Một số thư tịch về chữ Việt cổ

Ngày đăng: Thứ bảy 24/10/2009 12:00:00 (GMT +7)

Họ cũng mấy lần nói đến chữ Việt cổ, như: Chính sự dùng lối thắt gút (1) hoặc sự kiện người Việt qua nhiều lần phiên dịch đã cống hiến cho vua Chu con rùa lớn, trên mu rùa có chữ Khoa đẩu (chữ viết hình con nòng nọc).
b/ Sách Giao Châu ngoại vực ký (2) cho rằng, các Lạc tướng thời Hùng Vương có ấn đồng tua xanh. (Đã có ấn tức phải có chữ trên ấn).
c/ Nhà nghiên cứu Trung Quốc, Trần Tu Hòa, trong tác phẩm Nghiên cứu về lịch sử cổ đại văn hóa dân tộc Việt Nam (Thiên III chương I) cũng đã viết về ấn đồng tua xanh ấy: “Chính sự thời Lạc Vương còn theo lối thắt gút, như vậy dường như chưa có văn tự. Nhưng đã có ấn đồng tua xanh thì nhất định đã bắt đầu sử dụng văn tự. Chữ dùng đương thời là chữ và phù hiệu do Lạc Vương tự sáng tạo ra. Nhưng chỉ hạn chế trong giai cấp thống trị chưa phổ cập đến dân thường”.


II. Thư tịch các nước khác.

a/ Trước năm 1945 nhà khoa học Tiệp Khắc, Cesmir Louklca trong tác phẩm Lịch sự chữ viết thế giới đã viết: “Phía Nam đế quốc Trung Hoa, trong vùng Đông Dương hiện nay, có nhà nước An Nam ngay từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đã bị người Hán thống trị. Chữ Trung Quốc do viên Thái thú Sĩ Nhiếp du nhập vào đây trước công nguyên. Trước đó hình như người An-nam đã đọc bằng chữ ghi âm riêng, chữ đó không còn lại đến ngày nay” .
b/ Nhà nghiên cứu Terrien de la Couperie viết trong tạp chí Hàn lâm của Hoàng gia Anh, xuất bản năm 1887, đã cho rằng: Sĩ Nhiếp bắt buộc người Việt học chữ Hán và cấm dùng chữ tượng thanh của mình (3).
Đó là một số tư liệu qua báo chí Trung Quốc và nước ngoài nói về chữ Việt cổ.

III. Thư tịch Việt Nam nói về chữ Việt cổ.
a/ Sách Việt sử tân ước (4) của Hoàng Đạo Thành và sách Việt sử lược (5) theo bản dịch của Viện sử học, đều cho rằng, chữ Thổ vốn là chữ Việt cổ của nước ta. (Thổ tức là dân tộc Tày hiện nay ở Việt Bắc).
b/ Trương Vĩnh Ký cũng khẳng định (6) dân tộc ta vốn có chữ riêng trước khi dùng chữ Hán rồi chữ Hán Nôm.
c/ Bài Mông Ký trong sách Thánh Tông di khảo có chép lại việc vua Lê Thánh Tông một đêm mưa gió nghĩ lại bên hồ Trúc Bạch đã nằm mộng thấy người con gái dâng một bức thư có 71 chữ viết ngoằn ngoèo không thể đọc được. Ba năm trong song một giấc mơ khác, Lê Thành Tông lại gặp một người Thiên thổi sáo, Vua hỏi về chữ lạ trong giấc mơ mà mình thấy năm xưa. Người Tiên trả lời rằng: “Những chứ ấy là lối chữ cổ của nước Nam. Nay ở miền núi có người còn đọc được, Nhà vua với họ đến thì tự khắc biết”. Câu chuyện về giấc mơ ấy phải chăng phản ánh ý đồ, nhà vua uyên bác này muốn tìm lại chữ Việt Cổ đã ra đời trước khi nước ta bị người Hán xâm lược và hủy diệt văn tự của ta? Phải chăng đây là biểu hiện ý thực độc lập tự cường về phương diện văn hóa của nhà vua trong giai đoạn cực thích của chế độ Phong Kiến (6)
d/ Điều đáng chú ý nhất là cuốn Thanh Hòa quan phong (7) của Vương Duy Trinh viết năm Thành Thái thứ 15 (1903). Ông đã sưu tầm được một hệ thống chữ cái và một bài viết ca bằng thứ chữ ấy ở huyện Quan Hóa, Thanh Hóa (xem ảnh 1 & 2). Ông cho rằng: “Vùng núi ngày nay còn có chữ thì xưa kia người hạ bản thất có chữ”.
Theo số liệu thống kê năm 1920, ở huyện Quan Hóa có 13.230 người Mường và 17.190 người Thái. Hệ thống chứ viết trong Thanh Hóa quan phong về cơ bản giống chữ viết của người Thái ở Tây Bắc và chữ bùa của người Mường ở Thanh Hóa. Đây là hệ thống chữ viết ghi âm có xen một số chữ “biểu ý”. Ngôn ngữ được ghi trong sách là tiếng Thái cổ lẫn tiếng Mường.
Điều đáng chú ý là Vương Duy Trinh có chứa chữ Hán Nôm nên không ghi âm được chính xác. Ví dụ “Kin bò dậy” (ăn không được) viết thành “kiên bãi dãi” (ảnh số 1 &2)/
Qua một số tư liệu thư tịch trên, có thể giải thiết rằng tổ tiên chúng ta xưa kia đã có chữ viết – chữ khoa đẩu, chữ viết này thuộc loại văn tự ghi âm chăng?



Sau đây là cách đọc âm chữ Khoa đẩu:
1/ Âm:
“Du xu dưỡng hừa ảo đè ba cỏ hương cúc tẩy khu mu đơn tây hương tiều hồng ba hoàng thiên nào du xu mông nồng hiên tối bào kham nó hy châu rỏ khoan hiềm bông uần hử. Cứ nam báo kiều đốc liễu hiên sơ chưa giáo niêu huấn bộ mi phương ứng chi khu tục ôi khoan hy.
Chư nhi âm rõ lôn nương ẩn xương mông ma bông dấp …
2/ Nghĩa “
… (hoa vàng ở trên cao, làm sao lấy được, anh cũng lấy hương vàng thắp đủ ngày khấn hương đăng, khấn trời ở trên cao, trời ở trên cao trông xuống cũng giúp hay không biết có anh cùng em, cùng mến lòng nhau không?
Mến lòng làm bạn với nàng mà không theo đến, anh thì lòng muốn bẻ lấy cội cây hoa, muốn lấy cây hoa, mà người khác tranh lấy tức lắm hỡi?
Bao giờ ơn nàng còn có lòng thương.

Qua một số thư tịch bước đầu tìm ra trên đây, ta có thể giả thiết một cách có cơ sở rằng người Việt cổ cũng như nhiều cư dân cổ đại trên thế giới, đã tìm ra chữ viết cho dân tộc mình.
Chúng ta cần làm cho giả thiết khoa học ấy thành hiện thực. Chúng ta sẽ chứng minh bằng tư liệu cụ thể, làm cho sự khẳng định ấy có cơ sở vững chắc về quá trình hình thành và phát triển chữ viết của người Việt cổ đại.

(1): Theo tài liệu lưu trữ ở Viện Văn Hóa.
(2): Theo tài liệu cung cấp của G.S Nguyễn Tài Cẩn.
Tác phẩm này xuất bản Praha năm 1946, sau đó được dịch ra tiếng Nga và xuất bản ở Mascova năm 1950.
(3) : Theo Kim Dính, Nguồn góc Văn hóa Việt Nam, Sài Gòn 1973.
(4)Theo tài liệu Việt sử học.
(5) Như trên)
(6) Ecriture annamite (Extrait de l’Annam politique et sociale cours d’histore annamite) Societe Etudes Indochinoises.
(7) Triều Tiên là một nước chịu ảnh hưởng chữ viết Trung Quốc rất sớm. Năm 1448, vua Triều Tiên là Sephong đã để lại cho văn hóa Triều Tiên một sáng tạo chữ viết của ông: “Mẫu tự phiên âm Hàn Quốc” (hounmin jongeun) gốm 28 chữ cái. ĐÓ là một cống hiến cực kỳ quan trọng vào việc nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân Hàn Quốc, tực Triều Tiên sau này. Suy nghĩ của Lê Thánh Tông bao hàm một tư tưởng lớn về chữ viết, muốn thoát ly ảnh hưởng văn hóa Hán, tạo cho dân tộc mình một chữ viết riêng chăng? Giấc mộng trong mộng kỳ nhằm nói lên ý nghĩa đó.
(8) Bộ văn hóa, Giáo dục và Thanh niên xuất bản, Sài gòn 1974 (Tủ sách cổ văn).

Bài viết cùng chuyên mục

Theo các nhà nghiên cứu, chữ Nôm hình thành và phát triển từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở chữ Hán của người Trung  Quốc. Trong suốt quãng ...

Tôi khám phá ra câu nói cuối cùng của Chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá là tiếng Việt! Chuyện khó tin nhưng không phải là không có thật. Trong Sách Tân ...

Sau loạt bài 4 kỳ viết về đi tìm mộ Vua Quang Trung, rất nhiều độc giả đã bày tỏ sự ủng hộ GĐ&XH cuối tuần cũng như tác giả. Cùng với các học giả, ...

Theo cách tính toán của thầy địa lý Dương Văn Sinh, nếu có huyệt mộ chắc chắn chỉ có thể nằm trong khu vực nhà của chị em ông Nguyễn Hữu Oánh, ngay ...

Cùng với nghiên cứu lăng mộ Vua Quang Trung của ông Trần Viết Điền, tại khu vực gò đồi Bình An, gần Chùa Thiền Lâm, Nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân ...

Một sắc chỉ của triều đình Nguyễn liên quan đến việc canh giữ quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, gìn giữ ...

Nếu trước đây, các nhà sử học cho rằng Lăng Ba Vành là của Đức ý hầu Lê Quang Đại thì càng khám phá lăng, ông Trần Viết Điền càng bàng hoàng nhận ...

Cái chết của vua Quang Trung vốn đã chứa đựng quá nhiều điều bí mật, không những thế, tháng 11 năm 1801, vua Gia Long lại cho phá huỷ nơi chôn cất ông và san ...

Phia Mùn (Nà Hang, Tuyên Quang) là hang động mới nhất được các nhà khảo cổ học khai quật. Những di vật và tư thế đặc biệt hiếm thấy của mộ táng đang ...

Giải mã Mặt trống đồng Ngọc Lũ.Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau, bài này viết về ...