Lễ cầu mưa của người Lô Lô - nguyên vẹn nét hoang sơ

Ngày đăng: Thứ sáu 31/10/2008 12:00:00 (GMT +7)


Lễ cầu mưa thông thường được tổ chức vào tháng ba âm lịch, vào các ngày 15, 17 hoặc 19. Việc cầu mưa không thể làm tuỳ tiện, không phải năm nào cũng làm lễ, mà chỉ vào những năm thời tiết khắc nghiệt, khô hạn, người dân trong vùng mới tập trung lại, mời người làm lễ (là trưởng xóm hoặc người cao tuổi có uy tín trong khu vực). Trước đây, những nhà giàu trong bản sẽ đứng ra chịu toàn bộ chi phí cho buổi lễ. Nhưng ngày nay, muốn có mưa xuống để cây cối được tốt tươi, có nước gieo trồng, mỗi nhà đều lo gom góp một lễ vật mang đến nhà thầy cúng hoặc nhà trưởng bản, người thì con gà con chó, người thì cân gạo, chai rượu ...

Để cho lễ cầu mưa thành công, không thể thiếu một thủ tục đầu tiên, đó là làm lễ xin các thầy cúng tiền bối. Ông Lò Sì Páo, cũng là trưởng xóm Sàng Pả A, thị trấn Mèo Vạc cho biết, nếu các thầy cúng tiền bối không đồng ý, có làm lễ cầu khấn thế nào cũng không có mưa. Thủ tục xin khá đơn giản, bao gồm một chén nước, hương và giấy trúc (một loại giấy chuyên dùng vào việc cúng tế của người Lô Lô, nhìn gần giống như giấy bản). Trước hết thầy cúng thắp hương tại bàn thờ gia tiên, sau đó đặt giấy trúc, chén nước xuống một góc nhà và khấn xin. Sau đó ông bọc tờ giấy trúc lên chén nước, nếu nước trong chén không bị thấm hoặc đổ ra ngoài thì việc xin phép mới linh nghiệm và lễ cầu mưa mới thành công. Cuối cùng, thầy cúng đốt tờ giấy trúc, hoàn tất thủ tục.

Người Lô Lô tin rằng, sau khi làm lễ, chỉ trong vòng từ 3 đến 9 ngày là có mưa. Thầy cúng Lò Sì Páo nhớ lại, cách đây chừng 20 năm, trời hạn hán nặng. Khắp cả vùng không cây ngô nào sống nổi vì khô hạn. Thời kỳ đó ông cũng là trưởng xóm, đã vận động người dân trong thị trấn, gồm cả người Mông, tập trung lễ vật làm lễ cầu mưa. Ban đầu, người Mông không tin lắm, nhưng cũng đồng ý làm theo. Ai ngờ, khi buổi lễ vừa xong, mọi người chưa về đến nhà, mới chỉ xuống đến nương ngô, trời đã mưa rào rào. Ông Páo kể, năm đó mưa to nhất (trong số các trận mưa sau lễ cầu), và còn lác đác có mưa đá. Đồng bào Mông, Dao đỏ... quanh đó thấy thế bèn gom góp lễ vật xuống núi tạ ơn “trời đất của người Lô Lô”, cùng ca hát nhảy múa thành một ngày hội mừng mưa, vui lắm.

Ông Lò Sì Páo năm nay gần 60 tuổi, là người Lô Lô duy nhất ở Sàng Pả A còn biết đầy đủ những nghi thức thực hiện lễ cầu mưa

Nơi thực hiện lễ cầu mưa thường là một bãi đất rộng, cao, ngay cạnh nương rẫy. Đồ tế lễ  phải có rượu ngô, chó, gà, một thanh kiếm (có thể bằng sắt hoặc gỗ), một bát nước, bốn chén rượu, bốn ống hương bằng tre tượng trưng cho bốn phương trời.

Các thiếu nữ chuẩn bị trang điểm, mặc trang phục truyền thống của người Lô Lô, các nhạc cụ cần thiết để vào lễ. Các trai bản thì lo làm lễ vật dâng cúng. Nhạc cụ không thể thiếu trong buổi lễ là trống đồng và nhị. Chiếc trống đồng chuyên dùng trong lễ cầu mưa của bà con ở Sàng Pả A hiện nay đã được đưa vào Bảo tàng, nên chỉ còn cây nhị. Nhị của người Lô Lô cũng khá độc đáo, to gấp 3-4 lần so với cây nhị thường thấy của người Kinh. Khi kết thúc lễ cầu mưa, một cô gái xinh đẹp sẽ vừa nhảy múa vừa kéo nhị.

Lễ cầu mưa được chia làm hai phần, có thể gọi là phần lễ và phần hội. Phần lễ là những nghi lễ tiến hành cùng với sự tham gia của dân xóm, Những nghi thức cúng này được tiến hành hai lần. Những lễ vật sống dâng cúng như chó, gà sẽ được dắt đến nơi hành lễ, buộc quanh bàn lễ và người tế lễ khấn cầu xin phép dâng lễ. Sau đó chúng sẽ được các trai tráng trong xóm mang đi làm thịt, xong lại dâng lên cúng lần nữa.

Bài khấn bằng tiếng Lô Lô, cầu cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, làng bản no ấm. Bài khấn dài và thanh âm trầm bổng như một bài văn tế, người khấn như hát văn, nghe du dương trong tiếng trống, tiếng nhị. Sau khi khấn xong, người làm lễ sẽ đốt giấy bản ở bốn góc bàn, vẩy rượu ra bốn phương tạ ơn trời đất.

Nhị của người Lô Lô dùng trong lễ cầu mưa

Cúng xong, dân bản quây quần uống rượu, ăn thịt, múa hát xung quanh bàn lễ. Các cô gái Lô Lô xinh đẹp nhảy múa trong bộ váy áo truyền thống, thêu hoa văn rực rỡ.

Ông Thào Hồng Sơn, Bí thư Huyện uỷ Mèo Vạc nhận xét: “Lễ hội cầu mưa tháng ba hằng năm là một hoạt động văn hoá độc đáo, mang bản sắc riêng, vốn rất hoang sơ của người Lô Lô ở Mèo Vạc. Lễ hội còn là dịp bà con cầu may, bày tỏ lòng thành kính với đất trời”. Ông Sơn cho biết, trong năm 2007, dự kiến huyện Mèo Vạc sẽ xây dựng một làng văn hoá du lịch cộng đồng nhằm bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Lô Lô trong vùng, trong đó sẽ trình diễn nghi lễ cầu mưa của bà con. Dự kiến, sẽ khôi phục và giới thiệu cả lễ cầu mưa của người Lô Lô ở xã Sín Cái, với những nét độc đáo và khác biệt với lễ cầu mưa của người Lô Lô ở thị trấn Mèo Vạc.

Lễ hội cầu mưa còn thể hiện những nét tinh túy trong đời sống văn hóa của người Lô Lô, qua những bộ trang phục sặc sỡ mà tinh tế, qua những nhạc cụ độc đáo và những làn điệu dân ca, những điệu múa đặc sắc. Lễ cầu mưa cũng là dịp để người dân tụ hội, bàn chuyện làm ăn, trai gái thì múa hát giao duyên. Đến Mèo Vạc, được tham dự vào lễ cầu mưa, cũng là dịp khám phá bản sắc văn hóa độc đáo của người Lô Lô tại đây.

Bài viết cùng chuyên mục

Nón lá quê hương ( 30/10/2008)

Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với ...

I. Khái niệm:Phàm khi muốn tìm hiểu về tiếng nói, phong tục và tập quán, nguồn tài liệu chính của tôi là lịch sử bởi lẽ một bên là cái bóng và bên kia ...

Ném còn là nét đẹp văn hoá thể hiện bản sắc dân tộc của cư dân miền núi phía Bắc. Mùa xuân về, cứ đến ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm là ...

Hội vật Liễu Đôi ( 28/10/2008)

Hội vật Liễu Đôi được tổ chức ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Ở các lễ hội khác, vật võ chỉ là trò vui thể thao thì trong lễ ...

Người Chăm theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng, để đến được với nhau, đôi trai gái phải qua quá trình tìm hiểu hoặc có người làm mối. Khi hai bên ...

Yên Lạc, một làng nhỏ ven sông Tích Giang,  con sông ngoằn ngoèo  chạy dọc xứ Đoài. Cả thôn có 6, 7  xóm với những dòng họ Đỗ, Kiều Cả, Kiều Hai, ...

Theo các bậc cao niên thuộc vùng trung du tỉnh Nghệ An, hội vật cù ở đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15.

Khua luống bắt nguồn từ lao động. Trong quá trình giã gạo, để đỡ nhàm chán, mệt nhọc, thi thoảng người ta khua thêm một vài nhịp vào thành luống (cối ...

Lễ hội Phủ Giầy là lễ hội tôn vinh Thái Mẫu Liễu Hạnh - một bậc "Thiên hạ mẫu nghi", vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị Thánh trong ...

Ở nước ta, dân tộc Pà Thẻn có khoảng 6 nghìn người, sống chủ yếu ở 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Văn hóa vật chất, tinh thần của người Pà Thẻn ...