Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9

Ngày đăng: Thứ bảy 25/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

Di chỉ Đông Sơn tuy đã được khai quật nhiều lần, nhưng vẫn chưa cho phép chúng ta hiểu hết những điều mà khoa học đặt ra. Tài liệu khai quật năm 1970 ở di chỉ Đông Sơn, nhất là tài liệu về đồ gốm và mộ táng, đã bổ sung được một phần khá quan trọng vào chỗ còn thiếu đó. Từ đó chúng ta có thể hiểu thêm về nội dung, tính chất, niên đại của văn hóa Đông Sơn.

Các giai đoạn phát triển văn hóa ở địa điểm Đông Sơn

Địa điểm Đông Sơn tuy đã được khai quật nhiều lần, mỗi lần đều bổ sung thêm được một số tài liệu mới, và lần này đặc biệt là tài liệu về đồ gốm đã giúp chúng ta hiểu được quá trình phát triển ở địa điểm Đông Sơn hơn, có thể nói được rằng qua đó ta thấy chúng hình thành các giai đoạn phát triển khá rõ rệt, trên lõi cốt chung mỗi giai đọan đều có đặc điểm riêng.

Trước khi trình bày về đặc điểm các giai đọan, đồng thời để làm cơ sở cho việc thảo luận các vấn đề tiếp, chúng tôi xin nêu lên một số nét cơ bản về cấu tạo các lớp đất ở đây trong đợt khai quật lần này.

Tính từ trên mặt đất hiện tại trở xuống có thể chia thành 4 lớp:

Lớp 1, lớp đất hiện tại, đất pha cát, trên có các kiến trúc hiện đại, lớp này có ở 3 khu vực.

Lớp 2, lớp đất đen, trong có chứa gốm thô, gốm mềm, gốm cứng in văn hình học, gốm tráng men, đồ bán sứ,… (1). Lớp này là lớp đã tiếp xúc với văn hóa Hán về sau. Lớp 2 chỉ thấy ở 2 khu vực, khu vực bờ sông và khu vực trong làng. Còn khu vực ở sát chân núi không rõ rệt, chắc đã bị bạt đi để xây nhà (?).

(1) Phân chia các loại gốm ở đây, căn cứ vào chất liệu và độ nung:
- Gốm thô: gốm pha cát thô, tương đối cứng, màu đỏ, xương gốm xám đen.
- Gốm mềm: gốm pha cát rất mịn, độ nung thấp, mềm, bở, màu gạch non, trên có in văn hình học.
- Gốm cứng: thực tế là đồ sành, độ nung cao, khá rắn, màu xám, trên có in văn hình học.
- Đồ bán sứ: tiền thân của đồ sứ, xương xám trắng, độ nung cao, ngoài có tráng một lớp men mỏng màu lá cây nhạt, bở dễ bị tróc, loại men này còn tráng cả đồ gốm mềm và gốm cứng.
- Gốm tráng men; xương gốm là loại gốm mềm, hoặc cứng trên có tráng một lớp men xanh lá cây.

Lớp 3, đất xám đen, ngả sang mày nâu, pha sỏi, trong lớp này chứa gốm thô, đồ đồng, mộ táng… lớp này có ở cả 3 khu vực.

Lớp 4, ở các khu vực không giống nhau, khu vực bờ sông lớp 4 là đất sét vàng; dưới nữa là đất sét xám trắng trong có chứa cành cây gỗ đã hóa than, không chứa hiện vật khảo cổ. Khu vực trong làng (H4) lớp thứ 4 là lớp đất màu nâu, pha cát sỏi, trong có lẫn những đám đất sét mịn, màu hơi vàng xám, lớp này chứa nhiều mảnh gốm, có trang trí trong miệng. Khu vực chân núi (H1, H2, H3, H3F) lớp 4 là lớp đất sét vàng, pha cát, lớp này chỉ có mộ táng.

Nhìn chung ở các khu vực lớp 1, 2, 3 tương đối nhất trí với nhau. Chỉ có lớp 4 không giống nhau, điều này có thể giúp chúng ta tìm hiểu tình hình cư trú của tập đoàn người ở đây.

a) Đối với các lớp cư trú:

Căn cứ vào nội dung và sự diễn biến của đồ gốm ở các lớp đất chúng ta có thể chia thành 3 giai đoạn khác nhau:

Giai đoạn 1: bao gồm đồ gốm ở lớp 4;
Giai đoạn 2: bao gồm đồ gốm ở lớp 3;
Giai đoạn 3: bao gồm đồ gốm ở lớp 2.

Giai đoạn 1 - Ở giai đoạn này, về đồ gốm chỉ có một loại gốm là gốm thô, có hiện vật còn có áo gốm, mặt trong và ngoài được đánh bóng, trong miệng thường có trang trí văn vạch chạy xiên chung quanh miệng, trên vai các loại hình cũng thường có văn vạch cắt chéo nhau. Về loại hình, có nồi cỡ lớn, nồi cỡ nhỏ, bình, bát,… Nồi cỡ lớn và nồi cỡ nhỏ chỉ khác nhau về kích thước, song giống nhau về kiểu dáng, phần lớn trong miệng đều có trang trí văn vạch, (nồi cỡ nhỏ trong miệng không trang trí hoa văn), chúng đều là loại miệng loe, cổ cao, trong miệng lõm xuống thành hình ống máng khá sâu, mặt ngoài miệng nổi thành sống đất khá cao. Bình, chỉ phát hiện được loại bình miệng nhỏ, mặt cắt miệng là hình S, trong miệng có trang trí văn vạch.

Giai đoạn 2 - Ở giai đoạn này, về đồ gốm chỉ có một loại gốm là gốm thô, bên trong thường có áo gốm, bên ngoài ít thấy, hoa văn xuất hiện văn ô vuông không chỉnh. Loại hình gốm có nồi cỡ lớn, nồi cỡ nhỏ, bát, chõ (?),…

Nồi vẫn là kiểu miệng loe, cổ không cao nhưng thắt lại (cổ thấp), trong miệng tuy còn rãnh hình ống máng nhưng không sâu, xuất hiện loại nồi mặt trong miệng bằng, không còn trang trí miệng, thường trang trí văn đắp nổi có khắc thành răng cưa ở vai. Bát gốm có hai kiểu chính, miệng loe, cổ thắt, bụng hơi tròn, đường kính miệng xấp xỉ bằng đường kính bụng, ngoài có trang trí văn thừng. Ngoài ra ở giai đoạn này thường gặp mảnh đáy (?) có mặt cắt là hình chữ T nằm ngang, phía trong tạo thành hình vành khăn, trên hình vành khăn có lỗ nhỏ, chỉ mới phát hiện được mảnh ỡ, có thể đó là mảnh đáy chõ (?).

Giai đoạn 3 - Ở giai đoạn này, đồ gốm có nhiều biến đổi cơ bản, bên cạnh gốm thô tồn tại từ giai đoạn trước, có gốm mềm, gốm cứng, đồ bán sứ,… Hoa văn xuất hiện hoa văn in hình học: xương lá, trám lồng,… Những mảnh gốm ở lớp này đều bị vỡ vụn nên việc phân biệt loại hình có khó khăn.

b) Đối với mộ táng:

Căn cứ vào đất lấp mộ, chúng tôi chia các ngôi mộ đã phát hiện được trong đợt này thành 2 giai đoạn phát triển khác nhau (1):

(1) Đợt đào năm 1970 cũng như các đợt đào lần trước, việc phát hiện biên mộ có khó khăn, điều này đã ảnh hưởng nhiều đến việc nghiên cứu tài liệu mộ táng, việc phân chia các lớp mộ ở đây chúng tôi căn cứ váo đất lấp trên ngôi mộ đó. Do đó việc phân chia này chỉ có thể ở mức rất đại cương với tài liệu hiện tại chưa chia chúng thành những giai đoạn nhỏ được. Ở đây chúng tôi chia làm 2 giai đoạn; giai đoạn 1, chủ yếu gồm những ngôi mộ có đất lấp là đất sét vàng, mộ nằm trong lớp đất vàng, trong số này có 2 – 3 ngôi mộ nằm trong lớp đất vàng nhưng đất lấp là đất màu mâu pha sỏi. Xét về thời gian thì những ngôi này muộn hơn những ngôi mộ có đất lấp là đất sét vàng (vì lớp đất nâu pha sỏi nằm trên lớp đất sét vàng). Nhưng xét về nộ dung những ngôi mộ này rất gần gũi với những ngôi mộ có đất lấp là đất sét vàng. Nên chúng tôi tạm xếp chúng vào giao đoạn 1.

Giai đoạn 2: gồm những ngôi mộ có đất lấp là đấtxam đen, nằm trong đất đen. Ngoài ra có một số mộ khác từng ăn sâu xuống lớp đất đen này, miệng huyện nằm ở lớp đất hiện tại, hoặc đất lấp mộ không phài đất xám đen, nội dung cũng khác như một số mộ gạch. Chúng tôi xếp chúng ra ngoài phạm vi bài này, vì nó thuộc vào giai đoạn muộn về sau. Và như vậy có một số mộ ở giai đoạn này nằm trong giai đoạn tiếp xúc với văn hóa Hán, hay nói một cách khác, nó tương đương với giai đoạn 3 của cư trú. Đó là một số nguyên tắc mà chúng tôi đã dựa vào để phân chia các giai đoạn mộ ở đây.

Giai đoạn 1 – Đồ tùy táng trong các ngôi mộ này chủ yếu là gốm. Đồ gốm chỉ có một loại là gốm thô. Kiểu dáng khá phong phú, nồi cỡ nhỏ, có loại miệng loe, có loại miệng thẳng, miệng loe chủ yếu trong miệng cũng có rãnh lõm hình ống máng, ngoài miệng có gờ, đó là đặc điểm của nồi ở giai đoạn sớm, bên cạnh nồi cổ cao, có nồi cổ thắt, bụng tròn, đáy tròn, có loại giữa đáy là thân đã tạo thành góc tiền thân của nồi đáy bằng. Bình miệng nhỏ (bình con tiện), tập trung ở giai đoạn này có nhiều kiểu dáng khác nhau, có loại bụng gãy góc, có loại bụng tròn, có loại bụng thẳng đứng, có loại trong miệng trang trí văn vạch, chạy xiên chung quanh miệng. Bát, có loại có chân đế, có loại miệng loe, có loại miệng loe cổ nhất, có loại miệng thu vào,… Vò, hũ (?), loại này chỉ phát hiện được ở giai đoạn 1, chúng đều là những đồ minh khí, thường được làm bằng tay, không trang trí hoa văn, có nhiều kiểu dáng khác nhau, thường là cổ cao, miệng thẳng, vai tròn, đáy bằng, vật hình trống đồng, đây là loại hiện vật khá độc đáo, chúng cũng là đồ minh khí, chỉ phát hiện được ở trong mộ thuộc giai đoạn 1. Nhìn chung kiểu dáng rất giống kiểu dáng trống đồng loại 1.

Giai đoạn 2 – Đồ tùy táng trong mộ chủ yếu là đồ đồng, còn trong những ngôi mộ đã có dấu ấn của văn hóa Hán, thì đồ gốm chỉ có 1 hoặc 2 cái mà thôi. Cho nên đồ gốm ở đây chủ yếu là của những ngôi mộ thuộc giai đoạn trước lúc tiếp xúc với văn hóa Hán.

Đồ gốm trong các ngôi mộ thuộc giai đoạn này cũng chỉ có một loại là gốm thô. Loại hình và kiểu dáng ở giai đoạn này có thay đổi nhất định. Sự thay đổi rõ rệt nhất là loại hình và kiểu dáng ít đi nhiều, có một số trước đây là đồ minh khí bằng đất, nhưng đến giai đoạn này đã được thay thế bằng đồ minh khí bằng đồng như trống, thạp, thố…

Nồi ở giai đoạn này cũng chỉ là một loại nồi cỡ nhỏ đều là loại nồi cổ thắt, miệng loe, không có loại trong miệng có rãnh hình ống máng như giai đoạn 1, miệng nồi ở giai đoạn này trong cũng như ngoài đều bằng, không có gờ, bụng tròn đáy tròn, xuất hiện đáy bằng, ngoài trang trí văn thừng, có loại trang trí văn in ô vuông. Bình miệng nhỏ (bình con tiện) số lượng và kiểu dáng ít hẳn so với giai đoạn 1. Có loại vẫn gãy góc ở phần giữa, nhưng ở phần trên và dưới đều thành đường con lượn, không giống với loại gãy góc ở giai đoạn 1, ở giai đoạn này cũng có loại thành bụng thẳng đứng đáy vuông (lùn xuống) mà ở giai đoạn 1 (cao hơn). Ngoài bình miệng nhỏ, còn cò loại bình miệng lớn, có kiểu dáng gần giống loại bát điếu, miệng loe, bụng thu vào, có loại miệng loe cổ thắt, đường kính miệng xấp xỉ đường kính bụng. Bát cơ bản giống giai đoạn 1, chỉ có khác là miệng hơi bẻ ra ngoài.

Diễn biến đồ gốm trong mộ

c) Quan hệ giữa các giai đoạn của mộ táng và cư trú:

Như phần trên đã trình bày, đối với các lớp cư trú có thể chia thành 3 giai đoạn, đối với mộ tán có thể chia thành 2 giai đoạn. Để hiểu rõ quá trình diễn biến ở di chỉ này, qua đó tìm hiểu quá trình phát triển của xã hội đương thời, ở đây chúng ta tiến thêm một bước tìm hiểu quan hệ giữa các giai đoạn của mộ táng và cư trú.

Đầu tiên chúng ta thấy rằng có những hiện vật có trong các lớp cư trú, nhưng không có trong mộ táng, như nồi cỡ lớn, và ngược lại có những loại hiện vật có trong mộ táng nhưng không thấy có trong các cư trú như đồ minh khí. Điều đó phản ánh sự khác nhau giữa yêu cầu của thực tế cuộc sống hàng ngày và quan niệm về cái chết của con người lúc đó. Nếu không kể trường hợp có tính chất riêng biệt ấy ra, những hiện vật ở lớp cư trú đều có ở trong lớp mộ táng, như nồi cỡ nhỏ, bình, bát,... Điều đó cho phép chúng ta kết luận được rằng: các ngôi mộ ở đây và các hiện vật tìm được trong các lớp cư trú là cùng một chủ nhân.

Xét về quan hệ giữa các giai đoạn mộ táng và cư trú, chúng ta thấy rằng những ngôi mộ thuộc giai đoạn 2 đều nằm trong lớp 3, 2, chủ yếu là lớp 3 của lớp cư trú và đất lấp trên mộ cũng là đất có chứa hiện vật thuộc lớp 3 và 2, như vậy vê cơ bản chúng có cùng niên đại với lớp 3 và 2 cư trú, hay nói một cách khác cùng niên đại với giai đoạn 2 và 3 của cư trú. Điều này chúng ta cũng có thể thấy được qua hiện vật cụ thể của chúng. Qua hiện vật bằng gốm thô ta thấy nồi, bình, bát của giai đoạn 2 cư trú rất giống với nồi, bình bát,… của mộ táng thuộc giai đoạn 2, chúng đều có cùng một phong cách của đồ gốm thuộc giai đoạn muộn. Trong mộ táng phát hiện được tiền ngũ thù, thì trong lớp 2 cư trú phát hiện được gốm mềm, gốm cứng,… in văn hình học và những hiện vật thuộc Tây Hán vá Đông Hán. Điều đó chứng tỏ niên đại của mộ táng ở giai đoạn 2 có cùng niên đại với giai đoạn 2 và 3 cư trú, hay nói một cách khác, chủ nhân của mộ táng ở giai đoạn 2 cũng là chủ nhân của các lớp cư trú 3 và 2.

Còn giữa giai đoạn 1 cư trú và giai đoạn 1 mộ táng, khi xét có phần phức tạp hơn, vì giai đoạn 1 cư trú và giai đoạn 1 mộ táng, chúng phân bố ở hai vùng khác nhau, giữa chúng không có quan hệ trực tiếp về địa tầng, nên chủ yếu dựa vào việc so sánh hiện vật của chúng mà thôi.

Nồi kiểu 1 của giai đoạn 1 cư trú và nồi kiểu 1 của giai đoạn 1 mộ táng đều là những chiếc nồi miệng loe, cổ cao, trong miệng có rãnh lõm hình ống máng, ngoài miệng có gờ đất.

Bình miệng nhỏ kiểu 1 cư trú và kiểu 12, 13, 14 của mộ táng đều có một phong cách chung, có trang trí văn vạch chạy xiên chung quanh miệng, mặt cắt của miệng đều có dáng chữ S.

Ngoài ra còn một số kiểu dáng nữa tuy giữa mộ táng và cư trú có khác nhau, song số lượng của từng kiểu dáng này không nhiều, có loại chỉ có một chiếc, do đó có thể tìm thấy nó ở mộ táng mà chưa tìm thấy ở cu trú (?).

Như vậy chúng ta có thể kết luận được rằng giai đoạn 1 cư trú có niên đại gần tương đương với giai đoạn 1 mộ táng.

Để kiểm nghiệm thêm về kết luận trên, chúng ta có thể so sánh chúng với một số di chỉ đã biết niên đại ở vùng trung du Bắc Bộ.

Ở giai đoạn 1 cư trú, ngoài những đồ gốm kể trên, còn phát hiện được 8 mảnh gốm có trang trí kiểu Gò Mun, những mảnh gốm này, kiểu miệng hẹp, trang trí đơn giản, không có đồ án phức tạp của giai đoạn Gò Mun muộn, mà tất cả đặc điểm đó rất gần với đặc điểm Gò Mun sớm. Ở giai đoạn 1 mộ táng, về kiểu dáng, màu sắc bên ngoài thì chúng rất giống với chiếc giáo ở Thanh Đình, Gò Mun, Vinh Quang lớp dưới, nó là loại giáo búp đa, chuôi ngắn hơn lưỡi, góc lượn ở chuôi lớn, dáng có giáo khỏe, nó là chiếc giáo tiêu biểu cho giai đoạn sớm của Gò Mun, ở Vinh Quang, đến lớp trên không thấy loại giáo này. Còn 2 chiếc dao xéo này rất giống một số mảnh dao xéo tìm thấy ở Đồng Đâu, chúng đều có màu đen bóng, góc hợp bởi giữa lưỡi và chuôi khá lớn. Đến nay loại này cũng chỉ mới phát hiện được ở giai đoạn đầu của Gò Mun. Như vậy giai đoạn 1 mộ táng và giai đoạn 1 cư trú đều có niên đại tương đương với giai đoạn sớm của Gò Mun. Điều đó không mâu thuẫn gì với kết luận trên.

Như vậy, di chỉ Đông Sơn có một quá trình phát triển liên tục, và trải qua các giai đoạn khá rõ rệt:

Nội dung văn hóa Đông Sơn

Từ trước đến nay, căn cứ vào tài liệu đã phát hiện được, các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều cho rằng tất cả hiện vật tìm được ở địa điểm này đều thuộc văn hóa Đông Sơn, và có người cho đó là tiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn (1). Qua tài liệu khai quật năm 1970, chúng ta đã phát hiện ra ở đây còn một giai đoạn sớm tồn tại. Đối với tài liệu mới này, có ý kiến cho nó thuộc vào văn hóa khác. Cũng có ý kiến cho giai đoạn sớm này thuộc văn hóa Đông Sơn,…

(1) Hoàng Xuân Chinh và Chử Văn Tần: Nội dung loại hình và niên đại văn hóa Đông Sơn – Khảo cổ học, Hà Nội, số 3 – 4, tháng 12 – 1969: “Hiện nay dường như chúng ta nhất trí rằng di chỉ Đông Sơn (Thanh Hóa) tiêu biểu cho giai đoạn cuối cùng của văn hóa Đông Sơn”. Như vậy văn hóa Đông Sơn chí ít còn một giai đoạn sớm nữa, giai đoạn này có thể ở ngay trên địa điểm Đông Sơn mà ta chưa tìm ra, cũng có thể nó ở địa điểm nào đó. Nhưng đến nay ở địa điểm Đông Sơn đã phát hiện ra 1 giai đoạn sớm tồn tại giữa giai đoạn sớm và muộn có 1 sự phát triển liên tục với nhau. Nhưng trong bài tham luận của mình ỡ Hội nghị lần thứ 3 và lần thứ 4 nghiên cứu thời kỳ lịch sử thời Hùng Vương, Hoàng Xuân Chinh tách giai đoạn sớm này thành một văn hóa riêng, không thuộc văn hóa Đông Sơn. Qua hiện vật tìm được ở giai đoạn sớm cũng như muộn ta thấy chúng có một sự thống nhất là cơ bản, điều đó nói lên rằng nó có cùng một chủ nhân. Nếu có cùng một chỉ nhân mà chỉ có phần cuối của văn hóa đó là thuộc văn hóa Đông Sơn mà lại thuộc về giai đoạn muộn của văn hóa Đông Sơn, thì ngay chính điều này cũng nên đặt lại vấn đề để thảo luận. Nếu giai đoạn đầu không thuộc về văn hóa Đông Sơn thì giai đoạn sau cũng không nên xếp vào văn hóa Đông Sơn, hoặc chí ít cũng không nên coi đó là địa điểm tiêu biểu cho văn hóa Đông Sơn. Như vậy rõ ràng văn hóa Đông Sơn không phát triển trực tiếp từ giai đoạn trước nó vốn có ở đây mà văn hóa Đông Sơn ở địa điểm Đông Sơn này là do ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn ở đâu đó đã tác động đến. Hay nói một cách khác, tập đoàn người cư trú ở địa điểm này trong những ngày cuối cùng đã chịu ảnh hưởng của nên văn minh Đông Sơn.

Căn cứ vào tài liệu hiện nay và nhận thức của bản thân, chúng tôi thấy rằng: các giai đoạn phát triển ở đây, chúng đều được phát triển trên cơ sở kế thừa lẫn nhau, giữa chúng cũng có sự khác biệt nhất định, sự khác biệt ấy cũng không cùng một ý nghĩa.

Về đồ gốm, giữa giai 1 và 2 có những điểm giống nhau: chúng đều thuộc loại gốm thô, pha cát, màu đỏ, xương gốm đen, ít trang trí hoa văn, xét về loại hình đồ gốm, một số loại cơ bản ở giai đoạn 1 thì cũng có ở giai đoạn 2, như nồi cỡ lớn, nồi cỡ nhỏ, bình miệng nhỏ,… Còn sự khác nhau giữa chúng thì chỉ là sự khác nhau về một số nét ở miệng, cổ, bụng hoặc đáy,… hoặc có một số hoa văn có ở giai đoạn này mà không có ở giai đoạn kia. Sự khác biệt ấy không phải là cơ bản, mà chỉ là sự khác biệt về thời gian, không phải là sự khác biệt về chất, càng không phải là sự khác biệt về chủ nhân của nó. Nhưng đến giai đoạn 3 tình hình có thay đổi nhiều, bên cạnh loại gốm thô là loại gốm có truyền thống từ 2 giai đoạn trước đã tồn tại, và xuất hiện 1 loạt yếu tố mới như gốm mềm, gốm cứng văn in hình h5oc, hoa văn thường là ô vuông, trám lồng, xương lá,… những loại hoa văn này tồn tại từ loại gốm thô đến giai đoạn này cũng có những thay đổi nhất định, số lượng ít đi, hoa văn trên gốm thô đã xuất hiện yếu tố của hoa văn Hán như hoa văn xương lá,…

Đồ đồng, trong các lớp cư trú phát hiện được rất ít, thường là gỉ đồng, dây đồng,…, mà chủ yếu phát hiện được tron mộ táng. Đồ đồng trong các mộ thuộc giai đoạn 1 và 2 có khác nhau, sự khác nhau ấy biểu hiện trên số lượng và loại hình. Nhưng những loại hình ở giai đoạn 2 phát triển trên cơ sở của giai đoạn 1.

Về đồ sắt, cũng mới chỉ tìm thấy trên mộ táng mà thôi, trong những mộ thuộc giai đoạn 1 chưa tìm thấy dấu vết sắt, chỉ tìm thấy trong một số mộ ở giai đoạn 2.

Với tất cả tài liệu trên, chúng ta thấy rằng giai đoạn 1 và giai đoạn 2 giống nhau là cơ bản, sự khác biệt chỉ là về thời gian, nhưng đến giai đoạn 3 thì không những có sự khác nhau về thời gian mà đã có sự xâm nhập của văn hóa Hán. Điều đó nói lên xã hội nước ta đến giai đoạn đó đã có những biến đổi nhất định. Cho nên chúng tôi xếp giai đoạn 1 và 2 vào một văn hóa riêng gọi là văn hóa Đông Sơn. Còn giai đoạn 3 tuy vẫn tiếp tục phát triển trên cơ sở các giai đoạn trước nó, nhưng đã tiếp theo nhiều yếu tố của bên ngoài, tiêu biểu cho một giai đoạn mới của lịch sử nước ta nên chúng tôi tạm xếp nó thuộc một văn hóa khác.

Niên đại của di chỉ Đông Sơn

Gần đây, trong hội nghị lần thứ 3 nghiên cứu thời kỳ kịch sử Hùng Vương, trên cơ sở nghiên cứu tất cả các tài liệu từ trước đến nay, kết hợp với việc tham quan đợt đào Đông Sơn năm 1970, trong bài tham luận Niên đại văn hóa Đông Sơn, Nguyễn Duy Tùy đã nêu lên tương đối rõ ràng ý kiến của mình về địa điểm Đông Sơn nói riêng và văn hóa Đông Sơn nói chung. (1)

(1) Tác giả đã vạch cho hai địa điểm Đông Sơn và Thiệu Dương một cơ sở cấu tạo địa tầng như sau:
- Lớp 1: (lớp sớm nhất) di chỉ cư trú đầu tiên;
- Lớp 2: những ngôi mộ đất bản địa;
- Lớp 3: những ngôi mộ thuộc thời Hán.
Chúng ta hãy đi vào từng địa điểm 1, để xem sơ đồ cấu tạo địa tầng ấy có phù hợp với thực tế hay không? Qua mặt cắt của 6 hố khai quật ở Đông Sơn năm 1970, phân bố ở 3 khu vực khác nhau, nhưng chúng ta không tìm thấy một sơ đồ cấu tạo địa tầng như vậy. Tình hình cấu tạo các lớp đất ở đây khá phức tạp, như chúng tôi đã trình bày ở phần trên. Còn ở địa điểm Thiệu Dương, theo tác giả “trong đợt khai quật năm 1965 trong phạm vi một hố khai quật có diện tích 100m2, chúng tôi đã tìm thấy tất cả 34 ngôi mộ đất (mộ bản địa) nằm ở các độ sâu khác nhau, cách mặt đất hiện nay từ 0m40 đến 2m4”. Mặt khác trong bản báo cáo khai quật Thiệu Dương: “Trong 18 ô có 12 ô tìm được mộ Bắc thuộc, mộ nông nhất ở độ sâu 0m25 (tính từ mặt đất), mộ sâu nhất 1m20”. Nếu căn cứ vào tình hình tư liệu của hai đợt đào ở Thiệu Dương như vậy, rõ ràng “mộ đất bản địa” và “mộ thuộc Hán” nằm xen kẽ nhau mà không thành một lớp riêng biệt như tác giả đã vạch ra.

Mặt khác tác giả còn nêu lên: “Đối với ngôi mộ sớm nhất ở đây chúng ta theo dõi cũng khá rõ, trước hết đó là những ngôi mộ nằm sâu nhất so với những ngôi mộ muộn hơn”. Qua tài liệu vừa dẫn ở đây, theo nguyên tắc mà tác giả nêu ra như vậy, thì ngôi mộ thuộc Hán ở độ sâu 1m20 phải có niên đại sớm hơn ngôi mộ đất bản địa ở độ sâu 0m40. Do đó sự phân chia thành 2 lớp mộ bản địa và thuộc Hán như tác giả trình bày là có vấn đề.

Đồng thời qua đây chúng ta cũng thấy một điều: nếu căn cứ vào độ sâu của đáy mộ để kết luận mộ này sớm, mộ kia muộn là một sai lầm rất lớn về phương pháp. Muốn xác định mộ nào sớm mộ nào muộn, đều quan trọng là trong khi khai quật phải xác định được miệng huyệt xuất hiện ở đâu, đất lấp trong mộ như thế nào, hiện vật chứa trong đất lấp ra sao, nội dung và đồ tùy táng diễn biến như thế nào,…

Tác giả đã căn cứ vào “cấu tạo địa tầng” ở di chỉ Thiệu Dương và Đông Sơn mà tác giả đã vạch ra, và đưa ra giả thiết của mình về niên đại của địa điểm Đông Sơn từ thế kỷ thứ 5 – 4 trước Công nguyên trở về sau.

Điều đầu tiên so sơ đồ cấu tạo địa tầng mà tác giả đưa ra là không hợp lý, nên giả thuyết đó là hoàn toàn suy diễn chủ quan. Chính vì thế ngay khi chứng minh, nó cũng bộc lộ ra điều đó. Khi tác giả xét đến đồ đồng trong “lớp mộ đất bản địa” tác giả đã thừa nhận “mũi dao khắc ở Đông Sơn giống mũi dao khắc ở Đồng Đậu”, “giống màu sắc một số di vật đồng phát hiện được ở giai đoạn sớm tìm thấy ở Đồng Dền, Đồng Đậu, Vinh Quang”, mà không có hiện vật có niên đại muộn hơn. Chúng ta biết rằng niên đại của di chỉ Vinh Quang theo kết quả của C14 cho biết là: 3046 ± 120 năm (tính từ năm 1950 trở về trước), nhưng đến khi xác định niêm đại cho lớp mộ sớm nhất có chứa những hiện vật giống như những hiên vật ở Vinh Quang ấy, lại chỉ ở vào khoảng thế kỷ thứ 5 – 4 trước Công nguyên mà thôi.

Để xác định niên đại của địa điểm Đông Sơn, chúng ta có thể so sánh giữa chúng với các địa điểm đã biết niên đại tương đối rõ ràng ở miền đồng bằng Bắc Bộ.

Theo tài liệu hiện nay đối với các di chỉ khảo cổ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, chúng ta đã tìm ra được quan hệ trước sau của chúng từ văn hóa Phùng Nguyên trở về sau. Cụ thể là: văn hóa Phùng Nguyên – “Văn hóa Đồng Đậu” – “văn hóa Gò Mun” – Nhóm di chỉ Đường Cồ. Và mỗi mốc lớn như vậy, tuy chưa nhiều, nhưng chúng ta đã có kết quả C14 của một vài địa điểm để định niên đại cho mỗi mốc. Đó là căn cứ rất tốt để chúng ta suy ra niên đại của di chỉ Đông Sơn nói riêng và các di chỉ khảo cổ khác nói chung.

Giai đoạn 1 cư trú ở địa điểm Đông Sơn, ngoài gốm thô màu đỏ ra là loại gốm địa phương, chúng ta còn phát hiện được 8 mảnh gốm có trang trí kiểu Gò Mun. Những mảnh gốm này, đều có màu xám, khác với đồ gốm vốn có ở đây, chất liệu pha cát thô nên mặt gốm thỉnh thoảng có đốm trắng của hạt cát thô đó, độ nung cao, xét về kiểu dáng hoa văn của những mảnh gốm này, rất giống mảnh miệng gốm thuộc giai đoạn Gò Mun sớm: miệng loe, biên miệng hẹp, trong miệng trang trí văn vạch cắt chéo nahu và văn in đường tròn. Ngoài ra ở giai đoạn 1 mộ táng phát hiện được 1 giáo đồng và 2 dao xéo đồng, như phần trên đã trình bày, nó cũng là hiện vật thuộc về giai đoạn sớm của Gò Mun.

Sang giai đoạn 2 cư trú, phát hiện 3 mảnh gốm có trang trí kiểu Gò Mun, trong đó có một mảnh trang trí khá phứa tạp gần giống như những mảnh gốm thường tìm thấy ở Vinh Quang lớp trên, đặc biệt lá trong giai đoạn  náy còn tìm thấy một số mảnh gốm có trang trí kiểu văn thừng Đường Cồ - văn thừng trang trí theo kiểu mắc lưới, đây không phải là phong cách vốn có ở đây, về đồ đồng có lưỡi giáo, rìu giống như ở Vinh Quang lớp trên. Giai đoạn này tương đương với niên đại của Vinh Quang lớp trên.

Đến giai đoạn 3 cư trú, bân cạnh gốm thô, đã xuất hiện một loại gốm mềm, gốm cứng in văn hình học,… Hiên vật nói lên văn hóa Hán đã xâm nhập vào nước ta. Theo các nhà khảo cổ học Trung Quốc, chúng tồn tại từ cuối thời đại đá mới đến Hán. Hình dáng của chữ ngũ thù trên đồng tiền đã phát hiện được ở đây là vào khoảng Đông Hán.

Căn cứ vào kết quả của C14 ở địa điểm Vinh Quang là 3046 ± 120 năm (tính từ năm 1950 trở về trước), thì niên đại tuyệt đối của địa điểm Đông Sơn vào khoảng từ đầu thiên niên kỷ thứ 1 đến đầu thế kỷ thứ 2 au Công nguyên.

Nguồn gốc của văn hóa ở Đông Sơn

Đây cũng là vấn đề đang được thảo luận. Vừa qua trong bài Về niên đại văn hóa Đông Sơn, Nguyễn Duy Tỳ đã nêu: “Điều đáng chú ý là trên một số mảnh gốm tìm thấy trong lớp đất này (lớp cư trú sớm nhất ở Đông Sơn) có nhiều hoa văn trang trí rất gần gũi với những hoa văn trang trí trên đồ gốm Đồng Đậu, Đồng Dền, thỉnh thoảng chúng ta lại tìm được một vài mảnh gốm có phong cách như gốm Gò Mun hoặc gốm Phùng Nguyên. Những mảnh gốm lại đó không nhiều, nhưng rõ ràng chứng tỏ có mối quan hệ nối tiếp văn hóa Gò Mun trước đó. Hiện tượng đó cho chúng ta biết rằng lớp đất cư trú sớm nhất ở đây là nối tiếp văn hóa Gò Mun.

Căn cứ mà tác giả nói ở đây là “có nhiều hoa văn trang trí rất gần gũi với “nhưng hoa văn trang trí trên đồ gốm Đồng Đậu, Đồng Dền”. Nó không hoàn toàn như vậy, chúng ta biết rằng hoa văn trang trí trên đồ gốm của Đồng Đậu, Đồng Dền, chủ yếu là hoa văn kẻ không nhạc, chúng ta tạo thành những đồ án khá phức tạp, xoắn xuýt với nhau. Nhưng ở Đông Sơn thì khác, tuy cũng là một dạng của văn kẻ khuông nhạc (phương pháp tạo hoa văn) song ở đây mới chỉ là những nhóm đường thẳng song song chạy xiên chung quanh miệng mà thôi, nó không có một đồ án nào “gần gũi” vời đồ án phức tạp như Đồng Đậu, Đồng Dền cả, mà hai loại đó có khác nhau. Còn ở Đồng Đậu, Đồng Dền, không những trang trí trong miệng, mà còn trang tr1i cả bên ngoài nữa. Mặc khac kiểu dáng miệng của đồ gốm Đồng Đậu khác hẳn kiểu dáng miệng có trang trí văn kẻ khuôn nhạc ở Đông Sơn, một đàng là loại miệng loe cong, một đàng là loại miệng trong có rãnh sâu hình ống máng, cho nên gọi là nhiều hoa văn “gần gũi” với hoa văn ở Đồng Đậu và Đồng Dền là không thỏa đáng. Nhìn toàn bộ di vật ở giai đoạn 1 cư trú cũng như mộ táng ở địa điểm Đông Sơn, về đồ gốm chúng ta thấy chúng hình thành một phong cách riêng biệt khác xa với phong cách của đồ gốm Phùng Nguyên, Gò Mun về cả chất liệu, kiểu dáng, hoa văn,… nó có một chút gì biểu hiện sự kế thừa của văn hóa ở vùng Bắc Bộ như Phùng Nguyên, Gò Mun,…

Xét về phạm vi phân bố và cấu tạo địa tầng, rõ ràng hai văn hóa này ở khu vực khác xa nhau, chúng ta chưa tìm được di vật của Đông Sơn nằm trên lớp chứa di vật của “văn hóa Gò Mun”. Điều quan trọng nhất là trong số hiện vật phát hiện được ở giai đoạn 1 cư trú và mộ táng ở Đông Sơn, có một số mảnh gốm và đồng lại tiêu biểu cho giai đoạn muộn của Gò Mun ở thời kỳ này, mà chỉ tìm thấy chúng ở giai đoạn sau mà thôi. Điều đó cho phép ta có thể kết luận được rằng, văn hóa ở Đông Sơn ở địa điểm Đông Sơn không phải phát triển “nối tiếp” sau văn hóa Gò Mun, mà giữa lớp giai đoạn 1 cư trú và mộ táng ở Đông Sơn và Gò Mun có một quan hệ đồng thời đại với nhau.

Qua đặc điểm của tổng thể hiện vật ở giai đoạn sớm ở Đông Sơn cho phép chúng ta nghĩ rằng chúng sẽ phát triển trên cơ sở, hoặc nối tiếp một văn hóa nào đó, tồn tại trước nó ở vùng Trung Bộ này. Đến nay do công tác điều tra khai quật ở đấy còn ít cho nên vân đề này chưa có thể khẳng định được. Nếu vấn đề này được giải quyết tốt, chúng ta còn có thể giải quyết được một loạt vấn đề khác có liên quan đến vấn đề phát sinh, phát triển của văn hóa Đông Sơn ở vùng này, như sự xuất hiện đồ đồng ở đây, vấn đề trung tâm của văn hóa Đông Sơn, quá trình hòa hợp của văn hóa Đông Sơn,…

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Các giai đọan phát triển của văn hóa Phùng Nguyên qua hoa văn đồ gốm. Một trong những vấn đề khảo cổ học có tầm quan trọng đáng kể hiện nay là việc ...

Về khái niệm thời Hùng Vương: Thế nào và lúc nào là thời Hùng Vương? Thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều suy nghĩ, nhưng chưa có dịp ...

Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên qua tài liệu khảo cổ học Tới nay, trong khi nghiên cứu vết tích vật chất của thời kỳ Hùng Vương, ta thường ...

Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương: Những truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về các vua Hùng, từ lâu, mọi người đều đã biết (tuy chưa đầy ...

Vang Pao và ảnh hưởng của Chú SamPháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, đưa đến hiệp định Geneva.  Pháp rút lui dần khỏi địa bàn ...

Hợp tác với Pháp chống NhậtKhi nước Pháp bị Đức Quốc Xã cai trị vào năm 1940, quân Nhật liền chiếm đóng Đông Dương. Toàn quyền Decoux được Nhật để ...

Quân Cờ Đen và Miêu tộcNăm 1870, dư đảng của giặc Thái Bình ở Trung Quốc sau khi tràn vào Việt Nam, chia làm hai phe Cờ vàng ở Tuyên Quang và Cờ đen ở Lào-kay ...

Miêu tộc vào Việt NamTrước đấy từ năm 1815 đến 1818 đã có người Miêu chạy thoát đến cư ngụ ở Đồng Văn. Sau đó một nhóm tách ra di dân đến vùng bắc ...

Số phận vẫn còn bi đát: Năm 1616, người Mãn Châu là hậu duệ của nước Kim lại bắt đầu cường thịnh, Nỗ-nhỉ-cáp-xích quật khởi ở miền Liêu Ninh xưng ...

Chấm dứt một thời oanh liệtĐến năm 907, nước Tầu lại bị loạn lạc với thời kỳ Ngũ đại (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu) và Thập quốc (907 - 960), nhà ...