Nhà hát Duyệt Thị Đường

Ngày đăng: Thứ tư 02/04/2008 12:00:00 (GMT +7)


(Duyệt Thị Đường - Một địa chỉ bảo tồn và phát huy loại hình di sản âm nhạc Cung Đình)
Nhà hát Duyệt Thị Đường và nội dung nghệ thuật được biểu diễn trong nhà hát

I. Nhà hát Duyệt Thị Đường:

Duyệt Thị Đường: (Duyệt: - xem xét để phân biệt điều phải trái; Thị:- xem; Đường; - ngôi nhà). Nói khác khác: Duyệt Thị Đường là một gian nhà, nơi dành để xem biểu diễn nghệ thuật. Từ đó, con người chiêm nghiệm ra những điều hay, lẽ phải trong cuộc đời, thông qua nội dung những tác phẩm nghệ thuật đó. Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) nằm bên trong Tử Cấm Thành. Đây là nơi dành riêng cho Vua, Hoàng thân quốc thích, các quan đại thần, và Quốc khách của triều đình đến xem biểu diễn nghệ thuật (chủ yếu là xem các vở Tuồng cung đình).

 

Nhà hát Duyệt Thị Đường

Nhà hát Minh Khiêm Đường

Duyệt Thị Đường có tổng diện tích  11.740 m2. Diện tích xây dựng nhà hát 1.182m2. Toàn bộ khuôn viên nhà hát trước đây được dùng để trồng các loại cây thuốc Nam quí hiếm. Bên hữu nhà hát là Ngự y viện, nơi để sao chế thuốc chữa bệnh cho nhà Vua và Hoàng gia. Bên tả là sở Thượng Thiện, nơi dùng để chế biến các món ăn phục vụ nhà Vua. Tất cả đều được ngăn với nhà hát bằng bức tường.

Vật liệu xây dựng nhà hát đều bằng ngỗ lim, có chiều cao 12m, gồm 2 tầng. Trần nhà được chạm nổi cảnh trăng, sao, các vì tinh tú, mặt trời, biểu hiện của vũ trụ thu nhỏ … Bên ngoài được chạm khắc hình rồng, phụng và các hoa văn…Sân khấu hình vuông ở giữa nhà hát. Vị trí vua ngồi ở trong một vòm ngay chính giữa lầu hai, phía trước hai bên vòm có treo hai câu đối của Vua Minh Mạng:

“Âm nhạc tịnh trần hoà kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí

Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”

Dịch nghĩa:

Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng người để nuôi dưỡng chí khí.

Thiện ác đồng trình diện, khiến giữ được cái tốt (cái đúng) mà giới hạn cái xấu ( cái sai).

 


Duyệt Thị Đường, Nhà hát Hoàng gia trong Tử Cấm thành nhìn từ phía nam.
Ảnh chụp khoảng năm 1965


Hai bên trái, phải là nơi dành cho các Quốc khách. Các quan của triều đình ngồi trên trường kỷ đặt hai bên tả, hữu sân khấu. Hoàng gia ngồi xem biểu diễn trên lầu hai. Sân khấu có ba mặt, phía sau là hậu trường, có hai phòng hai bên dành cho các diễn viên hoá trang, thay phục trang để chuẩn bị biểu diễn.

Trãi qua gần 200 năm, dưới sự tác động của thiên nhiên khắc nghiệt và sự tàn phá của chiến tranh. Nhà hát Duyệt Thị Đường đã gánh chịu nhiều hư hỏng nặng nề và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Từ 1995 đến năm 2002, nhà hát được trùng tu, phục chế hoàn chỉnh lần cuối, và chính thức đi vào hoạt động thường xuyên từ tháng 3/ 2003, do nhà hát truyền thống cung đình thuộc TTBTDT cố đô Huế đảm nhiệm. Để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, một số vị trí thuộc khu vực biễu diễn và khu vực khán giả đã được thay đổi, nhằm phục vụ nhu cầu của đông đảo quần chúng và khách tham quan du lịch đến thưởng thức nghệ thuật tại nhà hát.

II. Các loại hình nghệ thuật đang được biểu diễn trong nhà hát Duyệt Thị Đường:

II.1. Nhã Nhạc:

Một ban Nhã nhạc của triều đình.

Ảnh chụp năm 1919

Nhã nhạc đồng nghĩa với nhạc lễ cung đình, nó bao hàm tất cả các tổ chức dàn nhạc lễ. Thuật ngữ nhã nhạc có liên quan đến âm nhạc cung đình có mặt tại 4 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Nhã nhạc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới thời nhà Chu (thế kỷ VI – tk III TCN). Về sau, nhã nhạc được lan toả sang các nước láng giềng như: Nhật Bản (tk VIII), Triều Tiên ( tk XII), Việt Nam (tk XV). Tuy được xem là tài sản chung nhưng nhã nhạc của mỗi nước đều có điểm riêng biệt. Ở Việt Nam, nhã nhạc bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XV, nhưng phải đến thời kỳ nhà Nguyễn mới phát triển rực rở và đạt đến trình độ uyên bác.

Ý nghĩa của  thuật ngữ Nhã nhạc có khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng nhìn chung nó vẫn giữ nguyên là loại âm nhạc chính thống của triều đình, đối lập với âm nhạc dân gian. Ngoài ra, Nhã nhạc còn mang một nghĩa hẹp, khi thì chỉ một tổ chức âm nhạc cung đình nhà Lê (thự nhã nhạc), khi thì chỉ một loại dàn nhạc trong cung đình triều Nguyễn. Nhưng những nghĩa hẹp này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và biến mất. Ngày nay, trong bối cảnh giao lưu quốc tế, Nhã nhạc được hiểu theo ý nghĩa nguyên thuỷ của nó, tức là nhạc chính thống mang tính lễ nghi, được sử dụng trong các triều đình quân chủ Việt Nam cũng như tại các nước đồng văn.

Tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc Việt Nam chính thức được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc - Gọi tắc là Unesco, công nhận là “Kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Đây là di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận tính đến thời điểm hiện tại. Nhã nhạc hiện nay chỉ tồn tại dưới hai tổ chức dàn nhạc, đó là: Đại nhạc và Tiểu nhạc.

a/ Đại Nhạc: Là dàn nhạc hết sức quan trọng trong hệ thống nhạc lễ cung đình Huế. Nó là dàn nhạc diễn tấu với những trình thức quan trọng nhất trong các buổi lễ, thường được dùng trong các lễ tế như: Tế Nam giao, tế miếu, Đại triều …Đây là dàn nhạc có âm lượng lớn.  Nhạc cụ chủ yếu vẫn là dàn trống và kèn. Cấu tạo của dàn Đại nhạc:- 2 bộ gõ và bộ hơi, gồm 4 chủng loại, với trên 40 nhạc cụ. Tuy nhiên, so với các dàn Đại nhạc được mô tả trong các dữ liệu thì dàn Đại nhạc hiện nay có biên chế gọn nhẹ hơn.

Cấu trúc nhạc cụ dàn Đại nhạc gồm:

Bộ gõ:

- Trống đại  : 01 cái
- Trống chiến : 01 hoặc nhiều hơn phụ thuộc vào số lượng kèn, theo tỉ lệ 1:1
- Bồng : 01 cái
- Não bạt ( xập xoã) : 01 cái
- Mỏ sừng trâu  : 01 cái
- Trống cơm  : 01 cái

Bộ hơi: - Kèn bầu (kèn đại)

- Kèng lỡ ( kèn trung).

Bộ dây: - Đàn nhị (nhạc cụ phụ, chỉ dùng duy nhất khi tấu bài nam bình).

Các bài bản của đại nhạc gồm: Tam luân cửu chuyển (ba hồi chín chuyển), Đăng đàn cung, đăng đàn đơn, đăng đàn kép, đăng đàn chạy, xàng xê, nam bằng, nam ai, cung ai, cung bằng, man, mã vũ, tẩu mã, bài kèn thoét, thái bình cổ nhạc, bài kèn bóp, phú lục, bài bông, nam trĩ, kèn chiến, phần hoá, phát, hiệp, khai trường.

b/ Tiểu nhạc: So với Đại nhạc, thì các bài bản âm nhạc của hệ thống Tiểu nhạc tương đối ổn định hơn. Bài bản âm nhạc mang màu sắc trang nhã, vui tươi, thường được dùng trong các buổi yến tiệc của triều đình, trong các lễ đại khánh, dịp tết nguyên đán. Chất liệu dễ đi vào lòng người, không quá trang nghiêm hoặc quá sầu bi như các bài bản của đại nhạc. về âm lượng nó không quá lớn như đại nhạc. Nhiều bài bản tiểu nhạc còn có lời ca. Cấu trúc nhạc cụ dàn tiểu nhạc:

Bộ gõ:

- Trống bản. - Phách tiền.
- Não bạt.  - Tam âm la.
- Mõ sừng trâu. - Trống chiến (sử dụng hạn chế)

Bộ hơi: - Sáo.

Bộ dây:

- Đàn tam - Đàn nhị 
- Đàn tỳ - Đàn nguyệt

Các bài bản chính thống của tiểu nhạc hiện nay đang được biểu diễn:

Hệ thống 10 bài liên hoàn ( hay thập thủ liên hoàn) gồm: Phẩm tuyết, nguyên tiêu, hồ quảng, liên hoàn, bình bán, tây mai, kim tiền, xuân phong, long hổ, tẩu mã. Các bài bản khác: - Ngũ đối thượng, ngũ đối hạ, long ngâm, long đăng, tiểu khúc, phú lục địch, phụng vũ, bài thiều.

II.2. Múa cung đình

Múa cung đình đi đôi với nhạc cung đình và có nguồn gốc lâu đời ở nước ta. Vào thời nhà Lý, nhà Trần đều đã có các điệu múa cung đình. Múa cung đình bắt nguồn từ các điệu múa truyền thống trong dân gian, được chọn lọc và nâng cao theo những qui phạm nghệ thuật chặt chẻ, nghiêm trang. Múa cung đình mang tính chất khoẻ khoắn, ca ngợi cảnh thái bình, thịnh trị.

Đội Ba vũ múa bài "Lục cúng Hoa đăng" trong một lần chiêu đãi quốc khách tại Huế. Ảnh chụp năm 1956.


Đội Ba vũ múa bài "Lục cúng Hoa đăng" trong một lần chiêu đãi quốc khách tại Huế.
Ảnh chụp năm 1956.

Múa cung đình triều Nguyễn cũng tiếp thu các điều múa từ cung đình và dân gian của các triều đại trước, nâng cao và sáng tạo thành những điệu múa mới, mang đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn thời Nguyễn. Múa cung đình nhà Nguyễn chủ yếu là múa tập thể, tư tưởng, chủ đề thường biểu hiện ở các đội hình di chuyển và kết thúc bằng một đội hình ngưng đọng. Trong khi trình diễn, các vũ sinh miệng ca, tay múa theo điệu nhạc hoà tấu. Nội dung bài hát trong điệu múa hoàn toàn bằng chữ Hán. Trong số 11 điệu múa của thời nhà Nguyễn đã và đang được nhà hát Truyền Thống Cung Đình thuộc TTBTDT cố đô Huế sưu tầm, khai thác và phục hồi gồm:

1. Bát dật (Đang biểu diễn)
2. Lục cúng hoa đăng (Đang biểu diễn)
3. Tam Tinh chúc thọ (Đang nghiên cứu phục hồi)
4. Bát tiên hiến thọ (Đang nghiên cứu phục hồi)
5. Trình tường tập khánh  (Đang biểu diễn)
6. Tứ Linh  (Đã phục hồi và đưa vào biểu diễn một số trích đoạn như:Lân mẫu xuất lân nhi, song phụng, Long hổ hội) 
7. Nữ tướng xuất quân (Đang biểu diễn)
8. Vũ phiến (Đang biểu diễn)
9. Tam quốc tây du  (Đang biểu diễn)
10. Lục triệt hao mã đăng (Đang nghiên cứu phục hồi) 
11. Đấu-chiến-thắng-phật  (Đang nghiên cứu phục hồi)

Các điệu múa này thường được dùng để biểu diễn trong các ngày lễ: Thánh thọ (sinh nhật Hoàng Thái Hậu), Tiên thọ (sinh nhật Hoàng Thái Phi), Vạn thọ (sinh nhật vua), Thiên xuân (sinh nhật Hoàng Thái Tử), Thiên thu (sinh nhật Thái Hậu). Ngoài các lễ trên, múa cung đình còn được diễn trong các lễ: Hưng quốc khánh niệm, tết Nguyên đán, Lễ kết hôn Hoàng Tử, công chúa và các dịp tiếp đãi sứ thần ngoại quốc. Khi diễn dùng ban nhạc Thiều.

II.3 Tuồng cung đình:

Tuồng hay còn gọi là hát bội – Đây là di sản văn hoá nghệ thuật sáng giá của dân tộc Việt Nam. Bộ môn nghệ thuật diễn xướng truyền thống này đã xuất hiện ở nước ta từ thời nhà Trần (1225 – 1400).

Vở Quan Công đại chiến Bàng Đức.

Thế kỷ XVII, có một bật trí giả tên Đào Duy Từ, quê ở Thanh Hoá. Vốn xuất thân trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, nhưng bị triều đình vua Lê chúa Trịnh ở Đàng ngoài ngược đãi. Đào Duy Từ đã từ giả Đang ngoài, ôm ấp hoài bảo chính trị và nghệ thuật để vào phục vụ cho sự nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng trong. Ngoài những kỳ tích mà Đào Duy Từ đã lập nên về chính trị, quân sự, ông còn là người khai sinh ra bộ môn nghệ thuật Tuồng và ca múa cung đình ở Đàng trong.

Có thể nói: Đối với các hình thái nghệ thuật cung đình, Tuồng cung đình Huế là một hiện tượng phát tích rực rở trrong truyền thống kịch hát dân tộc. Sự phát triển của nghệ thuật Tuồng dưới triều đại nhà Nguyễn, mà giai đoạn cực thịnh là thời Tự Đức – Thành Thái, đã nâng nghệ thuật Tuồng vốn mang tính dân gian trước đó lên thành một bộ môn nghệ thuật hoàn thiện, mang tính bác học cả về mặt kịch bản cũng như về nghệ thuật biểu diễn và đã tạo dựng một phong cách riêng. Trãi qua hơn một thế kỷ trị vì của triều Nguyễn, NT Tuồng đã đạt đến đỉnh cao. Tuồng đã trở thành quốc kịch của một quốc gia. Bấy giờ tại đây, Tuồng đã nở rộ và phát triển  mạnh mẽ trong hoàng cung cũng như ngoài dân dã. Nó được tất cả các tầng lớp trong xã hội, từ Vua, quan đến dân chúng hết sức ưa chuộng. Dưới triều Minh Mạng đã cho xây dựng nhà hát Duyệt Thị Đường (nhà hát đầu tiên được xây dựng trong cung) chủ yếu để diễn các vở Tuồng phục vụ cho Vua, quan và Hoàng thân quốc thích. Đến thời vua Tự Đức nghệ thuật Tuồng phát triển tột đỉnh. Vua xây dựng nhà hát Minh Khiêm Đường, qui tụ các đào, kép giỏi về đây để tập luyện và biểu diễn Tuồng. Thành lập ban hiệu thư, tập hợp các tài năng đương thời để chỉnh lý các “Phường bản” (Tuồng dân gian) soạn các vở Tuồng và hoạ văn thơ. Vì vậy, các Tuồng bản xuất hiện rất nhiều. Nhiều loại Tuồng chính thống cũng đã xuất hiện dưới triều đại này.

Tuồng cung đình với những qui chế nghiêm ngặt về luật cấm kỵ khi trình diễn cho vua xem, như: Kiêng nói huý (tên nhà vua cùng gia đình) trong vở diễn, cung cách chào và chúc tụng nhà vua trước và sau vở diễn được qui định và tuân thủ nghiêm ngặt. Khi biểu diễn, không được nhìn thẳng vào mặt vua. Nhân vật vua (nếu có) khi ngồi trên sân khấu, phải ngồi chệch, không được ngồi đối diện với vua. Không được thêm, bớt hoặc hát sai lời trong kịch bản vv…



Vở Tấm Cám

Tuồng cung đình là đại diện cho chủ nghĩa cổ điển của sân khấu Việt Nam. Cổ điển với cái nghĩa mẫu mực, có qui phạm và thể chế chặt chẻ, từ các điệu hát, âm nhạc, cái trống chầu cho đến trình độ diễn xuất của các nghệ sĩ. Nội dung của các vở Tuồng trong thời kỳ này luôn gắn với chủ đề quân Quốc, đề cao tinh thần trung quân ái quốc. Toàn bộ bối cảnh xã hội được nêu ra trong Tuồng cung đình đó là: Bảo vệ vua, khôi phục cương vị xã hội, xây dựng nền tảng đạo lý vững chắc bằng tam cương ngũ thường, trung nghĩa tròn vẹn. Những vở kịch diễn tiến trong cuộc xung đột một mất, một còn giữa chính và tà, giữa trung và nịnh, giữa người cùng máu mủ ruột thịt, nhưng bị chia cắt bởi lý tưởng nên xử sự với nhau như thù cừu…

Tuồng cung đình có hàng trăm vở, trong đó có các vở mang tính tiêu biểu, độc đáo, sâu sắc về nội dung và tư tưởng như: Sơn hậu, Dương chấn tử, Tam nữ đồ vương, Hồ thạch phủ, Lý phụng đình, Giác oan, Đào phi phụng, Phụng kỉnh văn, Ngọn lửa hồng sơn; Về Tuồng pho - Tuồng trường thiên có các vở: Vạn Bửu Trình Tường (108 hồi, Lấy các vị thuốc đông y đặt tên cho các nhân vật), Quần Phương Hiến Thuỵ (100 hồi, lấy tên các loài thảo mộc đặt tên cho các nhân vật), Học Lâm (Học lâm các): có nghĩa là: “Rừng học luật” Gồm: 08 hồi, lấy những lớp hay nhất trong các vở Tuồng cổ, chắp lại với nhau trong những cấu trúc mới, đặt tên cho nhân vật, viết lại lời mới theo lối văn bác học. Tuy vậy, do điều kiện cũng như những vấn đề khách quan và chủ quan, nhà hát Truyền Thống Cung Đình hiện nay mới sưu tầm, phục hồi và biểu diễn một số vở Tuồng và trích đoạn nằm trong hệ thống đồ sộ của Tuồng cung đình Huế.

Vở Ngọn lửa Hồng Sơn

Hành trình dân tộc đi về phương Nam, làm nên vẽ đẹp hào hùng của tổ quốc, chính là hành trình văn hoá Phú Xuân. Nhà hát Duyệt Thị Đường là một sân khấu bật nhất của thế kỷ 19 – 20. Đây là nơi đóng vai trò quan trọng cho việc làm nên sự nghiệp nghệ thuật vĩ đại. Bảo tồn nhà hát Duyệt Thị Đường và phục hồi chức năng của nhà hát cũng là tìm lại những giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc nhằm làm cho di sản văn hoá Huế ngày càng thêm phong phú. Đây là vẽ đẹp hoành tráng mà văn hoá đã đáp ứng cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân và khách tham quan du lịch.

 

 

Bài viết cùng chuyên mục

Trên đất Trung Quốc mà lại có đền thờ Bà Trưng ? Lạ, nhưng có thật. Vì nguồn thông tin này do hai nho sỹ Việt Nam từng đi sứ sang Trung Quốc, từng nhìn ...

Nếu muốn gã đã mua biệt thự, ô tô sang và có vài cửa hàng ngoài Hà Nội. Đằng này gã lại gọi thêm chú út, để hai anh em dồn vốn, bỏ công sức suốt gần ...