Ngô Sĩ Liên và Đại Việt sử ký toàn thư

Ngày đăng: Thứ hai 18/05/2009 01:39:06 (GMT +7)

Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý [1], huyện Chương Đức (nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây). Theo các tài liệu mới được công bố gần đây, Ngô Sĩ Liên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân, nhiều lần được Lê Lợi cử đi giao thiệp với quân Minh trong những thời kỳ đôi bên tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng.

Rất đáng tiếc, về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo Đại Việt lịch triều đăng khoa lục thì ông thọ tới 98 tuổi, đỗ đồng tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông (1442). Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được "ân tứ vinh quy" với lễ đón rước rất trọng thể. Và sau này, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, họ tên người đỗ sẽ được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để "làm gương sáng cho muôn đời".

Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông, Lễ bộ Hữu thị lang, Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn dưới triều Lê Thánh Tông. Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua và đã hoàn thành vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 đời Lê Thánh Tông (1479), gồm 15 quyển, chia thành hai phần:

Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938). Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428).

Bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư cũng do Ngô Sĩ Liên viết, có đoạn nêu rõ: "Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới... Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu...". Qua những đoạn trích trên đây cũng có thể thấy được đôi nét tổng quát về quan niệm, bút pháp sử học... của Ngô Sĩ Liên.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành, tuy do Ngô Sĩ Liên khởi thảo (hoàn thành vào năm 1479), nhưng đã được các sử thần các đời khác như: Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy... hiệu chỉnh bổ sung thêm. Phần đóng góp chủ yếu của tiến sĩ họ Ngô vào bộ quốc sử lớn này là: đặt tên cho bộ sách là Đại Việt sử ký toàn thư, được triều đình và các đời sau chính thức công nhận. Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã dựa vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên. Ông viết thêm 1 quyển thuộc Ngoại kỷ, trình bày lại tiến trình lịch sử của Việt Nam từ họ Hồng Bàng cho tới khi quân xâm lược Minh bị đánh đuổi về nước; viết Tam triều bản kỷ, sau này được đưa vào phần Bản kỷ toàn thư và Bản kỷ thực lục; viết bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư; viết những lời bình luận (hiện còn thấy 166 đoạn) có ghi rõ "sử thần Ngô Sĩ Liên viết"... Khác với phần lớn các lời bình của Lê Văn Hưu hoặc Phan Phu Tiên, những đoạn bình luận lịch sử của Ngô Sĩ Liên thường dài hơn, do đó cũng thường cặn kẽ hơn, sinh động hơn; nhiều đoạn có thể coi như lời tổng kết cả một giai đoạn lịch sử. Những dòng ca tụng các bậc trung thần nghĩa sĩ vì nước quên thân; những lời chỉ trích các hành động tham bạo của kẻ gian tà, những lời tố cáo vạch trần những âm mưu quỷ kế của kẻ thù được viết với ngọn bút tài hoa của Ngô Sĩ Liên vốn là người học sâu biết rộng, có ý thức vươn tới sự hoàn thiện như Sử Mã (Sử ký của Tư Mã Thiên), Lâm kinh (Kinh Xuân Thu do Khổng Tử san định), thực sự đã làm cho biết bao thế hệ người đọc đời sau cảm phục sâu sắc.

Bộ Đại Việt sử ký toàn thư là một cống hiến to lớn của Ngô Sĩ Liên vào kho tàng văn hóa dân tộc.

----------

[1] Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục CHÍNH BIÊN QUYỂN 19 thì là làng Chúc Sơn. Ngày nay gắn với tên tuổi Ngô Sĩ Liên là làng Ngọc Giả, chưa hề có vào thời ông sống. Mãi sau có nhóm dân Chúc Lý lên khai phá núi Chúc (Chúc Sơn ?), dần dà cùng dân tứ xứ đến ở rồi mới lập ra làng Ngọc Giả. Làng Chúc Lý bây giờ trở thành một làng lớn với số dân đông đúc nhưng không hiểu sao tên tuổi Ngô Sĩ Liên lại rất mờ nhạt trong tâm thức của người dân nơi này. Hội làng truyền thống làng Chúc Lý tổ chức vào ngày 10-6 âm lịch hàng năm, tuy nhiên mọi nghi thức tế lễ Ngô Sĩ Liên ngày nay đều tiến hành bên làng Ngọc Giả, phóng sự phim ảnh về Ngô Sĩ Liên đều chỉ tiến hành ở làng này.

Vậy thực tế Ngô Sĩ Liên có quan hệ tốt hay xấu với làng Chúc Lý xưa kia ? Theo Khâm Định Việt Sử, "nhà vua (Lê Thánh Tông) dụ bảo Ngự sử Ngô Sĩ Liên và Khiên Nhân Thọ rằng: Trẫm mới lên ngôi vua giữ chính quyền, đầu mùa xuân tế Giao là noi theo điển lễ cũ của tiên tổ, mà các khanh lại cho là không phải, thế là các khanh coi nước ta cũng như các nước phiên thần đời cổ. Vả lại, trong lúc Lệ Đức hầu (Lê Nghi Dân) cướp ngôi, Sĩ Liên có nhiệm vụ chấn chỉnh phong hóa và phép tắc trong nước, Nhân Thọ có nhiệm vụ tham tán mưu kế ở nơi màn trướng của vua, nói về phần tín nhiệm và đãi ngộ kể cũng đã hậu. Nay Lệ Đức hầu mất nước, các ngươi không biết chết theo với người đã cho mình ăn lộc ngày trước. Các ngươi thật là bầy tôi gian tà bán nước".

Bài viết cùng chuyên mục

Hanoi during the Tran Dynasty (1226-1400): Nhà Lý chính thức chấm dứt sự thống trị của mình vào ngày mồng 1 tháng Chạp năm Ất Dậu (1226), khi Lý Chiêu Hoàng dưới ...

Trước thềm Xuân Kỷ Sửu, miền Trung đã bắt đầu có giá buốt. Tôi bay hơn nghìn cây số từ miền Nam về Hà Tĩnh tìm đất Phú Gia trong tâm thức kỳ lạ không ...

Thăng Long - Hà Nội ( 01/05/2009)

Năm 1010, Lý Thái Tổ chọn đất này làm kinh đô và đặt tên là Thăng Long với lòng mong muốn ngày càng phồn thịnh như Rồng bay lên. Năm 1831, vua Minh Mạng triều ...

Rất nhiều người quan niệm rằng tục cúng ông Táo là của người Hán du nhập vào văn hóa Việt. Thậm chí nó được các học giả nói một cách rất nghiêm túc. ...

Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của Việt Nam thời An Dương Vương. ...

Những ngôi đền – đó chính là chứng tích cụ thể mà sống động, hiện thực mà vẫn huyền hồ của các truyền thuyết. Dòng truyền thuyết An Dương Vương khi ...

Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương xin giới thiệu bài viết dưới đây được đăng trên Tuổi trẻ Online giới thiệu về bà Nguyễn Hải Anh - người đã ...

Nghề thêu đã tỏa sáng ở đất Thăng Long, đó là một thực tế đã được ghi nhận. Sự tỏa sáng ở thời kỳ đầu, nghề thêu đã có những đóng góp quan ...

“Nghề thêu xuất hiện ở nước ta từ lâu, nhưng cho đến nay, không ai biết chính xác nghề thêu được du nhập Việt Nam từ khi nào. Có lẽ, vì xưa kia nghề ...

Người Việt Nam may mắn có chung một đạo, Đạo thờ cúng ông bà. Người Việt Nam còn may mắn hơn nữa khi có chung một Tổ để hướng về, có chung một miền ...