Lược sử Nghề Thêu Thăng Long

Ngày đăng: Thứ tư 03/12/2008 12:00:00 (GMT +7)

Cho đến bây giờ, tất cả các nhà nghiên văn hóa dân gian Hà Nội và gần như mọi làng nghề có nghề thêu truyền thống ở nước ta đều thống nhất tôn vinh tiến sỹ Lê Công Hành, một vị quan triều Lê là ông tổ của nghề thêu Việt Nam.

Tiến sỹ Lê Công Hành tên thật là Bùi Công Hành (1606 – 1661), người xã Quất Động, huyện Thượng Phúc (nay là thôn Quất Động, xã Quất Động, Thường Tín, Hà Nội). Sau này ông trở thành con nuôi nhà Trần nên đổi tên thành Trần Quốc Khái. Vào đời vua Lê Thần Tông (1637), Trần Quốc Khái đã thi đậu Hoàng Giáp, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Công tước Thọ phúc hầu. Sau này có công đi sứ sang nhà Minh nên ông đã được phong họ vua, đổi thành họ Lê, gọi là Lê Công Hành. Tương truyền khi đi sứ sang Tầu, vì bày tỏ được khí khái của người nước Nam nên ông đã bị vua Tầu nhốt trên lầu cao. Tại đây, ông đã tháo từng tấm lụa thêu rồi quan sát và học được kỹ thuật thêu rồng, phượng, hoa văn và làm lọng của người Trung Quốc. Khi về quê, ông đã mang những kỹ thuật thêu học được truyền lại cho người dân Quất Động quê mình.

Nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội Giang Quân, người đã hơn 40 năm nghiên cứu về Hà Nội, người đã có những nghiên cứu rất công phu về nghề thêu ở đất Thăng Long cho rằng: Cho đến bây giờ, nói đến ông tổ nghề thêu thì ai cũng nhắc đến tiến sỹ Lê Công Hành. Tuy nhiên, việc khẳng định Lê Công Hành là người đầu tiên du nhập nghề thêu vào Việt Nam thì chưa có cứ liệu nào chắc chắn. Bởi vào thời Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa chống lại nhà Hán những năm 40 sau công nguyên, nghề thêu đã được nhắc đến qua lá cờ thêu 6 chữ vàng “trả thù nhà, đền nợ nước”. Đến thời nhà Lý ở thế kỷ 11, sử sách cũng nhắc đến Vương phi Ỷ Lan đã dạy nghề thêu thùa cho các cung nữ rồi. Nhưng có lẽ thời kỳ đó chỉ có rất ít người trong hoàng cung biết nghề và kỹ thuật cũng không tinh xảo lắm, chỉ lưu truyền trong cung cấm nên mới không phát triển. Đến thế kỷ 17, khi Lê Công Hành về quê, truyền nghề thêu và nghề làm lọng cho người dân Quất Động, rồi cả người dân ngũ xã lân cận, thì nghề thêu mới dần được phổ biến.

Vào thế kỷ 17, đô thị Thăng Long kẻ chợ trở nên sầm uất vô cùng, người dân từ các làng nghề truyền thống khắp nơi kéo về làm ăn buôn bán. Lịch sử cũng đã từng ghi nhận, từ đời nhà Lý chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nơi này ngay lập tức đã trở thành một trung tâm lôi kéo được người dân thập phương về làm ăn buôn bán. Trong sách Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: "Thời nhà Lý mới đóng đô ở Thăng Long, người bốn phương đã kéo đến hội tụ, buôn bán...". Đến thời nhà Lê, nhất là sau cải cách của vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), nền kinh tế của đất nước có bước phát triển lớn và bền vững. Vì thế, Thăng Long, với 61 phường (đã có từ thời nhà Trần) lại càng phát triển. Sau này, số phố phường Hà nội giảm xuống còn 36. Mỗi con phố khi ấy lại gắn với một nghề truyền thống, rồi trở thành phố nghề. Những con phố được gọi theo tên của những sản phẩm hàng hóa mà người dân làng nghề làm ra hoặc đem ra tiêu thụ. Chẳng hạn phố hàng Đào chuyên bán tơ lụa, phố hàng Bạc chuyên bán đồ trang sức, phố hàng Trống thì chuyên bán các loại trống, phố Hàng Thêu chuyên bán các sản phẩm thêu thùa… Theo nhà nghiên cứu Giang Quân, chính quá trình hình thành các làng nghề, rồi phố nghề mà Thăng Long, vốn chỉ là một thành trì quân sự đã dần vươn mình trở thành thị - tiền đề cho một đô thị phát triển sầm uất về kinh tế sau này.


Nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội Giang Quân: Nghề thêu ở ta đã có từ lâu,
nhưng
phải đến cuối thế kỷ 17 thì Thăng Long mới có một con phố mang
tên phố Hàng Thêu. 


Trong dòng người thập phương đổ về kinh kỳ Thăng Long làm ăn buôn bán, tạo ra những làng nghề, rồi phố nghề, có rất nhiều thợ thêu làng nghề Quất Động. Ban đầu, những người làng Quất Động tập trung ở thôn Tự Tháp (cuối phố Hàng Trống bây giờ) làm và bán những sản phẩm thêu. Sau nhiều năm chuyên bán các sản phẩm thêu, nhiều người đã quen gọi đoạn phố người Quất Động đến sinh sống và làm ăn ấy là phố Hàng Thêu. Phố Hàng Thêu khi ấy dài chỉ khoảng 40 mét, nhưng mức sầm uất thì chẳng kém cạnh những con phố phát triển bậc nhất khác của Thăng Long. Hàng hóa thêu bày bán khi ấy không chỉ phục vụ cho các bậc quan lại, chức sắc, mà nó có rất nhiều mẫu mã phục vụ các nghi lễ truyền thống, đồ thờ cúng hoặc các y môn cho các đình, chùa. Các mặt hàng thêu khi ấy cũng không chỉ xuất hiện tại phố Hàng Thêu, mà nhiều con phố khác cạnh đó như phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ… cũng bày bán sản phẩm do người thợ thêu làm ra.

Từ những người thợ thêu đầu tiên của làng nghề Quất Động, nhiều người Hà Nội hoặc người từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống cũng đã học nghề thêu. Với những gia đình giầu có, họ học nghề thêu để làm ra những vật dụng của bản thân và để tặng ai đó, còn những gia đình khó khăn thì học nghề thêu như là một nghề kiếm sống, sinh nhai. Vì vậy, số người biết làm nghề thêu cứ âm thầm lan truyền và tăng lên theo cấp số nhân ở đất Thăng Long.


Bức ảnh cổ này đã ghi lại hình ảnh sản phẩm nghề thêu và cảnh lao động của các nghệ nhân thêu xưa.
Ảnh Internet.

Sau một thời gian đứng vững với nghề thêu ở đất kinh kỳ, những người thợ thêu làng nghề Quất Động đã lập đền thờ vị tổ nghề thêu làng mình để ghi nhớ công ơn với người đã đem nghề thêu về cho dân làng. Đến nay, đền Tú Đình Thị ở số 2A Yên Thái là nơi thờ ông tổ nghề thêu thôn Quất Động Lê Công Hành, đồng thời, đó cũng là ông tổ nghề thêu đất Thăng Long kẻ chợ. Ngày 12 tháng 6 âm lịch (tức ngày mất của tiến sỹ Lê Công Hành) hàng năm được lấy làm ngày giỗ tổ nghề thêu đất Thăng Long và cũng là ngày giỗ tổ của nghề thêu ở Việt Nam.

Hiện tại, Tập đoàn Hiệp Hưng đang gấp rút chuẩn bị cho Triễn lãm các mẫu thêu cổ của Thăng Long xưa. Hơn mấy chục mẫu thêu đã được sư tầm hoặc phục hồi lại. Qua Triển lãm này (dự kiến  vào đầu năm 2009), chúng ta sẽ có thể hiểu được rõ ràng hơn về lịch sử của Nghề Thêu Thăng Long

Bài viết cùng chuyên mục

Người Việt Nam may mắn có chung một đạo, Đạo thờ cúng ông bà. Người Việt Nam còn may mắn hơn nữa khi có chung một Tổ để hướng về, có chung một miền ...

Kinh tế thời Hùng Vương: Đây không phải là một bản báo cáo trình bày toàn diện về kinh tế thời Hùng Vương. Những điều trình bày ở đây chỉ là phần mở ...

Khảo cổ học đồng bằng và vấn đề thời kỳ Hùng Vương. Vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam tụy diện tích không lớn lắm so với diện tích cả nước ...

Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố “lạc” Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc Ít lâu nay, một câu hỏi ám ảnh chúng tôi: nguồn gốc ngữ nghĩa của từ ...

Tô Lịch - Nùng Sơn theo phong thủy xưa là hai biểu tượng của nước non Thăng Long - Hà Nội. Ảnh bên: Cột Cờ khi thực dân Pháp bắt đầu xây khu phố Tây.

Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Theo mục đích, có ...

Đất nước và con người thời Hùng Vương: Dựa trên thành tự của khoa học lịch sử (khảo cổ học, cổ sử, nhân học, dân tộc học, ngôn ngữ học lịch ...

Ngày càng có nhiều người ao ước một lần được đến dầm lòng ở Lệ Chi Viên để… khóc. Đó là một sự thật không cần giải thích, là những xúc cảm ...

Bài 2: Giải ảo nghi án “quan Thái sư hóa hổ, giết vua”! Người ta bảo, các nhà khảo cổ, các nhà địa chất và mấy bác làm sử là những người tiêu thời ...

Sông Đuống kỳ tích và kỳ ảo cả đôi bờ, cả trong trận mạc xưa lẫn trong ngun ngút thơ văn. Nếu thi sỹ Hoàng Cầm tiếp tục “anh đưa em về Sông ...