Làng trong phố Hà Nội

Ngày đăng: Thứ ba 28/04/2009 12:00:00 (GMT +7)

Một cái làng được co cụm từ yếu tố địa lý thuận lợi cho cuộc sống nông dân lúc đó. Đất lành chim đậu. Những cư dân đầu tiên tìm thấy một nơi “nhất cận giang nhì cận sơn”, khai hoang, lập nghiệp trồng tre thành luỹ để chống trộm cướp và giặc giã, từ đó mà thành làng. Nếu vị trí làng nào đó có ý nghĩa về quân sự hay thương mại thì làng sẽ thành thị trấn, thị xã và nơi “đất lành chim đậu” ấy có tầm vóc chiến lược đối với quốc gia thì nó trở thành thủ đô. Lý Thái Tổ là vị vua anh minh đã quyết định dời kinh đô một Triều Lý bắt đầu thịnh trị ra đất Thăng Long xưa nhưng thực ra những dân làng đã tụ họp trong thành Đại La mới là những người đầu tiên lựa chọn cho nơi cư trú của mình cái thế “voi ngồi hổ phục”. Mỗi phố, mỗi phường Hà Nội cổ thường do dân một làng nghề từ khắp nơi chuyển đến. Người này kéo tay người kia, nông dân tứ chiếng trở thành người Hà Nội. Suy cho cùng, người Hà Nội chính là nông dân, thợ thủ công, trước lập làng, sau thành phố.

Cổng Xóm Nội, Thịnh Liệt

Cổng Xóm Nội, Thịnh Liệt, Hà Nội

 

Hà Nội ngày nay đang ào ạt đô thị hoá, cũng lặp lại quá trình “làng hoá phố” ngàn xưa. Từng ngày một, thủ đô giang rộng vòng tay và ôm trọn những ngôi làng ven đô. Những cái tên quen thuộc như làng Vòng, làng Mọc, làng Lủ hay Xuân Đỉnh, Xuân La, Tứ Liên, Triều Khúc v.v. mới đây còn là những ngôi làng Việt thuần tuý nay đã thành quận huyện chỉ trong một vài năm, chóng vánh đến chóng mặt.

Tốc độ đô thị hoá được đẩy nhanh chủ yếu là do nông dân. Người nông dân ven đô trồng lúa chỉ đủ ăn và làm thêm một số nghề vặt phục vụ thành phố gần kề để kiếm tiền tiêu xài. Nay giá đất lên cao, họ bán một nửa hay một phần mảnh vườn cha ông để lại, dành được một số vốn tiền tỷ kiếm sống bằng nghề khác, lại còn tiền tỷ để xây lên những ngôi nhà khang trang nhiều tầng, có cả mặt tiền để buôn bán. Ngõ nhỏ lầy lội thành đường phố bất đắc dĩ, điện cao áp sáng bừng nhưng có thể không có rãnh tiêu nước.

Khác hẳn với quá trình đô thị hoá nhiều nước kể cả châu Á, những ngôi làng ven đô nay thành phường quận của Hà Nội vẫn giữ gần như nguyên kỷ niệm của làng - tức là văn hoá làng - tuy không tránh khỏi những nứt gãy về nếp sống và nhất là kiến trúc, quản lý đô thị. Nông dân buồn hay vui?

Hãy quan sát làng Triều Khúc, trước thuộc Hà Đông, nay được đưa vào địa giới Hà Nội. Làng có luỹ tre, dưới chân luỹ tre là hàng dãy ao chuôm (có tác dụng tiêu nước và bảo vệ chống giặc giã, trộm cướp). Có đình làng bề thế, có chùa và đền thờ mẫu. Người trong làng ngoại ô này làm đủ thứ nghề. Trước hết là nghề nông: cấy lúa, trồng rau, thả cá. Và cùng với nghề nông, hầu như nhà nào cũng làm nghề chè chai đồng nát (ve chai). Người Triều Khúc mỗi sáng toả ra khắp nơi trong thị xã Hà Đông và thành phố Hà Nội. Họ thu gom mọi thứ vất đi trong thùng rác công cộng hay gia đình mang về rồi phân loại, làm vệ sinh, chế tác thành nguyên liệu tái sinh. Bao bì các-tông, đồ nhựa, giấy vụn, bơ sữa bò, máy vi tính hỏng cùng phụ kiện, không thể kể xiết chủng loại, qua bàn tay người Triều Khúc đều biến thành nguyên liệu tái sinh, lãi thường gấp nhiều lần vốn thu gom. Tuy nghề này có đã lâu dời nhưng cuộc sống làng Triều Khúc vẫn không thể giàu có lên được. Không những thế, cuộc sống ấy còn thực sự lầm than vì nghề đồng nát tạo ra. Mùi hôi của lông vịt, của trăm thứ bà dằn khác, mùi khét cháy độc hại của ni lông và nhựa bị đốt cháy, nước thải từ những nơi cọ rửa đồ phế thải chảy vào ao tù gây nên ô nhiễm nặng nề cho không khí và nước sinh hoạt. Làng bị ô nhiễm nặng vì không đủ lối đi cho người và hàng phế thải dạng rác, không đủ lối tiêu cho nước mưa, nước thải, không có nguồn nước sạch đủ tiêu chuẩn vệ sinh... Rồi cơn sốt đất lên cao, nông dân Triều Khúc giàu lên nhanh chóng. Dân số tăng gấp rưỡi, gấp đôi trong thời gian ngắn kỷ lục. Người Triều Khúc bán đất cho khách Hà Nội dãn ra, cho người ngoại tỉnh tràn về thủ đô mua đất mua nhà cho con cái ăn học và nhiều trường hợp đầu cơ đất hay rửa tiền đen do tham nhũng. Các gia đình nông dân bị người thành phố mua đất xây nhà chen vào giữa, chẳng những làm thay đổi không gian mà còn làm đảo lộn cả nếp sống. Từ đó hình thành một thứ văn hoá “nửa phố nửa làng”. Đã ba bốn năm đô thị hoá trôi qua nhưng dân Triều Khúc vẫn như xưa, trong tiềm thức văn hoá không có gì đổi khác tuy họ giàu có lên rất nhanh. Nhìn bề ngoài thì không thể nhận ra đây là ngôi làng cổ của ngoại ô thị xã Hà Đông nữa. Nhưng bên trong, dân làng vẫn giữ nguyên hội làng, giữ nguyên những tập tục, đóng góp như trước đây. Thanh niên nam nữ mặc áo phông quần bò, quần trễ rốn áo hở ngực đi lễ chùa cho vừa lòng bố mẹ rồi lên A còng, Dylan hay Future vào Hà Nội bát phố hay tham gia đua xe. Một số khác thì sà vào quán internet ADSL hẳn hoi chat hoặc chơi gam đến tận sáng. Những quán internet này nhan nhản khắp đường cùng ngõ hẻm trong làng.

Làng Vòng gần trung tâm hơn nên bị đô thị nuốt chững hoàn toàn trong vòng một hai năm, nay thành phường Khương Đình thuộc quận Thanh Xuân. Làng có ngôi đình nổi tiếng có từ đời Lý, thờ vị thành hoàng là một danh tướng. Vào dịp 12 tháng Giêng hội làng, những thanh niên mô-đần cắt tóc đầu đinh hay đuôi vịt vẫn mặc vào tấm áo thụng, quần lụa vàng, đội mâm lễ vật lên đình trẩy hội. Rằm mồng một đình vẫn đông nghịt người là người.

Làng Lủ nổi tiếng vì có nhà thờ danh nhân Nguyễn Văn Siêu có chùa Đại Kim với sư sãi đông đúc như trước đây. Khách lễ chùa nay đông lên gấp bội vì làng đã dung nạp thêm rất nhiều người từ trung tâm thủ đô về hay ngoại tỉnh đến. Cổng làng vẫn còn nguyên, hàng năm được quét vôi, tô lại đại tự... Nhưng nhà thờ Nguyễn Văn Siêu cũng như mộ Đặng Trần Côn, Nguyễn Trọng Hợp đang bị chìm ngập trong những ngôi nhà nhiều tầng với kiểu kiến trúc lai căng. Xóm Chàm Tân Long nay đã thành phố xá nhưng cái cổng xóm và ngôi miếu vẫn còn nguyên. Đền thờ Chu Văn An

bên sông Tô Lịch cũng lọt thỏm giữa những ngôi nhà mới xây kiểu hiện đại của những người mua đất và bán đất ở cạnh nhau.

Nếu đi dần vào trung tâm Hà Nội, người ta sẽ dễ dàng dự đoán được tương lai xa của những ngôi làng mới được phố hoá hôm nay. Đình Cầu Đông thuộc phường Hàng Dào vẫn giữ được nếp cổ không thay đổi mấy, có lẽ nó chẳng khác gì đình Cầu Đông trong câu ca dao cổ "bà già đi chợ Cầu Đông, xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?" ở đây đình vẫn còn nhưng lọt thỏm giữa phố xá sầm uất, hội làng không còn và chắc chắn con cháu dân làng Cầu Đông thời Nguyễn Trãi viết Dư địa chí chẳng còn ai. Chùa Lý Quốc Sư toạ lạc gần Nhà Thờ Lớn, vẫn nép mình một cách khiêm tốn bên một đường phố nhộn nhịp giữa trung tâm thủ đô, nhưng khách đi lễ ngày một đông và tín chủ khắp nơi đến ăn mày Phật, thường nhờ nhà chùa làm lễ cầu siêu hay nhập linh xin được siêu thoát.

Tất cả những quan sát và chiêm nghiệm điền dã ấy cho ta thấy làng ở đồng bằng Bắc Bộ là một thực thể văn hoá bền vững lạ lùng. Đô thị hoá được nông dân chấp nhận một cách thuận lợi vì nhờ vậy họ giàu có lên khi đất lên giá hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Nhưng người nông dân nay đã thành dân Hà Nội vẫn coi mình là nông dân dù họ đã thành công chức, công nhân hay người buôn bán nhỏ.

Mừng vì bản sắc văn hoá không bị mai một hay lai căng nhanh chóng như người ta sợ. Nhưng trong cái phúc ấy cũng có cái hoạ gần kề. Chính từ cái gốc nông dân bền chặt ấy đi lên, trở thành người thủ đô sau một đêm thức dậy, họ cũng mang theo mình góp vào thủ đô hiện đại cái bẳn sắc nông dân của mình. Và như thế chắc sẽ không tránh khỏi chuyện làm chậm lại, thậm chí kìm hãm một nếp sống, một thứ văn hoá hiện đại mà bất kỳ thành phố lớn nào, bất kỳ thủ đô nào cũng cần có, cũng phải xây dựng công phu mới có được. Chính vì thế mà người ta vẫn thấy hàng ngày những người ngang nhiên đứng đái vào gốc cây bên đường, vứt chuột ra cho xe ô tô cán phi tang, túm tụm xem hai chiếc xe đụng nhau trên đường làm tắc nghẽn giao thông hàng buổi, những lều bạt ăn cỗ cưới hay cỗ đám ma với kèn bát âm chiếm hẳn một quãng phố, ai muốn đi thì cứ việc tìm đường mà đi, coi đường phố như sân nhà mình. Vì mỗi năm phải “kết nạp” thêm hàng ngàn nông dân vào ngôi nhà hiện đại là thủ đô trong quá trình đô thị hoá nên không biết đến bao giờ vùng đất mới của Hà Nội có được một đường phố, một ngõ đi hay một khu phố thực sự văn minh và hiện đại.

Nhưng chúng ta không bi quan. Một kiến trúc sư Pháp kiêm nhiếp ảnh gia đã làm ấm lòng ta vì khi đọc ông, ta biết được Hà Nội dưới con mắt nhìn của người nước ngoài như người Pháp chẳng hạn có những giá trị thật độc đáo:

“Hà Nội nhắc nhở chúng ta rằng sự vĩnh cửu dựa trên những cái nhất thời, rằng tâm hồn được thể hiện rõ nét nhất thông qua những phư­ơng tiện thường nhật, giản dị. Chúng ta có bao giờ để ý rằng giá trị của thành phố này một phần là nhờ vào hằng hà sa số xe đạp và xe máy? Chỉ cần nhảy lên l­ưng một trong những con ngựa sắt trung thành đó và đắm mình d­ưới những vòm lá, những mùi hương, chúng ta có thể dễ dàng đi đến mọi ngóc ngách của thành phố, làm một vòng quanh Hồ Tây, khám phá những điều mới lạ, ở d­ưới những tán cây phư­ợng vĩ và những hàng me chạy dọc theo vỉa hè, mùi khói cay cay của thịt bò khô và mực khô n­ướng phả vào mặt cùng với h­ương vị dễ chịu của quế, hồi, nghệ, gừng, đậu khấu. Đây là những h­ương vị th­ường trực trong khu phố cổ, hư­ơng vị tỏa ra từ những ấm thuốc bắc từ bao đời nay. Những hàng xe cộ dày đặc đan xen nhau trong bụi bặm, giống nh­ư những đàn cá khổng lồ đoàn kết chặt chẽ với nhau, cũng không làm chúng ta quên đ­ược trong dòng ng­ười đi bộ bóng một phụ nữ bán hàng rong, hàng ngàn năm qua vẫn đội chiếc nón trắng, từ sáng sớm tới tối mịt, vẫn với gánh hàng trên vai, nhịp nhàng theo bư­ớc chân đi. Nhà thơ Trần Tế X­ương đã từng bày tỏ lòng cảm phục và trắc ẩn của mình trước hình bóng thân thư­ơng này:

Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt n­ước buổi đò đông.

Một thế kỷ đã trôi qua nh­ưng gần nh­ư chẳng có gì thay đồi, hoặc chỉ thay đổi rất ít. Ngày ngày, hàng trăm "thân cò", trẻ có, già có vẫn những gánh hàng nặng trĩu hai vai đi khắp các phố phường Hà Nội, len lỏi giữa dòng xe cộ dày đặc, hai tay giữ chặt hai đầu quang gánh. Chỉ những giây lát nghỉ ngơi, chúng ta mới thấy họ ngồi xuống bên vỉa hè, hai tay thu lại, lặng lẽ đến nghiêm trang. Công trư­ường xây dựng, phá bỏ, ngổn ngang khắp mọi nơi, những khu nhà tạm, dân c­ư pha tạp. Đời sống hàng ngày hoàn toàn không giống ở n­ước ta (Pháp), nơi ngư­ời ta quá chú trọng đến vệ sinh trong sinh hoạt... Hà Nội luôn sôi động, sự ồn ào, náo nhiệt chỉ ngừng lại lúc đêm khuya. Vào lúc này, lang thang trên những đ­ường phố đã hoàn toàn đổi khác với sự tĩnh lặng của đêm khuya khiến chúng ta không còn nhận ra, tạo cho ta một cảm giác huyền ảo. Ta có cảm tưởng như­ đang dạo chơi trong một tổ kiến khổng lồ chìm trong giấc ngủ. Cho đến khi chúng ta dừng lại tr­ước một ngã tư... thầm thì, ngồi xuống cùng vài bóng đen khác dư­ới ngọn đèn ngon treo trên chiếc đinh, trong khi đợi ngư­ời phụ nữ nông thôn luống tuổi, nhỏ nhắn, tư­ơi cư­ời rút từ trong gánh hàng của mình ra một cái chai và lần lư­ợt rót rư­ợu thuốc vào những chiếc chén nhỏ bên cạnh những bát chè nóng hổi. Trên một mảnh bìa nhỏ dựa vào hàng chai lọ, tôi thấy hai chữ viết bằng tiếng Việt: Trông xe. Tôi nghĩ chắc hẳn đây là tên gọi của thứ rư­ợu mạnh dễ làm ta say này. Vừa nhấm nháp, tôi vừa cố nhớ hai từ mà tôi mới phát hiện ra này: Trông xe quả thật là ngon! Thật là tuyệt diệu khi được thưởng thức Trông xe dư­ới ánh trăng, ngồi xổm ở một góc phố, cùng đàm đạo với những con ng­ời thật dễ mến! Thế nào tôi cũng phải mang về Pháp một vài chai Trông xe... Nh­ưng sau đó có một ngư­ời giải thích, tôi mới biết chính xác Trông xe có nghĩa là: nhận trông xe đạp, xe máy...” (Dominique Delaunay – Hà Nội – NXB KHKT)

Phải chăng những nét đáng yêu Hà Nội ấy là từ những ‘’làng trong phố"? Phải chăng Hà Nội quyến rũ khách phương xa, đặc biệt là người Pháp, vì Hà Nội có hương vị riêng phảng phất từ những ngôi làng xa xưa, một đặc điểm rất Việt Nam và cũng rất thấm đẫm tình người?

Bài viết cùng chuyên mục

Cần có bản đồ địa lý lịch sử chính xác để tránh cho Việt Nam khỏi bị thua thiệt về cương vực. Sử Thực Lục ghi: Tháng 6 năm Bính Tuất (1886), “Toàn ...

Ngày 28 tết vừa qua (23-1-2009), tôi nhận được tập san The Portolan, cơ quan của Washington Map Society (hội bản đồ Washington), trong đó có bài giới thiệu một bản ...

Châu Sa là một thành cổ của người Chăm cổ xưa được đắp bằng đất. Thành Châu Sa thuộc thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. ...

Áo tơi được nhân dân ta làm bằng lá tro còn gọi là lá cọ (lá mà người dân quê dùng để làm tranh lợp nhà). Suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc ...

Chuông đồng là những di vật cổ có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, văn hóa... của mỗi dân tộc trong từng thời đại. Dựa vào công nghệ đúc đồng và ...

Đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc nói chung, tiếng nói và chữ viết là những yếu tố phản ánh chính xác cội nguồn của một nền văn hoá ...

Với vẻ đẹp quyến rũ của hang, cuốn Merveille de Monde (kỳ quan thế giới) chuyên về du lịch của Pháp xuất bản năm 1938, khi giới thiệu các danh thắng nổi ...

Các nhà khoa học Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Cao Bằng vừa phát hiện một cầu đá đang được dân sở tại dùng để đi lại nhưng được ...

Tôi đến đền Chử để tìm một không gian kiến trúc cổ tiêu biểu của đồng bằng Bắc bộ, và cũng là để ghi lại những hình ảnh cuối cùng của đền khi ...

Một tuyệt tác điêu khắc được tạc vào năm Quảng Hữu thứ 22 (1086), cột đá chùa Dạm với tên chữ “Lãm Sơn Tự” là công trình lưu truyền cho hậu thế ...