Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - 6

Ngày đăng: Thứ hai 06/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

Âm mưu của Pháp muốn chiếm Bắc Kỳ vẫn không phai, nên đầu năm 1882 Đại tá Hải quân Henri Riviere được lệnh đem tàu chiến ra đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, thừa thắng hạ luôn thành Nam Định vào tháng ba, năm 1883. Nhưng đến khoảng cuối tháng 5 thì Riviere lại bị quân cờ đen phục ở Cầu Giấy giết chết. Quân cờ đen còn bêu đầu của Riviere từ làng này qua làng khác.

Nhiều cánh quân cờ đen khác thường đem quân sang Lào, đánh cướp nha phiến của người Hmong để mua lương thực và vũ khí, và bắt đi đàn bà con gái cho nên Miêu tộc phải nhờ người Pháp bảo vệ. Tháng 11, 1914 quân cờ đen tấn công đồn lính tây ở Sầm Nứa. Sau đấy tiến đánh Phong Saly và đã đụng độ đến mấy tháng với lực lượng H'mông và Pháp, trước khi bị bại phải tháo chạy trở về Trung Quốc.

Một thủ lãnh Miêu ở Hà Giang, Việt Nam tên Yang Yilong được tin bèn xin nhà cầm quyền địa phương Pháp trang bị vũ khí để mở những trận du kích đuổi quân cờ đen. Từ đó mở đầu cuộc hợp tác quân sự giữa người Miêu và Pháp, và kéo dài cho mãi về sau. Để trả thù quân cờ đen đốt phá các buôn làng của người Miêu mà họ đi qua.

Cuộc hợp tác giữa người Miêu và Pháp cũng chẳng mấy êm trôi khi chính quyền thuộc địa lại tăng thuế vào năm 1914, gánh nặng bất công đè trĩu trên vai người H'mông. Đã vậy thực dân Pháp lại quyết định mở những trục lộ giao thông giữa Việt Nam và Lào chạy qua Xiêng Khoảng và Phong Saly, và bắt dân H'mông đi làm phu, làm cho việc mùa màng bị đình trệ càng thiếu tiền đóng thuế. Nhiều làng kéo nhau trốn vào rừng sâu.

Năm 1917, phụ tá của kiatong Moua Tong già nua là Lo Bliayao lại tham nhũng bóc lột phu phen người Miêu đã đưa đến sự nổi dậy. Bliayao lại cậy vào quân địa phương của Pháp để đàn áp.

Lãnh tụ Chay Pa

Trong khi đó ở buôn làng người Miêu trong vùng Điện Biên Phủ xuất hiện một thủ lãnh tên là Chay Pa, gốc gác từ Vân Nam, biết nói và viết ba thứ tiếng Hoa, Lào và Việt, rành ma thuật, cầm đầu người Miêu chống lại ngươi Tày vốn đàn áp họ, và xúi dục người Miêu  không đóng thuế. Quân Pháp được gởi từ Sơn La đến để truy lùng Chay Pa, nhưng thường bị tập kích. Nhưng đến năm 1919, Chay Pa yếu thế phải rút quân sang Xieng Khoảng và hô hào người H'mông đứng lên chống Pháp để lập một vương quốc độc lập với kinh đô là Điện Biên Phủ. Chay Pa được sự hưởng ứng của người Miêu ở Xieng Khoảng nổi lên đánh phá các căn cứ của lính thuộc địa. Họ còn ám sát hụt tên Lo Bliayao làm tên này càng hợp tác với Pháp chặt chẻ hơn. Nhà cầm quyền thực dân Pháp tăng phái quân chính qui từ Việt-nam sang, và áp dụng kế sách ấp chiến lược cô lập quân nổi dậy. Chiến lược này lần hồi thành công và khiến loạn quân tan rã, nhưng quân Pháp vẫn treo giải cho đầu của Chay Pa. Y rút vào rừng sâu sống với vài bộ hạ thân tín nhưng lại bị theo dõi và bị ám sát vào tháng 11, năm 1922.

Lãnh tụ Lý Foung Touby

Sau vụ nổi dậy bất thành của Trịnh Chiếu ở Vân Nam, Tứ Xuyên, người Hản và Miêu trốn chạy sang Lào. Trong số đó có một người họ Lý đến được Nong Het năm 1865. Y lập gia đình và có 3 con; trong số có cậu Foung rất thông minh. Foung lấy con gái của Lo Bliayao tên May. Hai người có 2 đứa con, trai tên là Touby và gái tên Mousong. Foung lấy thêm vợ bé, và May buồn rầu tự vận. Điều này làm cho quan hệ giữa hai họ Lo và Lý trở nên căng thẳng. Các thổ hào liền phải nhờ quan Pháp can thiệp, và để tránh rắc rối nhà cầm quyền liền chia cho họ Lý cai quản Miêu tộc vùng Keng Khoai và họ Lo xem vùng Phac Boun. Năm 1935 Lo Bliayao qua đời, con là Tou Song thay thế chức kiatong.

Cùng năm này người H'mông lần đầu theo học trường tiểu học của Pháp mở tại Xieng Khoảng. Các danh gia họ Lo, Lý và Moua đều cho con đi học để hy vọng tranh dành ngôi thứ chính trị về sau. Theo thời gian, Touby Lý đỗ xong trung học và theo học trường Hành chánh mở tại Vientiane.

Lo Tou Song ít học lại ham mê cờ bạc nên thâm lạm công quĩ rất phật lòng quan cai trị người Pháp. Nhưng Lý Foung lại khôn khéo đem tiền của mình đền bù giùm nên được lòng tin của quan bảo hộ. Từ đấy mà chẳng mấy chốc vai trò chính trị xán lạn của đứa con trai Lý Touby đã được dọn sẳn. Đến khi người Pháp sa thải Tou Song khỏi chức kiatong ở Phac Boun, Touby liền được thay thế. Nhưng người em của Tou Song là Faydang rất lấy làm bất bình sinh oán hận Touby, khiếu nại đến hoàng thân Phetsarath ở Vientiane nhưng vẫn bị người Pháp lấn át.

Sau khi ra trường Hành chánh, với chỗ đứng vững chãi trong guồng máy chính trị, uy thế của Touby càng gia tăng. Y đã dùng sản lượng nha phiến do người H'mông trồng trọt để làm áp lực với người Pháp, vì Pháp đang muốn chiếm độc quyền thị trường thế giới lúc bấy giờ. Y còn thuyết phục người Pháp nâng cao vai trò của người H'mông trong xã hội Lào.

Đến năm 1949 Trung Quốc hoàn toàn do đảng Cộng sản thống trị, làm cho nguồn cung cấp nha phiến ở Vân Nam và biên giới Miến Điện vốn nằm dưới sự cai quản của tàn dư quân đội Quốc dân đảng bị cắt đứt. Nguồn cung cấp từ Iran và A-phú-hản lại quá đắt, cho nên Pháp tận dụng nguồn nha phiến của người Hmong để chiếm lĩnh thị trường. Năm 1953 Liên hiệp quốc ký công hàm chấm dứt việc các chính phủ tham gia buôn bán nha phiến, dẫn đến thị trường chợ đen. Sản lượng càng gia tăng và lợi nhuận càng cần thiết cho việc tài trợ việc tái chiếm Đông dương vì chiến tranh leo thang.

Xem phần khác:

  1. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 1
  2. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 2
  3. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 3
  4. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 4
  5. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 5
  6. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 7
  7. Người Miêu: Lịch sử của một dân tộc lưu vong - phần 8

Bài viết cùng chuyên mục

Nói theo ngôn ngữ chủng học, Việt Nam là một trong những cái nôi loài người, thì nền văn minh Việt Nam cũng là nền văn minh cổ nhất thế giới nói chung và ...

"Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ lĩnh làm cương giớị Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu ...

Sơ tầm về tộc Việt Năm lên năm, tôi học chữ Nho, một loại chữ của Trung-quốc, nhưng dùng chung cho hầu hết các nước vùng Á-châu Thái-bình dương (ACTBD). ...

Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả Việt-Nam bài diễn văn của Giáo-sư Trần Đại-Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp-Á (Institut ...

Quốc Mẫu Âu Cơ (Khoảng 2800 Tr.TL): Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ dòng dõi tiên. kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được ...

Truyện Họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái, thế kỷ XV) có chi tiết đáng chú ý: Lạc Long Quân dạy dân vùng cao xăm mình để tránh bị giao long làm hại. Con rồng ...

I. Trở về: Nếu như mỗi người trong mọi người chúng ta đều tự thấy con đường của chính mình cùng với lịch sử dân tộc đã, đang và sẽ trải qua (trôi ...

Khu di tích đền Hùng gồm bốn đền, một chùa và một lăng Tổ được xây dựng trên núi Hùng.

Nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương bao gồm ca hát và nhảy múa, là thành phần quan trọng trong nền văn hóa Văn Lang mà dấu tích còn ghi lại trên những ...

Những nhận thức mới nhất về niên đại thời Hùng Vương: Tại Hội nghị Hùng Vương 3, chúng ta càng nhận thức được rõ sự cần thiết phải luôn luôn bám ...