Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con Giáp (Phần 2)

Ngày đăng: Thứ năm 03/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên con giáp thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ dàng.

Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp(1) (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ(2), heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.

2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu

(A) thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua), roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà – năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) …v..v.. Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt : cũng như Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme)…. Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò … Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt : klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại ‘bác học’ (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (BD) qua các tên con thú. Sự phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.

(B) theo bài “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art” 1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài “L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm 1935 bởi George Coedès.

(C) Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.

(D) Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn “Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric (1984), Éditions Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân…

(E) Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)

3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học

Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu :

George Coèdes (1935) sau khi so sánh tên 12 con giáp(5) của Xiêm và Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ộng đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ.

Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) chuyên khảo về tiếng Thái(6) đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-, sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra.

Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào năm 1967 ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)(7) trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm 1975, ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ căn bản.

Tác giả Jerry Norman (1985) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman(8) còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam – bài viết trên thật ra là từ một bài viết cùng với tác giả Mei Tsu-Lin (1976) về các từ TH có nguồn gốc phương Nam.

Các tác giả đã đi đến một kết luận là chủ nhân tên 12 con giáp có thể đã ở khu vực bờ biển Đông Nam TH, và có thể là các nước Ngô hay Việt thời xưa. Gần đây hơn, trong bài viết về 12 con giáp của William G. Boltz(9) (1991), ông ghi lại một số bảng so sánh gồm có các tiếng Saek, trích từ tài liệu của giáo sư William Gedney (1982). Sau khi phân tích các dữ kiện, tác giả kết luận rằng bảng 12 con giáp của tiếng Saek Cổ (mà Gedney chép lại) là vay mượn từ TH, có lẽ khoảng 200 hay 600 năm sau Công Nguyên (SCN), và 12 con giáp VN có lẽ mượn sau đó nữa (thời kỳ Late Middle Chinese).

Từ năm 2000, người viết(10) đã cho ra các bài (kết hợp từ nhiều năm trước) bàn về tên 12 con giáp để cho thấy nguồn gốc VN. Các tác giả trước đây không ai đề nghị nguồn gốc VN của 12 con giáp, có lẽ gần nhất là tiếng Mường Cổ mà thôi. Thêm vào đó là những học giả ‘có uy tín’ trong nước như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn … cũng như các học giả TH đều viết nhiều về văn hoá VN nhưng đều hàm ý nguồn gốc TH của 12 con giáp, tuy không ai dựa trên dữ kiện ngôn ngữ học cả và đa số dựa trên tài liệu lịch sử và văn chương cổ điển. Ngôn Ngữ Học nói chung, và Âm Ngữ Học Lịch Sử (Historical Phonology) nói riêng là những ngành học khá mới mẻ ở VN và TH.

Như đã viết ở phần 1, ta đã thiết lập liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Dựa vào cách cấu tạo chữ Hán, cũng như kết quả mà các tác giả phần trên đã dầy công nghiên cứu, ta có thể khám phá thêm một số chi tiết mà các vị trên chưa biết tới, có lẽ vì không biết đến tiếng Việt Cổ chăng ?

Thí dụ như chi thứ 9 là Thân có liên hệ gì đến con khỉ VN ? Nếu ta xem cách viết chữ Thân viết bằng bộ điền với nét giữa dài hơn, giọng BK bây giờ là shēn (viết theo pinyin), được phục hồi âm cổ với dạng *khrin (Li Fang-Kuei 1971, William Boltz 1991), hay dạng *hljin (William Baxter11 1992 - để ý phụ âm r và l dễ hoán chuyển cho nhau). Nếu xem cách viết chữ khôn (một trong bát quái, một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng Cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh (HT). Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và khôn, tuy nhiên tiếng Việt Cổ có chữ khọn là con khỉ(12) (theo “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị”/ ĐNQATV, Huỳnh Tịnh Của, 1895 - lặp lại trong cuốn “Từ Điển Từ Việt Cổ”, Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện 2001). Thành ra Thân chính là khỉ, tiếng Việt Cổ, dầu rằng biến âm th-kh rất hiếm(13)vì âm thanh thay đổi qua hơn hai ngàn năm từ một gốc chung, sau đó lại gặp nhau trong tiếng Việt - so với liên hệ rất thường gặp từ tiếng TH qua tiếng Việt như sh-th của shuĭ BK/thuỷ HV (nước), shén/thần, shèn/thận (- trọng), shěn/thẩm (biết), shàn/thiện, shí/thập, shì/thích, shù/thụ (cây)…phản ánh quá trình tiếng TH nhập vào tiếng Việt thời Đường Tống một cách có hệ thống hơn. Tàn tích của biến âm th-kh còn thấy trong tiếng Việt như khoá/toả, khâu/thêu, khắp/tạp …

Còn Dần có dính líu gì đến cọp ? Dần HV viết bằng bộ miên, giọng BK bây giờ là yín, jan4 QĐ, Hẹ là jin2, rin2 – xem cách viết cổ thì thấy hình mái nhà (bộ miên) với một người ở trong đang dâng lễ vật bằng hai tay đưa lên (hàm ý cung kính). Thật ra nghĩa thông dụng của dần trong tiếng TH hiện đại là kính trọng. Các âm tương ứng với yín BK bây giờ trong tiếng Việt thường là d- như yín (dâm), yíng (doanh), yóu (du), yòu (dụ) … tuy nhiên có những trường hợp yín BK tương ứng với âm ngạc sau (postpalatal) như yín/ngân (bạc), yín/ngâm (vịnh) … và yínyín là tiếng chó sủa (so với tiếng Việt ‘gấu gấu’) ..và đôi lúc mất hẳng âm đầu đi như yìn/ẩn, yīn/âm (lặng im) : âm viết bằng bộ khẩu hợp với chữ âm (thanh) HT hay bộ nạch (bệnh) cho thấy tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn, đó là câm với âm ngạc sau k- , so với một cách đọc QĐ là ngam1- các dạng tương đương khác đáng chú ý là khản, khàn, khan. Các biến âm trên xẩy ra trong một thời gian rất dài, tuy nhiên khác với âm d- HV nhập vào tiếng Việt một cách có hệ thống hơn. Với cùng một nghĩa (dần,kính,cẩn), và dựa trên tàn tích của âm ngạc sau trong tiếng Việt (chứ không phải tiếng HV) cho ta đến một dạng âm cổ phục hồi của Dần là *kan, dạng này phù hợp với các dạng(14) bây giờ của Dần trong tiếng saek, Thái, Khme … Nhưng liên hệ trong tiếng Việt và HV còn có a-e hay a-ê như hạ-hè, trà-che, hoạ-vẹ … và phá-bể, giá-kệ/kê, gà-kê … Thành ra *kan có thể là *kên hay *kênh. Dạng phục hồi *kênh tương ứng với tiếng Việt Cổ kễnh chính là con cọp, như vậy ta có liên hệ giữa tên con giáp Dần và tên con cọp. Câu ca dao sau nói lên phần nào vai trò con mèo (Mão/Mẹo) và kễnh trong văn hoá dân gian

“Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi”

Ý tứ và cách dùng các con vật như mèo và kễnh như trong ca dao của VN trên thật là xa lạ với văn hoá TH. Qua các phân tách sơ khởi trên - và chỉ qua 6 liên hệ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa, Tý/Tử/chuột, Thân/khọn (khỉ), Dần/kễnh (cọp), Sửu/tlu (trâu) – ta thấy tên các con giáp càng gần gũi với tộc Việt hơn. Các lý giải phần sau sẽ cho thấy rõ hơn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp sau khi đã tháo gỡ các lớp bụi thời gian cũng như cạo đi các lớp son phấn vô tình hay cố ý mà người xưa để lại trong ngôn ngữ.

4. Phụ chú

(1) Ta thường nghe nói tuổi chuột, tuổi con chuột hay tuổi Tý … các cách nói này đều cùng nghĩa là năm sinh vào năm con chuột (năm Tý). Thành ra có thể có nhiều bảng cùng chỉ 12 con giáp trong ngôn ngữ, từ tiếng HV đến tiếng ‘thuần Việt’ cho thấy sự phân cực thành văn chương BH so với BD…v…v… Lê Quý Đôn (1726-1784) trong “Vân Đài Loại Ngữ” (người viết có hai bản dịch : Trần Văn Giáp, NXB Văn Hoá Thông Tin 2006 và bản của các tác giả Phạm Vũ, Lê Hiền do Nhà Sách Tự Lực in) cũng không đề cập đến mèo mà ghi Tý là thỏ, điều này cho thấy hoàn cảnh phức tạp khi dùng tài liệu TH, nhiều khi không hợp với cách dùng thông thường của đa số quần chúng (văn chương BD). Trong cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) ra đời trước “Vân Đài Loại Ngữ” khoảng hai trăm năm, tác giả đã ghi nhận giờ mẹo là giờ mèo (con mèo). Nhìn bảng so sánh trên qua tiếng Saek Cổ và hiện đại, ta thấy Mão/Mẹo hiện diện trong ngôn ngữ cổ hơn, như thỏ (nhập từ tiếng TH) bắt đầu có mặt trong tiếng Xiêm . Trên phương diện tín ngưỡng dân gian, có người tin rằng có những tuổi hợp và khắc nhau (tạo ra bao nhiêu tình duyên ngang trái) kết hợp thành nhiều trường phái ‘bói toán’, chỉ làm tên 12 con giáp ở sau ‘hậu trường’ trở nên ‘bất tử’ mà thôi.

(2) Theo tác giả Thường Tuấn (Đại Học Thượng Hải) trong cuốn “Văn Hoá về 12 con giáp”, NXB Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2005 thì 12 con giáp đã có trước đời Hán, nhưng từ các dân tộc thiểu số. Như cuốn “Nhật Thư” của Tần Trúc Giản được khai quật vào năm 1975 ở Hố Bắc cho thấy 12 con giáp đã lưu truyền từ thời kỳ Tiên Tần và dùng để bói toán. 12 con giáp gồm có chuột, trâu, cọp, thỏ (khuyết), sâu bọ, hươu …

(3) Theo “An Nam Dịch Ngữ” Vương Lộc giới thiệu và chú giải, NXB Đà Nẵng, Trung Tâm Từ Điển Học - Hà Nội – Đà Nẵng 1995.

(4) Theo “Từ Điển Mường-Việt” Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi chỉ, Hoàng Văn Hoành (2002) – NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.

(5) “L’Origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” tác giả George Coèdes viết trong Toung pao XXXI (1935), trang 315-329. Ông có nhiều khảo cứu về ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ trên vùng Đông nam Á như qua bài “Inventaires des Inscriptions du Champa” từ nă m 1908 (BEFEO VIII) và cuốn “The Making of South East Asia” (tựa đề nguyên thuỷ là “Les Peuples de la Péninsule Indochinoise” Paris 1962) dịch ra tiếng Anh bởi giáo sư H. M. Right, University of California Press 1966.

(6) “Some Old Chinese loan words in the Tai languages” bài viết của giáo sư Li Fang-Kuei trong bộ ‘Harvard Journal of Asiatic Studies’ 8:333-342 (1945)

(7) “Austro-Thai Language and Culture” (1975) tác giả Paul K. Benedict bổ túc bài viết từ năm 1967 thành sách đề nghị họ (ngữ hệ) Nam-Thái trong vùng Đông Nam Á đã cho văn hoá TH mượn nhiều từ mà ít người biết đến.

(8) “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” bài viết của Jerry Norman (1985) trong cuốn ‘Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art’ (Pacific Linguistics, Series C – No. 87). Một học giả chuyên về tiếng Hán Cổ, đã từng viết cuốn “Chinese” khá phổ thông (NXB Cambridge University Press, 1988)

(9) Xem ghi chú (C) phần 2 bên trên.

(10) “Tiếng Việt Tuyệt Vời – âm m trong tiếng Việt” Nguyễn Cung Thông (1996) xuất bản ở Melbourne (Úc). Cuốn sách ghi lại hiện tượng m chỉ các bộ phận trên mặt con người thường bắt đầu bằng âm môi m : mắt-mặt-má-môi-miệng-mồm-mõm-mụn-mí .mi, mày, mép … Tiếng Mường cũng có hiện tượng m y như tiếng Việt, thêm vào đó là các từ chỉ người Mường như mường, mol cho thấy một liên hệ đặc biệt đến âm m. Hiện tượng m là một cánh cửa hé mở cho thấy tiếng Việt có thể thuộc vào họ Môn-Khme gồm có nhánh Việt-Mường. Vị trí của tiếng Việt Cổ và ngữ hệ là một yếu tố quan trọng để tìm về nguốn gốc tên 12 con giáp, nhớ rằng cách đây trên 2000 năm tiếng Việt (Cổ) rất khác tiếng Việt hiện đại. Ngoài ra, đầu năm 2006 ở SàiGòn, người viết cho ra lò cuốn “Nguồn Gốc tên 12 con giáp – và các liên hệ Việt, Hán Việt với ngôn ngữ láng giềng qua tiếng nói - Tập 1” được phát hành rất giới hạn. Cuốn này là tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm trước và làm căn bản cho các bài viết này.

(11) “A Handbook of Old Chinese Phonology” tác giả William H. Baxter, NXB Mouton De Gruyter (1992).Tác giả dùng các vần trong Kinh Thi để phục hồi âm Hán Cổ. Các cuốn “Middle Chinese : a study in Historical Phonology” (1984) và “Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin” (1991) của Edwin G. Pulleyblank dùng làm tài liệu chính cho sự so sánh và phục hồi âm cổ tiếng Hán. Truyền thống phục hồi âm cổ dựa vào âm vận của Kinh Thi, Thiết Vận … bắt đầu khởi sắc từ các công trình nghiên cứu về âm Hán Cổ của Bernhard Karlgren từ năm 1915 (bài viết ‘Études sur la phonologie chinoise’ cũng là Luận án Tiến Sĩ của ông tại đại học Uppsala dựa vào “Thiết Vận” để phục hồi âm Hán Cổ) đến 1974 (bài ‘The book of Odes : Chinese text, transcription and translation”), nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là cuốn “Grammata serica recensa” (1957). Để ý rằng các học giả trên đều đến từ nước ngoài TH như Baxter (Mỹ), Pulleyblank (Canada), Karlgren (Thuỵ Sĩ) … Có lẽ là người “phương xa” và với cách nhìn khách quan, khoa học hơn nên kiến thức về tiếng Hán Cổ gia tăng rất nhanh so với quá khứ.

(12) ĐNQATV (1895) ghi ‘làm tuồng mặt con khọn’, ‘làm con khọn (làm chẳng nên sự gì)’. Tự điển Việt-Hoa-Pháp (1937) của Gustav Hue cũng còn ghi nhận nghĩa này. Chữ Thân thường được dùng làm thành phần HT trong cách thành lập chữ Hán như hợp với bộ nhân nghĩa là suy rộng ra, hợp với bộ khẩu là rên la … thường đọc là shēn BK, nhưng hợp với bộ thổ thì lại đọc là kūn BK (khôn), hợp với bộ đại là yăn BK (yểm HV) và hợp với bộ vũ cho ra chữ diàn BK (điện HV).

(13) Tương quan giữa các từ HV như thân-cận-gần, thận-cẩn (thận trọng, cẩn trọng, cẩn trọng), thiên-kiên, thì-thị-kỷ … tuy cách viết khác nhau nhưng đọc giống và nghĩa cũng gần nhau – có thể là tàn tích của liên hệ th-k/kh HV hay sh-kh BK thời Tiên Tần trước khi các chữ viết được thống nhất. Có thể chúng có cùng gốc nhưng vì sự phát triển của ngôn ngữ và biên gìới (thêm các tiếng địa phương) nên mang những dạng khác nhau để phù hợp với các chức năng mới. Ta thấy một khuynh hướng tương tự khi so sánh tiếng Mường và tiếng Việt : khầng-sừng, khảu-sáu, khay-say, khàinh-sườn, khã-sữa, không-sông …(sđd). Nếu tiếng Mường bắt đầu tách khỏi tiếng Việt sớm nhất từ thời Hán thì phù hợp với tương quan shēn-kūn BK đã nói ở trên trong tiếng Hán Cổ.

(14) Dần có thể coi như tương đương với kính (jìng BK) như cách viết cổ cho thấy – thành ra *kinh có thể là một dạng âm cổ phục hồi – và cũng liên hệ đến kễnh như trên. Jìng BK viết bằng bộ khuyển hợp với chữ cánh HT, là kính HV, nghĩa là một loài hổ dữ tợn đến nỗi ăn thịt mẹ nó sau khi sinh ra ! Theo người viết, kính có thể liên hệ đến kễnh. Ngoài ra, trong tiếng TH hiện nay có một chữ rất hiếm viết bằng bộ hổ hợp với chữ khứ (đã qua, đi), giọng BK bây giờ là kǎn, hǎn, QĐ ham2 … có nghĩa là loài hổ trắng, hổ giận dữ, tiếng hổ gầm … Có thể là tàn tích của khan/kan hay kễnh. Một chữ cũng rất hiếm là khư viết bằng bộ khẩu hợp với chữ khứ nghĩa là ngáp, qū BK, keoi1 QĐ và Hẹ ki1, kiap7 …cho thấy tàn tích các âm ngạc sau còn được duy trì trong tiếng địa phương (Nam TH). Như đã nói trong bài viết trước (phần 1), các từ có nguồn gốc phương Nam không được dùng và trở nên đào thải trong vốn từ TH hiện đại. Một trong những cách nghiên cứu về nguồn gốc tên 12 con giáp là tìm ra những từ Hán Cổ hiếm hay rất ít khi dùng để xác định âm và nghĩa gốc khi so sánh với các ngôn ngữ phương Nam.

Oan        Thố/thỏ        Miễn        Miễn        Miễn

(từ bỏ)     (gắng)    (thỏ con)

冤              兔              免            勉           女勉

(15) Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp .

Sau khi đã lượt qua các tương ứng giữa tên Hán-Việt/HV của 12 con giáp và tên gọi các con thú trong tiếng Việt, ta thấy một liên hệ rất rõ nét. Đây thật là một sự khám phá bất ngờ so với đa số quan niệm từ trườc đến giờ (qua bao ngàn năm) và từ Đông sang Tây rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc TH. Nguồn gốc oan trái này lại thêm oái ăm khi chính nguồn gốc chữ oan HV cho ta một cách chứng minh về chủ nhân của tên 12 con giáp. Như đã viết nhiều lần, tên 12 con giáp của VN khác với TH và dĩ nhiên các nước Á Châu khác (bị ảnh hưởng của TH) ở chỗ chi Mão/Mẹo chỉ con mèo chứ không phải con thỏ. Điều này được xác định rõ ràng từ thời Vương Sung (sinh năm 27- chết năm 97 đời Hán, thiên Thiên Sinh Luận của “Luận Hành” ) liên tục cho đến nay.

Như vậy nếu ta có thể chứng minh rằng chi Mão/Mẹo đã từng chỉ con mèo, thì bài ‘toán đố nguồn gốc tên 12 con giáp’ đã có được một lời giải rồi, không cần phải so sánh và khôi phục từng âm cổ cùng phân tách các chữ viết thời thượng cổ.

Chữ Oan HV viết bằng bộ mịch (bao trùm lấy) hợp với chữ thố ở dưới, giọng Bắc Kinh/BK bây giờ là yuān là một dạng của wan (‘quan’ đọc theo giọng Nam, hay oan). Có hai cách giải thích về cách cấu tạo chữ oan : thứ nhất là nắp đậy biểu thị sự giới hạn đi lại của con thỏ do đó hàm ý oan trái cho con thỏ bị giam lại. Cách thứ hai dựa vào sự viết giống nhau giữa chữ thố và chữ miễn – hai chữ này không có sự phát biệt trong văn tự cổ thời Xuân Thu (770-476 TCN, theo cuốn “Ngữ Lâm Thú Thoại” Triệu Bá Bình, Thời Học Đưòng chủ biên 2005, NXB Văn Hoá Thông Tin). Chữ thố có thêm một nét (dấu phẩy) để chỉ cái đuôi con thỏ. Hai chữ bây giờ chỉ khác nhau có một nét nhỏ nhưng đọc và nghĩa khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên, chữ thố trong bia khắc thời Hán và chữ miễn trong đề tự khắc hoạ ở nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán đều nói “Thần phục kiếm từ, dĩ thố kỳ tử” ( hay dĩ miễn kỳ tử là khích lệ con cái, sđd). Miễn HV hay vấn HV (biến âm m-v) đọc là miăn, wèn BK bây giờ so với min5, man6 Quảng Đông/QĐ. Thành ra miễn và thố không những cùng cách viết mà cùng âm đọc giống nhau thời Xuân Thu, hay người xưa đã dùng âm đọc miễn để biểu thị chữ oan (thành phần hài thanh/HT). Do đó oan là bị nắp đậy và nhận oan khuất, chịu oan vậy.

Theo người viết thì miễn còn là một dạng cổ của mãn – trong vốn từ hiện tại của tiếng TH không còn dùng nữa, mà tiếng Việt (Cổ) nghĩa là con mèo. Nghĩa này được ghi trong tự điển Việt-Hoa-Pháp (Gustave Hue, 1937) và Việt Nam Tự Điển (1954). Thật ra có những chữ rất hiếm như man viết bằng bộ khuyển hợp với chữ man HT (tần số dùng là 9 trên 171894734) hay bộ trĩ hợp với chữ man HT … đều đọc là man, đều có nghĩa là con mèo hoang (lynx, theo Wieger trong “Chinese Characters”). Thành ra, man hay mãn đã từng hiện diện trong tiếng TH và có nghĩa là con mèo., và thố đã từng đọc giống như vậy. Tại sao thố lại đọc giống như mèo (miễn ở trên, hay miêu HV bây giờ) ? Có thể là hình dạng và thể chất giống nhau nên khi khắc hay viết rất khó phân biệt chăng ? Nhất là thời Xuân Thu khi chữ viết TH còn lộn xộn và có nhiều chữ tượng hình hơn lúc nào hết ? Đến thời Tần Thuỷ Hoàng (221-207 TCN) thì thừa tướng Lý Tư mới bắt đầu thống nhất các cách viết.

Biến âm -iê- và –a- ít thấy như trường hợp miên-man còn tàn tích trong các từ kiền-can, miên-man-mên (như Cao Miên là Cao Man/Cao Mên), triều-trào, hiệp-hạp-hợp, kiêu-cao, yên-an, hiếu-háo, di-dái, dị-dài, phi-bay, chỉ-giấy, vi-vây … đây là khuynh hướng biến nguyên âm trước (front vowels) thành những nguyên âm sau (back vowels) và mở rộng/tròn miệng hơn. Phụ âm mũi ở cuối –n của mãn đã mất đi để ta có Mão/Mẹo/mèo : khuynh hướng đơn giản hoá này (contraction) thường gặp trong tiếng Việt và tiếng TH như chun/chui, miến/mì, bác/bá, hùm/hổ, anh ấy/ảnh … wàn/mò BK (muôn/vạn/man), màn/mò BK (màn che) míng/mì BK (u ám, tối), shăn/xiàn/xiá BK (Thiểm, tỉnh Thiểm tây) …v..v.. Ngay chữ mội HV (nghĩa là dơ bẩn) viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ miễn HT còn có thể đọc là miễn - giọng BK bây giờ là měi, mán, măn, màn so với giọng QĐ mui5 … cho thấy khuynh hướng rút gọn âm cuối. Do đó ta có thể giải thích liên hệ mãn/Mão/Mẹo/mèo. Còn thanh điệu thì phức tạp hơn, nhưng để ý một chữ đã hiện diện rất lâu đời trong tiếng Việt là mộ, mồ, mô và mã HV (mù, mú BK) : bốn thanh điệu cho thấy chuỗi dài thời gian đã trải qua cũng như bốn thanh điệu của mãn/Mão/Mẹo/mèo và meo (tiếng kêu của con mèo), so với ngấm/ngẫm/ngầm/ngâm và ngậm (hàn, hàn BK hàm HV). Một điểm đáng chú ý là một cách ghi âm miễn, miện, mãn/vãn (hay miăn BK) là dùng chữ miễn (tránh khỏi) trong cách thành lập các chữ Hán, thì dụ như miễn (chữ miễn hợp với chữ lực nghĩa là khuyên cố gắng), vãn (bộ thủ hợp với chữ miễn, nghĩa là kéo lại - biến âm m-v), vãn (bộ nhật hợp với chữ miễn, nghĩa là buổi chiều) ….

Còn thố (tù BK) không thấy dùng làm thành phần HT trong vốn từ TH hiện đại trừ cỏ thỏ ti (thỏ ti tử) viết bằng bộ thảo hợp với chữ thỏ dùng làm thuốc. Miễn viết bằng bộ nữ hợp với chữ miễn (gắng) là một chữ rất hiếm thấy, nghĩa là thỏ con, đây là một gạch nối giữa miễn và thỏ được thấy trong cách viết cổ. Ngoài ra một chữ Hán rất hiếm nữa viết bằng bộ khẩu hợp với chữ diện (mián BK, HT) cũng tương đương với chữ miễn viết bằng bộ khẩu hợp với chữ miễn HT cho thấy cách đọc chữ miễn thời xưa. Thỏ rất gần gũi với tộc Hán, khác với mèo (xem bài viết riêng về chi Mão/Mẹo cùng tác giả) trong văn hoá dân gian của tộc Việt : cả hai con đều mang vài đặc tính tiêu cực phản ánh qua ca dao tục ngữ như “ăn như mèo ngửi”, “nhát như thỏ đế” … chứ không tao nhã như “ngọc thỏ” (con thỏ ngọc chỉ mặt trăng), hay “..mang giầy thỏ, chạy được nhanh..” trong văn hoá TH.

Tóm tắt các dữ kiện ngôn ngữ trên ta thấy thỏ có thể được dùng để thay cho mèo thời Tiên Tần để gần với dân tộc Hán hơn, rồi càng ngày 12 con giáp càng được dùng trong các hoạt động bói toán và tín ngưỡng, chiếm một địa vị quan trọng trong các nền văn hoá Á Đông – xa hẳn với tên các loài cầm thú đã tạo ra chúng. Điều này là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ cho thấy tính chất quy ước của con người khi sống chung với nhau. Chính vì tiếng Việt còn duy trì con mèo cho chi Mão/Mẹo (qua khẩu ngữ) mà ta có thể lập luận rằng nguồn gốc tên 12 con giáp chính là từ tiếng Việt Cổ, ít nhất là vào thời Tiên Tần.

Các cách viết chỉ là những ký hiệu ghi nhận lại âm đọc thời bấy giờ mà thôi. Không biết có phải Tàu mượn thẳng từ tiếng Việt Cổ qua giao lưu văn hoá với nhóm Bách Việt, khi nhóm Bách Việt còn hùng mạnh, nhớ là tộc Việt thuộc vào nhóm Bách Việt cũng như các nhóm Hẹ, Tiều … đã phải di chuyển đến các miền biển vì áp lực phương Bắc quá mạnh; Hay là qua các quan lại gốc Việt làm việc trong triều đình TH thời đó đã cố ý “gài” các chữ Việt Cổ để cho hậu thế học hỏi ? Có một điều dễ nhận ra là các từ Việt Cổ trong TH càng ngày càng bị đào thải (như đã viết từ phần trước), cũng như một số từ bị đổi làm cho việc nhận ra tên cổ của 12 con giáp trở nên rất khó khăn. Thêm vào đó là số lượng tài liệu viết bằng chữ Hán rất phong phú, hợp với ảnh hưởng quan trọng của các triều đại Hán, Đường - khi văn hoá Bách Việt đã chìm sâu vào dĩ vãng và văn hoá TH trở nên nổi bật – và chính các thời đại này mà 12 con giáp bắt đầu du nhập vào các nườc chung quanh TH. Quá trình giao lưu văn hoá (trong đó có cách tính năm, tuổi, bói toán, phong thuỷ, thập nhị chi và thập can…) hầu như một chiều này làm cho ta cứ tưởng rằng tên 12 con giáp là từ tiếng TH chứ không phải tiếng Việt, thật là một điều oan trái vậy.


Mời xem các phần khác:

  1. Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con Giáp (Phần 1)
  2. Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con Giáp (Phần 3)
  3. Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con Giáp (Phần 4)

Bài viết cùng chuyên mục

Giá trị của bãi đá cổ Sapa nằm ở chính nội dung những hình vẽ của nó. Nếu không có nội dung này thì giá trị của nó sẽ chỉ là ....đá như mọi hòn đá ...

Sửa soạn hội hè: Người ta phải sửa soạn từ trước ngày Đông chí, bằng cách giã gạo để ủ lên men làm rượu, hoặc để làm bánh, nấu xôi. Hình hai ...

Tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Lời nói đầu: Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền ...