Khoa học và tiên tri (phần 1)

Ngày đăng: Thứ bảy 05/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Mục đích trực tiếp của khoa học là thu hoạch Tri thức để tổng hợp và hệ thống hóa, khái quát hóa các tri thức về thực tại. Những hệ thống tri thức này được xem là những bước tiếp cận đến thực tại và được xem là Đúng hoặc là Xác thực khi được đa số những người có chuyên môn khoa học (trong một lĩnh vực khoa học nhất định) tán thành. Einstein nhận định rằng Khoa học chỉ là những Hành xử hàng ngày tinh tế hơn. Hành xử hàng ngày thường không có cơ sở hệ thống hoặc thường dựa trên những nhận định chưa qua chứng minh. Hoạt động khoa học trái lại mang tính hệ thống và chương trình. Vậy hoạt động khoa học trước hết phải có phương pháp khoa học, thể hiện ra ở tính hệ thống tính chương trình trong tiến hành nghiên cứu khoa học. Khoa học cũng mang tính kế thừa. Tính kế thừa này có được nhờ tính hệ thống và sự thống nhất nhận định của cộng đồng khoa học. Vì thế khoa học chính thống bao giờ cũng là khoa học của số đông. Nhìn vào tương lai, con người tìm cách mở rộng và chỉnh lý nhãn quan của mình trước tự nhiên ngày càng tiệm cận gần hơn đến thực tại vũ trụ nên khoa học là một quá trình mở, ngược lại những lý thuyết siêu hình giáo điều. Từ những định nghĩa, những quan niệm trên đây của cộng đồng khoa học và triết học ta có thể phát biểu những yêu cầu sau đây đặt ra cho khoa học (chính thống):
Khoa học
1. Phải có phương pháp khoa học cụ thể có tính hệ thống, tính chương trình;
2. Những nhận thức thu được trong nghiên cứu khoa học phải đảm bảo hai yêu cầu là tính khả chấp (hợp với nhận thức chủ quan những người làm khoa học khác) và tính khả nghiệm (có thể chứng nghiệm bởi người làm khoa học khác);
3. Là một quá trình mở để cộng đồng khoa học tham gia,
4. Không chấp nhận chân lý tuyệt đối, do đó xây dựng những thuyết, học thuyết ... và dùng những thuyết này làm phương tiện để tiếp cận thực tại;
5. Tiến đến những nhận thức có mức khái quát cao hơn với một độ tin cậy nhất định.
Nếu xét riêng một ngành khoa học nào đó, ta thấy có những đặc trưng sau:
Mục đích: Phục vụ loài người nói chung bao gồm giải thích hiện tượng, đề xuất giải pháp cho một vấn đề và đưa ra dự báo cho một sự kiện.Muốn vậy ngành khoa học đó phải có một vùng đối tượng được định nghĩa, phân lập cụ thể, có một hệ thống xuất phát điểm hay một hệ tiên đề và có đường lối nghiên cứu, đưa ra được những nhận thức đã hệ thống hóa và có phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngành.

Phương pháp nghiên cứu của một ngành khoa học phải thể hiện những khả năng:
- Phân tích mô tả đối tượng nhờ các kết quả quan sát, đo lường, thống kê
- Chẩn đoán, giải thích nhờ các bước hệ thống hoá nhận thức, phát hiện quy luật, phát biểu định luật
- Dự báo sự kiện trên cơ sở các hệ thống nhận thức, các quy luật, định luật đã phát hiện, các lý thuyết và mô hình đã xây dựng.

Các lý thuyết và mô hình đó phải thoả mãn các điều kiện:
- Có tính khái quát để bao trùm một lĩnh vực nhất định.
- Có tính lặp lại để xét mức tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Có tính công khai của một hệ thống mở; có khả năng được kiểm chứng lại bởi người khác.
- Lý thuyết phải được phát biểu sao cho có thể dùng chính nó để chứng minh rằng nó không đúng (falsification). - Một lý thuyết phải đủ và không tự mâu thuẫn (mâu thuẫn nội tại) và có thể chứng nghiệm bằng cách dựa vào nó để đưa ra một giả thuyết (hoặc một dự báo) về một hiện tượng chưa được quan sát. (Một lý thuyết hoàn chỉnh và thể hiện đúng trong thực nghiệm chưa chắc đã đúng, nhưng được xem là sai khi một phép chứng nghiệm cho thấy kết quả không đúng).- Lý thuyết không được mâu thuẫn với hệ thống tri thức khoa học hiện có (mâu thuẫn ngoài).- Dạng hoàn chỉnh nhất của một lý thuyết được xem là khi lý thuyết đó được đặt trên cơ sở một hệ tiên đề đầy đủ, không phụ thuộc lẫn nhau. Những tiên đề này được xem là những nguyên tắc, nguyên lý Xác Thực không cần chứng minh. Với những nguyên tắc nhất định có thể rút ra những quy luật, định lý từ hệ tiên đề này. Khi ứng dụng các quy luật này trong thực tế không mang lại thực chứng dẫn sẽ đến xét lại, bổ sung hệ tiên đề.- Ngay những khoa học được gọi là khoa học "thực nghiệm" cũng phải có tính hệ thống, tính khả chấp và tính khả nghiệm. Đó chính là cái khác biệt chủ yếu giữa „khoa học thực nghiệm“ và các "học thuật phi chính thống" khác như hiện tượng học, tâm linh học... vì trong các khoa này nhận thức mang tính chủ quan của cá nhân (nhờ cảm ứng, trực giác...) nên không thể hoặc rất khó được chứng nghiệm, kiểm tra bởi người khác, đó là chưa nói đến tính lặp lại. Vì thế có lẽ chúng ta không nên gọi những thuật này là khoa học để tránh lẫn lộn với trường phái khoa học chính thống hiện hành.Chính vì những tính năng nói trên, ta chứng kiến „khoa học“ chủ yếu dưới dạng các hoạt động khoa học của một cộng đồng khoa học với tính cách một hiện tượng văn hóa xã hội. Những cuộc bàn cãi, thảo luận của các nhà khoa học trong các thế kỷ qua dẫn đến sự phát triển thống nhất của khoa học với phân ngành chuyên môn phong phú ngày nay. Trong những cuộc hội thảo khoa học người ta truyền đạt những nhận thức, kinh nghiệm và kiểm tra đánh giá những nhận thức kinh nghiệm đó. Từ đó hình thành một nhãn quan khoa học nhất quán với một hệ thống thuật ngữ cần thiết. Cái gọi là Khoa học trên đây rõ ràng không thể tách khỏi cộng đồng khoa học và do đó Nó là khoa học của đám đông. Đó cũng là hệ quả rút ra từ hiện tượng xã hội của Khoa học chính thống.

Từ những yêu cầu đặt ra cho một lý thuyết khoa học đã nói trên, ta thấy một lý thuyết được công nhận là đúng phải có khả năng dự báo trong một chừng mực nhất định về một sự kiện, hiện tượng sẽ xẩy ra trong tương lai dựa trên cơ sở những kinh nghiệm, nhận thức trên các đối tượng cùng loại hoặc tương tự (được mô tả bởi cùng hệ phương trình vi phân chẳng hạn) và đã được khái quát hóa thành định luật, quy luật. Như vậy Dự báo tuy là một suy diễn từ lý thuyết nhưng thực ra xuất phát từ thực tế các sự kiện đã quan sát, quan trắc và phải được phát biểu trước khi sự kiện được suy diễn xẩy ra (sự kiện không được phép là một sự hiển nhiên tầm thường). Để đảm bảo một mức tin cậy nhất định cho dự báo, khoa học phải tiến hành các thí nghiệm để đánh giá tính lặp lại của một sự kiện (đã biết) được diễn giải từ lý thuyết, phải đánh giá được ảnh hưởng các yếu tố nhiễu và khả năng phân lập, hạn chế ảnh hưởng nhiễu. Vì tính lặp lại của các kết quả đo, quan sát (dưới các ảnh hưởng nhiễu không thể khống chế) có thể đánh giá theo thống kê toán nên các dự báo chỉ có một độ tin cậy hay một xác suất xẩy ra nhất định. Vì thế trong khoa học chỉ có thể nói đến dự báo mà không thể nói đến tính tiên tri. Nếu tiên tri là khả năng biết trước chắc chắn sự xuất hiện của một „hiện tượng không ngờ“ trong không thời gian nào đó thì vì lý do bản chất của khoa học - như đã trình bầy trên - không ngành khoa học nào có khả năng tiên tri.

II - Các thuật tiên tri

N hững đặc điểm của „khoa học chính thống“ trình bầy trong Phần I bài viết này thực ra không có gì mới vì chúng chỉ là kết quả tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu về lịch sử khoa học hoặc triết học khoa học tự nhiên. Trọng tâm của phần I là dựa vào những đặc điểm quen thuộc đó để nêu rõ lý do tại sao khoa học chính thống với hệ thống phương pháp của nó không muốn và không thể là một phương tiện tiên tri với thuật ngữ „tiên tri “ theo đúng ý nghĩa của nó.

Tại sao lại đưa vấn đề "Khoa học và Tiên tri“ trình làng vào lúc này, tưởng như một việc của kẻ vô công rồi nghề! Sự thực là về mặt lịch sử các thuật tiên tri vốn được ghép chung vào siêu hình và bị phê phán đả kích trong lịch sử loài người. Người ta đã bị treo cổ, bị đưa lên giàn hỏa thiêu vì liên quan đến những học thuật này. Chẳng phải là có những tôn giáo nghiêm cấm thực hành tiên tri hay sao. Chẳng phải ở nhiều nước các học thuật này phải trang bị một cái vỏ bọc khác để xuất hiện hay sao và lúc nào cũng có nguy cơ bị tấn công, phê phán. Xã hội con người có những chuyện tức cười: Nếu ở nhiều nước châu Âu ngày nay anh có thể ngang nhiên tuyên bố tin ở Thượng đế, thậm chí còn thấy Thượng đế giáng trần nữa cũng không có ai làm gì anh, nhưng nếu anh nói tin và đã thấy ma người ta sẽ cho anh vào bệnh viện tâm thần ngay. Những người Việt đã ở các nước gọi là văn minh châu Âu chắc sẽ xác nhận sự thực đó. Một cô bạn tôi kể với bác sĩ đa khoa rằng cô tin có ma, ông ta khuyên cô nên đến khám tâm thần ngay. Tôi đã phải chặn đứng cô không được nói những chuyện như vậy một cách công khai. Tâm thần tập thể thì không sao vì một phần lớn dân số cũng tin như anh, nhưng tâm thần cá biệt thì dù nhẹ cũng dính đòn hội tề. Đến khám tâm thần mà khai là tin vào bói toán, tử vi thì dễ có xe bệnh viện đến chờ trước cửa phòng khám.

Tất nhiên cách đối sử như vậy là bất công, nhất là khi khoa học chính thống đã tiếp nhận những đứa con khá đáng ngờ như thuyết lượng tử, toán xác suất, thuyết string... (sẽ trình bầy sau). Để tránh sự ngược đãi dành cho các học thuật phi chính thống kia (rất xin lỗi vì tôi chưa nghĩ ra được danh từ thích hợp để phân biệt hai dòng khoa học đó) các học giả cũng như những người hành nghề trong các lĩnh vực này thường đưa ra những thực chứng rất đáng tin cậy và đã qua kiểm chứng để chứng minh tính khoa học của ngành mình. Họ đã làm một việc vô ích, vì nếu chỉ dựa vào các tiêu chuẩn đề ra cho khoa học để xét thì sẽ không bao giờ có sự chấp nhận của khoa học CT cho phép những học thuật kia đứng vào hàng ngũ của mình dù có xếp hàng rổ rá đến bao giờ đi nữa. Nếu sự loại bỏ không xẩy ra hôm nay thì một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ xẩy ra và lúc ấy có thể sẽ khốc liệt. Điều đó thực ra không có gì đáng trách. Khoa học CT với nhãn quan tương đối khách quan và tỉnh táo cần thiết đóng vai trò đối trọng và để tận khai thác một nửa bán cầu não, khi các học thuật kia mang nhiều đặc điểm chủ quan khai thác phần não còn lại và cho con người sáng tạo khi bay bổng trong cả tiềm thức. Điều đáng tiếc là loài người đã để nửa não này bóp cổ nửa não kia quá lâu. Cái xương sườn của siêu hình khi được thổi hơi thành bà khoa học chính thống to béo đã cưỡi lên đè gần chết bẹp nguồn gốc của nó.

Trình bày rõ những đặc điểm của các khoa học chính thống ta thấy rằng đã đến lúc những người nghiên cứu các học thuật KCT gạt bỏ ảo tưởng ghép mình vào KHCT mà phải đứng ra xác minh bản chất học thuật của ngành mình để khẳng định dòng khoa học thứ hai. Đây là một thách thức thú vị cần sự đóng góp của mọi người quan tâm, dù thuộc vào dòng chẩy nào. Có lẽ thời điểm đã đến. Những phần dưới sẽ cố gắng chứng minh vai trò cần thiết của các học thuật KCT trong văn hóa nhân loại.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Khoa học và Tiên tri
  2. Khoa học và tiên tri phần 2
  3. Khoa học và tiên tri phần 2 (tiếp theo)

Bài viết cùng chuyên mục

"Mão/Mẹo/mèo"Các bài viết trước (phần 1, 2, 3) cho tóm tắt các liên hệ của tên 12 con giáp đến tên gọi các con vật trong tiếng Việt - sự tương đồng này ...

1. Giới thiệu tổng quát: Từ các bài viết trước ta đã thấy một số liên hệ sơ lược của tên 12 con giáp như Tý/Tử/chuột, Ngọ/ngựa, Mão/Mẹo/mèo, ...

1. Tổng quát: Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, ...

Vấn đề cội nguồn văn hóa Việt Nam rất quan trọng. Nhiều vị đã mất cả đời người truy tìm, trong đó có LM Kim Định ... Tiếc rằng văn bản lịch sử rất ...

Giá trị của bãi đá cổ Sapa nằm ở chính nội dung những hình vẽ của nó. Nếu không có nội dung này thì giá trị của nó sẽ chỉ là ....đá như mọi hòn đá ...

Sửa soạn hội hè: Người ta phải sửa soạn từ trước ngày Đông chí, bằng cách giã gạo để ủ lên men làm rượu, hoặc để làm bánh, nấu xôi. Hình hai ...

Tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Lời nói đầu: Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền ...