Kiến trúc và truyền thuyết đền Hùng

Ngày đăng: Chủ nhật 07/09/2008 12:00:00 (GMT +7)

Cổng đền được xây dựng năm 1918 (do bà Phan Thị Thịnh ở Hà Nội cúng tiến xây dựng).

Từ cổng đền lên đến đền Thượng có 525 bậc thềm (do bà Lê Thị Chại cúng tiến 1.000 đồng Đông Dương xây vào năm 1914), có ba khu vực:

- Đền Hạ và chùa. - Đền Trung. - Đền Thượng và lăng Tổ.

Từ đền Thượng xuống chân núi về phía đông nam (khoảng hơn 700 bậc thềm xây năm 1990) là đền Giếng. Theo bản ngọc phả của đền Hùng viết năm Hồng Đức nguyên niên (năm 1470) với tên người viết Hàn Lâm Viện Trực học sĩ Nguyễn Cố Phụng soạn, sau này vào năm 1600 Hoàng Triều Hoằng định nguyên niên, Canh Tý đông thập cát nhật, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính, sao lại bản ngọc phả viết năm 1470. Trong cuốn ngọc phả sao lại năm 1600, nhắc tới việc xây đền Thượng, đền Trung, chùa và Gác chuông, chưa thấy nói tới lăng, đền Hạ và đền Giếng.

1. Đền Hạ và chùa.

* Đền Hạ: Có vào khao3ng TK XVII – XVIII, được làm hai lớp theo kiểu chữ nhị. Tương truyền nơi đây, sau khi kết hôn, Lạc Long Quân đã đưa Âu Cơ từ động Lăng Xương (Thanh Thủy), về đến núi Nghĩa Lĩnh, Âu Cơ trở dạ sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành trăng con trai. Khi các con khôn lớn, Lạc Long Quân bàn với Âu Cơ chia các con đi mở mang xây dựng bờ cõi, 50 người con theo cha đi xuôi về vùng biển, 49 người con theo mẹ lên ngược vùng núi, người con cả ở lại nối ngôi cha, 18 đời đều được gọi là Hùng Vương. Cộng đồng người Việt được hình thành, ha tiếng đồng bào (cùng bọc) vì thế mà có…

* Gác chuông và Thiên Quang Thiền tự (nơi có ánh sáng mặt trời dọi xuống): Xây vào thời kỳ nhà Lê (từ 1427 – 1573), kiến trúc chủ yếu là cột gỗ đá kê và lợp ngói. Trước kia chùa xây theo kiểu chữ công, xung quanh có thành đá ong bao bọc. Nay chùa chỉ còn lại phần tiền tế. Thiên Quang Thiền tự thờ phật theo phái Đại Thừa. Trước chùa có cây thiên tuế khoảng 700 năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19-9-1954 khi thăm đền Hùng đã ngồi nghỉ dưới bóng cây này.

2. Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu).

Đền Trung xuất hiện sớm nhất trên núi Hùng. Kiến trúc buổi đầu thời nhà Trần (TK XIV). Vào TK XV (thời Lê) bị giặc phía Bắc tàn phá. Dân sở tại sau chiến tranh đã xây dựng một ngôi đền khá lớn, có thớt đá kê cột gỗ, mái ngói. Cách nay khoảng 300 năm, đền Trung được xây dựng lại kiểu chữ nhất, tồn tại đến bây giờ. Tương truyền nơi đây các vua Hùng thường họp bàn việc nước, hay mỗi khi đi săn qua khu vực này thường đốt lửa nướng thịt chia đều cho mọi người trong cuộc. Vào thời Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh đuổi giặc Ân từ phía Bắc tràn xuống, vua Hùng thứ 6 muốn chọn con kế vị. Người đã cho gọi 18 người con về núi Nghĩa Lĩnh, mở cuộc thi làm cỗ, để tìm người con nào có lòng hiếu mẹ cha, yêu trọng non nước sẽ truyền ngôi cho. Lang Liêu là người con út, thương dân, yêu lao động, hiếu thảo đã sáng tạo ra hai thứ bánh tượng trưng cho trời và đất (đó là bánh dày và bánh chưng) dâng cha. Vua Hùng thứ 6 cho đó là “bánh thì ngon, ý thì hay” nên nhường ngôi cho Lang Liêu nối nghiệp (Hùng Vương thứ 7).


Ảnh: Vân Trang

3. Đền Thượng và lăng.

* Đền Thượng: (Kính Thiên Lĩnh điện) được xây dựng vào TK XV. Trong dịp đại trùng tu từ năm 1914 – 1922, triều đình phong kiến Việt Nam xuất hiện và cử quan về giám sát việc xây dựng lại đền Thượng (năm Khải Định nhị niên – tức Khải Định năm thứ 2). Người đời sau thường truyền lại rằng:

Thời Hùng Vương, vua Hùng cùng các quan tướng thường đến Nghĩa Lĩnh để tiến hành những nghi thức cúng tế trời đất, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi để muôn dân được ấm no hạnh phúc. Vì thế mà đền Thượng bây giờ vẫn gọi là “Kính Thiên Lĩnh điện” (tức điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh).

Cạnh đền Thượng còn có một cột đá, xưa truyền khi Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi, đã dựng cột đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc và đời đời hương khói tại lăng miếu vua Hùng.

Ngày 19-9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Thượng, xem bài minh chuông ở quả chuông đền Thượng treo trên cây đại thụ trước đền. Ngày 19-8-1962 Bác về thăm đền Hùng lần thứ hai và nghỉ lại tại cửa ngách đông nam của đền Thượng.

* Lăng Tổ: (Hùng Vương lăng) được xây dựng vào thời gian nào không ai nhớ rõ. Xưa có thể là một khu đất có mái che, tới năm 1874 được xây dựng kiểu dáng như ngày nay.

4. Đền Giếng.

Kiến trúc có vào khoảng TK XVIII, đền Giếng nằm dưới chân núi Hùng gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên. Tương truyền khi theo cha đi kinh lý qua vùng này, hai nàng Tiên Dung – Ngọc Hoa con gái vua Hùng thứ 18 thường đến đây soi gương chải tóc. Hai nàng đã có công cùng chồng khẩn hoang, trị thủy, dạy dân trồng lúa, xây dựng cuộc sống.

Theo truyền thuyết nàng Tiên Dung xinh đẹp đến tuổi trăng tròn có nhiều người tài giỏi đến cầu hôn. Tiên Dung không muốn lấy chồng để được thường xuyên đi du ngoạn núi rừng. Một lần Tiên Dung bơi dọc sông Hồng về xuôi, tới vùng Dạ Trạch (Khoái Châu – Hải Hưng) nghỉ, tắm trên bãi cát, không ngờ gặp Chữ Đồng Tử, chàng trai nghèo khổ hiếu thảo – và đã nên duyên. Nàng theo chồng về vùng Dạ Trạch, cùng chồng khẩn hoang, dạy dân trồng lúa.

Còn Ngọc Hoa xinh đẹp, vua cha cho dựng lầu kén rễ, hai chàng trai giỏi Sơn Tinh – Thủy Tinh cùng đến cầu hôn, thi tài. Cuối cùng Sơn Tinh thắng cuộc lấy được nàng Ngọc Hoa, hai vợ chồng về vùng núi Tản quê hương của Sơn Tinh cùng dân làng trị thủy, trồng lúa nước xây dựng cuộc sống. Thủy Tinh thua cuộc hàng năm ôm hận, cứ đến mùa tháng 6 tháng 7 (âm lịch), lại dâng lũ đòi người yêu.

- Tại đền Giếng chiều ngày 18-9-1954 Bác Hồ đã về nghỉ ở đây, hôm say 19-9-1954 Bác đã gặp và nói chuyện với cán bộ, chiến dĩ đại đoàn quân Tiên Phong trước khi về tiếp quản thù đô. Lời Bác dặn đã trở thành chân lý”

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Bài viết cùng chuyên mục

Nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương bao gồm ca hát và nhảy múa, là thành phần quan trọng trong nền văn hóa Văn Lang mà dấu tích còn ghi lại trên những ...

Những nhận thức mới nhất về niên đại thời Hùng Vương: Tại Hội nghị Hùng Vương 3, chúng ta càng nhận thức được rõ sự cần thiết phải luôn luôn bám ...

Chứng minh thời Hùng Vương là có thật:Lòng nhân dân ta trước sau tưởng nhớ tổ tiên: đó là một điều khẳng định. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin hiểu rằng ...

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng :Vua Hùng đã già bèn nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các Lang) ...

Dịch học họ Hùng ( 11/08/2008)

Dịch học hình tượng.Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính:Hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ...

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm ...

Tổng kết 3 năm: 3 năm nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương. 3 năm xây dựng ngành khảo cổ học. Chúng ta quyết tâm mở hội nghị tổng kết sau 3 năm, vì nhận thức ...

Phát biểu khai mạc. Thưa các đồng chí,Như cái tên của nó: Hội nghị lần thứ 4 nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương nói lên, đây là hội nghị lần thứ 4 của ...

Lời mở đầu: Trong 3 năm 1968-1970 vừa qua, đề tài thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương là thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc ta, mà nhân ...

Tiểu dẫn: Các tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước lần lượt công bố đại bộ phận văn kiện của những hội nghị khoa học được tổ chức liên tiếp trong ...