Nét đẹp tục kết chạ giữa các làng cổ ở Bắc Giang

Ngày đăng: Thứ bảy 01/11/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tuy tách ra nhưng cả hai đều không quên gốc rễ ruột rà của mình. Nhưng theo lưu truyền trong dân gian, cũng có khi tục kết chạ bắt nguồn từ thời con người còn thưa thớt, sống heo hút hoang vắng giữa bao la núi rừng và thú dữ, dân hai làng cận kề nhau đã xích lại gần, kết nghĩa anh em để cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất, lao động, chống lại thiên tai địch hoạ, thú dữ và chia vui sẻ buồn trong cuộc sống.

Tục kết chạ ở Bắc Giang đã có ở khá nhiều nơi. Kết nghĩa giữa 2 làng với nhau như ở huyện Việt Yên có làng Hoàng Mai (xã Hoàng Ninh) và làng Mai Vũ (xã Ninh Sơn), làng Hà hạ (xã Việt Tiến) và làng Xuân Lạn (xã Hương Mai); làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà và làng Kim Lũ, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) … Cũng có khi một làng kết nghĩa với nhiều làng như Hà Mỹ, xã Chu Điện kết nghĩa với các làng Mậu Sơn, Mai Thường, Phương Lạn (huyện Lục Nam).

Đặc thù của các làng kết chạ là hai bên đều tự nhận mình là em, tôn bên kia là anh. Đó là cách gọi xưng hô khiêm nhường, tôn kính nhau. Từ cách xưng hô đến cử chỉ họ đều trân trọng nhau, chan hoà cởi mở như người trong một nhà. Họ còn quan niệm dân làng hai bên đều là "dân xã cả, anh em một nhà". Họ cùng quy ước với nhau: trai gái hai làng không được lấy nhau, không gây bất hoà, đối xử với nhau thân tình, giúp đỡ nhau trong sản xuất, lao động, cuộc sống… Hai bên còn cam kết đi lại thăm hỏi nhau vào dịp lễ hội, tết, hiếu… Ngày hội của những làng kết nghĩa bao giờ cũng là ngày đông vui nhất vì có cả làng anh sang chung vui. Trong ngày này, những người con xa quê bao giờ cũng nhớ tìm về hội làng. Trước ngày hội, người người, nhà nhà đều náo nức chuẩn bị. Gói bánh trái, sắm lễ vật lên đình chùa và quần áo là lượt đi đón làng anh. Đặc điểm nổi bật vào ngày hội giữa hai làng kết chạ là cùng tổ chức đoàn đón rước nhau. Đúng giờ quy ước, cả hai làng với đầy đủ thành phần cùng xuất hành từ làng mình tiến sang làng bên. Đến giữa đường gặp nhau, làng anh làng em cung kính vái chào. Rồi anh trước em sau, cả hai làng cùng tiến vào đình, chùa làng có hội làm lễ. Họ cùng cầu chúc cho nhau một năm mưa thuận gió hoà, làm ăn tấn tới, tình anh em gắn kết bền chặt. Những lời ca, tiếng hát, những trò vui của ngày hội được làng anh và làng em trổ sức đua tài đến thâu đêm. Tan hội ra về, bao giờ làng em cũng có đoàn tiễn làng anh đúng đến điểm gặp lần trước, cung kính vái chào nhau hẹn gặp lại mùa sau. Ngày nay, những nghi lễ này tuy không được duy trì thường xuyên nhưng hàng năm vào ngày hội làng bao giờ làng anh, làng em cũng gặp nhau. Nhưng đẹp hơn cả sự mời chào, đón rước ấy chính là tình đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất, xây dựng và bảo vệ xóm làng trong cuộc sống thường nhật. Điển hình như hai làng kết chạ Phúc Linh và Hương Câu, xã Hương Lâm huyện Hiệp Hoà. Năm 1895, thiên tai khắc nghiệt xảy ra, dân làng Hương Câu gặp khó khăn về kinh tế. Lúc ấy, dân Phúc Linh đã cùng gánh vác chia sẻ khó khăn với dân anh. Rồi cuối thế kỷ XVIII, khi dân Phúc Linh dựng đình lại được dân Hương Câu đến khiêng đá, kéo gỗ giúp không kể ngày đêm. Vào năm 1987, dân Hương Câu xây dựng phân hiệu II, trường phổ thông cấp II, dân anh Phúc Linh không quản đường xa đến thồ thóc, gánh ngói giúp dân em xây dựng trường… Cứ thế làng anh có việc gì lớn làng em lại sang giúp. Mối quan hệ giữa hai làng vẫn được duy trì bền chặt đến ngày nay. Làng Hà hạ (xã Việt Tiến) và làng Xuân Lạn (xã Hương Mai) huyện Việt Yên cũng là một trong những làng kết chạ có mối quan hệ mật thiết. Năm 2006, hai làng đã cùng nhau tổ chức lại lễ hội rước Thành hoàng của hai làng. Ông Ngô Văn Tín, xã Hương Mai cho biết: "Sau nhiều năm nay, hai làng chúng tôi đã bàn bạc quyết định mở lại lễ hội rước Thành hoàng để cho con cháu hiểu về truyền thống, ý nghĩa tục kết chạ". Ngày nay, các làng kết chạ đã dần bỏ đi được những tập tục cũ lạc hậu như cỗ bàn linh đình, kéo dài nhiều ngày cũng như những rườm rà trong giao tiếp mà dần lưu giữ những nét đẹp vốn có của những làng quê.

Tục kết chạ vẫn là một phong tục đẹp, riêng biệt của Bắc Giang, góp phần thắt chặt tình nghĩa xóm làng vốn có ở các làng quê.

Bài viết cùng chuyên mục

Cứ đến tháng ba, mỗi khi trời khô hạn, cây cối mùa màng không đủ nước, người Lô Lô ở Mèo Vạc (Hà Giang) lại nhờ đến lễ cầu mưa. Với những nghi ...

Nón lá quê hương ( 30/10/2008)

Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với ...

I. Khái niệm:Phàm khi muốn tìm hiểu về tiếng nói, phong tục và tập quán, nguồn tài liệu chính của tôi là lịch sử bởi lẽ một bên là cái bóng và bên kia ...

Ném còn là nét đẹp văn hoá thể hiện bản sắc dân tộc của cư dân miền núi phía Bắc. Mùa xuân về, cứ đến ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm là ...

Hội vật Liễu Đôi ( 28/10/2008)

Hội vật Liễu Đôi được tổ chức ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Ở các lễ hội khác, vật võ chỉ là trò vui thể thao thì trong lễ ...

Người Chăm theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng, để đến được với nhau, đôi trai gái phải qua quá trình tìm hiểu hoặc có người làm mối. Khi hai bên ...

Yên Lạc, một làng nhỏ ven sông Tích Giang,  con sông ngoằn ngoèo  chạy dọc xứ Đoài. Cả thôn có 6, 7  xóm với những dòng họ Đỗ, Kiều Cả, Kiều Hai, ...

Theo các bậc cao niên thuộc vùng trung du tỉnh Nghệ An, hội vật cù ở đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15.

Khua luống bắt nguồn từ lao động. Trong quá trình giã gạo, để đỡ nhàm chán, mệt nhọc, thi thoảng người ta khua thêm một vài nhịp vào thành luống (cối ...

Lễ hội Phủ Giầy là lễ hội tôn vinh Thái Mẫu Liễu Hạnh - một bậc "Thiên hạ mẫu nghi", vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị Thánh trong ...