặc của các di tích khảo cổ học từ hậu kỳ đá cũ cho đến các thời kỳ lịch sử, với dấu tích cư trú liên tục của con người từ hàng vạn năm trước đây.

Các di tích và di vật cổ xưa nhất ở khu vực này thuộc văn hoá Sơn Vi - một văn hoá khảo cổ thuộc hậu kỳ thời đại Đá cũ, có niên đại khoảng 2 vạn năm cách ngày nay. Các di tích và di vật phân bố trên hầu hết những sườn đồi trong khu Nam Đồng Mô như: Đảo Vải, Đảo Mỏ Vít, Đảo Xanh... với các công cụ cuội sông suối, cấu tạo hạt mịn, làm từ đá quarzitte màu vàng gan gà, xanh xám. Các loại hình đặc trưng như công cụ rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang (dạng chopper), 1/4 viên cuội, hạnh nhân, các công cụ mảnh tước được ghè đẽo trên một mặt, mặt còn lại và đốc giữ nguyên vỏ cuội. Sự hiện diện của những công cụ ghè đẽo đã chứng minh quá trình lao động sản xuất của cư dân thời Sơn Vi ở vùng đất này, song, điểm đáng chú ý là sự xuất hiện những công cụ rìa lưỡi ngang có vết ghè đẽo thô sơ, gợi ý về dấu tích của văn hoá Sơn Vi giai đoạn sớm ở nơi đây.


Công cụ đá Sơn Vi

Bước sang thời đại Đá mới, có lẽ do ảnh hưởng của những đợt biển tiến, con người thay đổi địa bàn cư trú, rút lên những vùng núi cao, sinh sống trong những vùng núi đá vôi, bởi vậy, nơi đây dường như không thấy các vết tích của văn hoá Hoà Bình, ngoại trừ những dấu vết phản ánh kỹ thuật của văn hoá này.


Bàn mài

Tiếp đến, rất đậm đặc là nhóm di tích và di vật thuộc hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí được tìm thấy ở hầu khắp các sườn đối, sát với mép các con suối nhỏ với các loại hình công cụ như: rìu bôn tứ giác, rìu bôn có vai và các loại bàn mài (rãnh, vũm) thể hiện rõ tính chất chế tác tại chỗ của các loại hình công cụ này. Về cơ bản các di tích và di vật này đã phản ánh sinh động đời sống con người cách đây khoảng 4.000 - 5.000 năm, với kỹ thuật chế tác công cụ đá khá "hoàn hảo", các công cụ điển hình của thời kỳ này. Các loại hình di vật không có gì khác biệt, ngoại trừ đặc trưng nguyên liệu sử dụng với các loại đá "kém" chất lượng (đá phtanit), dạng đá trầm tích, mềm, hạt thô giống với các di tích cùng thời ở Tây Nguyên. Có lẽ bởi đặc trưng này qui định nên các công cụ dạng rìu/bôn, mặc dầu lưỡi được tạo có tiết diện hình chữ V cân hay lệch, song các mặt vát đều mài hơi cong khum, phần rìa lưỡi hơi tù, tạo cho tiết diện gần giống hình parabol, nên lưỡi không thật sắc và mỏng, nên thường xuyên được tu chỉnh (mài, rũa) khiến số lượng bàn mài các loại tìm được ở đây nhiều, như phản ánh tính chất của xưởng chế tác.


Rìu bôn có vai

Các dấu tích của con người thời Sơ sử cũng được phát hiện, song mờ nhạt hơn với các di vật của văn hoá Đông Sơn gồm một số mảnh vỡ của thạp đồng, trang trí đường tròn tiếp tuyến và vạch ngắn song song, cùng một vài mảnh gốm nhỏ trang trí văn khắc vạch kết hợp văn chải là mảnh của nồi và các đồ đựng gốm, bên cạnh mảnh vỡ của hũ gốm văn in ô vuông đặc trưng văn hoá Hán. Thực tế nghiên cứu và phát hiện đã cho thấy vào thời kỳ này, khu vực địa hình như Đồng Mô dường như không phù hợp với xu thế hình thành các trung tâm chính trị hồi đầu Công nguyên.

Bài viết cùng chuyên mục

Phụ là cha. Phụ là âm đọc theo tiếng Hán Việt. 1-Phụ là cha,như phụ mẫu : cha mẹ,phụ thân:cha ruột,dưỡng phụ :cha nuôi 2-Phụ chỉ những bậc lớn hơn ...

I. Thư tịch của Trung Quốca/ Sử sách Trung Quốc từ thời Chu và các triều đại sau đó tuy ít, nhưng đã nói đến người Âu Việt và Lạc Việt là cư dân bản ...

Chữ Hàn Quốc là chữ tượng thanh giống như chữ Khoa Đẩu và nó đuợc phát minh bới một vị vua Hàn Quốc 118 năm sau khi Hoàng tử Lý Long Tường đến Hàn ...

Theo các nhà nghiên cứu, chữ Nôm hình thành và phát triển từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở chữ Hán của người Trung  Quốc. Trong suốt quãng ...

Tôi khám phá ra câu nói cuối cùng của Chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá là tiếng Việt! Chuyện khó tin nhưng không phải là không có thật. Trong Sách Tân ...

Sau loạt bài 4 kỳ viết về đi tìm mộ Vua Quang Trung, rất nhiều độc giả đã bày tỏ sự ủng hộ GĐ&XH cuối tuần cũng như tác giả. Cùng với các học giả, ...

Theo cách tính toán của thầy địa lý Dương Văn Sinh, nếu có huyệt mộ chắc chắn chỉ có thể nằm trong khu vực nhà của chị em ông Nguyễn Hữu Oánh, ngay ...

Cùng với nghiên cứu lăng mộ Vua Quang Trung của ông Trần Viết Điền, tại khu vực gò đồi Bình An, gần Chùa Thiền Lâm, Nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân ...

Một sắc chỉ của triều đình Nguyễn liên quan đến việc canh giữ quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, gìn giữ ...

Nếu trước đây, các nhà sử học cho rằng Lăng Ba Vành là của Đức ý hầu Lê Quang Đại thì càng khám phá lăng, ông Trần Viết Điền càng bàng hoàng nhận ...