Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8

Ngày đăng: Thứ sáu 17/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

Với cái nền khá rực rỡ của văn hóa Phùng Nguyên, những văn hóa phát triển sau đó đã có một tiền đề rất tốt để phát triển và thực tế đã phát triển, tạo nên một nền văn hóa phát triển cao, độc đáo, của dân tộc ta; ánh sáng của nền văn hóa ấy đã tỏa chiếu, không những khắp địa vực nước ta, mà cả các vùng quanh, khá xa đất nước ta.

Kể từ khi phát hiện ra di chỉ đầu tiên của nền văn hóa này, di chỉ Phùng Nguyên (Lâm Thao, Vĩnh Phú), đã hơn 10 năm qua. Và trong hơn 10 năm đó, giới khảo cổ học nước nhà, từ nhiều hướng khác nhau, đã ra sức giải quyết nhiều vấn đề khảo cổ học khác, trong đó có vần đề đang được đề ra cấp thiết: vấn đề lịch sử thời Hùng Vương – thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta. Với cái nền khá rực rỡ của văn hóa Phùng Nguyên, những văn hóa phát triển sau đó đã có một tiền đề rất tốt để phát triển vá thực tế đã phát triển, tạo nên một nền văn hóa phát triển cao, độc đáo, của dân tộc ta, mà cả các vùng quanh, khá xa đất nước ta.

Kể từ khi phát hiện ra di chỉ đầu tiên của nền văn hóa này, di chỉ Phùng Nguyên (Lâm Thao,Vĩnh Phú), đã hơn 10 năm qua. Và trong hơn 10 năm đó, giới khảo cổ học nước nhà, từ nhiều hướng khác nhau, đã ra sức giải quyết những vấn đề cơ bản nhất như niên đại, tính chất, loại hình,… của nó. Và cũng rất nhiều người, đặc biệt trong vài ba năm gần đây, từ một khối lượng tài liệu tương đối lớn, tuy còn tản mạn, của hàng chục di chỉ đã từng khai quật, đã cố gắng đi đến kiến giải một số vấn đề về cổ sử, hay chính xác hơn, một số vấn đề của thời kỳ Hùng Vương. Tuy còn những ý kiến khác nhau, những cuộc tranh luận đó đã đặt một cơ sở, gợi ra những suy nghĩ cho sự giải quyết tìm hiểu văn hóa Phùng Nguyên.

Chúng tôi xin, từ một loại tài liệu riêng: trang trí trên đồ gốm, thử nêu lên một số vấn đề của văn hóa Phùng Nguyên. Tất nhiên, khi xác định góc độ tài liệu chủ yếu như vậy, chúng tôi vẫn, trong những trường hợp có thể và cần thiết, dùng các tài liệu khác để minh giải thêm. Mỗi loại tài liệu, dù bản thân nó quan trọng đến đâu, cũng chỉ phát huy được đầy đủ tác dụng, trong mối quan hệ nội tại, thống nhất chặt chẽ với tổng thể những di tích và di vật khảo cổ học khác.

Các nhà khảo cổ học, sử học, dân tộc học và nghiên cứu nghệ thuật có những quan niệm khác nhau về ý nghĩa của hoa văn, đặc biệt hoa văn trang trí đồ gốm, về vai trò và ý nghĩa của nó. Nhưng mọi người đều thống nhất ở chỗ cho rằng hoa văn là một loại hình chủ đạo của nghệ thuật trang trí và, dùng nó ta có thể nhận thức được về trình độ tư duy, ý thức hoặc một mặt nào đó của đời sống hiện thực. Hoa văn còn thường được coi là một chỉ tiêu dân tộc học quan trọng dùng để phân biệt những tộc người khác nhau. Chính vì thế nó là một sử liệu quan trọng cần được khai thác. Tất nhiên, vì đặc tính của nó (1), việc sử dụng loại tài liệu này có nhiều khó khăn. Trở về hoa văn trang trí đồ gốm Phùng Nguyên, ta thấy rõ những khó khăn này.

(1) Hoa văn là một loại hình nghệ thuật, mà tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, nên hiện thực được phản ánh qua hoa văn dưới dạng tổng hợp và ước lệ. Ngoài ra tính truyền thống vốn là yếu tố cơ bản của hoa văn; chính sự bảo lưu những yếu tố truyền thống làm giảm khả năng phản ánh hiện thực của hoa văn. Đến nay người ta đã chú ý, nhưng lại quá nhấn mạnh điều ấy. Thật ra, hoa văn trang trí, cũng như bất cứ loại nghệ thuật nào, bao giờ cũng rất biến động, bởi nó là kết quả sáng tạo của một nghệ nhân hay một tập thể nghệ nhân cụ thể, trong một trình độ và phong cách thẩm mỹ cụ thể và một hiện thực cụ thể. Tính bảo lưu truyền thống và từ bỏ truyền thống, như vậy, phải được quan niệm như hai mặt đối lập của một thực thể thống nhất.

* *     *

Nói đến trang trí trên đồ gốm Phùng Nguyên là nói đến một đề tài hết sức rộng lớn, rất khó khăn. Nhiều người đã nhấn mạnh rằng, trong quá trình phát triển của các dạng văn hóa khảo cổ Việt Nam, giai đoạn Phùng Nguyên là giai đoạn mà hoa văn trang trí trên đồ gốm phong phú, đa dạng và mỹ lệ nhất. Hàng chục loại hoa văn với hàng trăm mô típ riêng biệt, cùng các biến thể từ đơn giản đến phức tạp, được dung nạp và thể hiện với nhiều phong cách, chi tiết khác nhau.

Sự phức tạp khó khăn của vấn đề này còn thể hiện ở chỗ ta chưa thấy được nguồn gốc trực tiếp của nền văn hóa Phùng Nguyên, hay nói cách khác, cái cơ sở trên đó văn hóa Phùng Nguyên có tiếp thu một số yếu tố của văn hóa Bắc Sơn, nhưng đây là sự tiếp thu không trực tiếp (2). Chính vì thế, việc xác định bước khởi nguyên của các mô típ chủ đạo trong văn hóa Phùng Nguyên với sự tiến triển cụ thể của nó, không dễ dàng. Từ đó cũng khó giải thích ý nghĩa hiện thực của các mô típ đó, chưa đi sâu vào được ý nghĩa thực tế của các mô típ trang trí trên đồ gốm.

(2) Đó là “dấu Bắc Sơn” hay công cụ hạnh nhân: cũng còn ý kiến nghi ngờ hay phản bác. Ngoài ra, còn cần tham khảo thêm ý kiến coi Phùng Nguyên là sự tổng hợp hai truyền thống chế tạo đá gốc và đá cuội trước đó (trong đó có Bắc Sơn). Xem Hà Văn Tấn: Văn hóa Bắc Sơn, một truyền thống, một bình tuyến, trong Văn hóa Bắc Sơn – Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử. Hà Nội, 1970.

Ở đây, cũng xin chưa đề cập đến một số lọai hoa văn đã tìm được, như loại hoa văn có nguồn gốc từ kỹ thuật: hoa văn thừng, hoa văn chải… Loại hoa văn này có trong suốt các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Việt Nam, đã tạo nên một trong những yếu tố có tính chất truyền thống của các văn hóa khảo cổ Việt Nam; chính vì nó đã trải qua các bước phát triển khác nhau, nên trong tình hình nghiên cứu hiện nay, riêng trong phạm trù của một giai đoạn thôi, khó mà tìm hiểu đặc điểm và hướng phát triển cụ thể…

Trong bài này, chỉ xin căn cứ vào phong cách trang trí được thể hiện trên những mô típ mà theo chúng tôi là chủ đạo trong văn hóa Phùng Nguyên để tìm hiểu về văn hóa Phùng Nguyên và các giai đoạn phát triển của nó mà thôi.

Trên đồ gốm thuộc văn hóa Phùng Nguyên, phong cách trang trí nào là chủ đạo nhất?

Theo chúng tôi, đó là các chấm giải tạo thàng những băng dài bao kín bởi hai đường vạch thẳng (1). Sở dĩ như thế là vì, quan sát ở các di chỉ đã được phát hiện của văn hóa Phùng Nguyên, ta thấy nhiều mô típ khác nhau được thể hiện với loại phong cách này và được thể hiện trên một số lượng mảnh gốm, lớn nhất. Không những như thế, trên những mô típ chủ đạo nhất, phổ biến nhất của văn hóa Phùng Nguyên, ta đều thấy được thể hiện bằng phong cách này. Đó là loại chữ S với mọi biến thể từ giản đơn đến phức tạp, loại hoa văn hình nấm,… và rõ ràng, chúng có các bước phát triển khác nhau.

(1) Hà Văn Tấn: Nghiên cứu các thời đại Vua Hùng (hiện trạng và triển vọng) – Tập san Quản lý văn vật – Hà Nội, số 19, tháng 7-1970.

Nhìn chung tất cả hơn 34 địa điểm thuộc văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện, khai quật hoặc thăm dò trải ra trên một địa bàn khá rộng từ Vĩnh Phú qua Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nội, và về phía đông, đến tận Hải Phòng (Tràng Kênh), điều nhận xét đầu tiên có thể rút ra ý kiến là, giữa các địa điểm phía nam và phía bắc, mà ranh giới giữa hai vùng có thể lấy đi chỉ Lũng Hòa để phân định, có một sự khác biệt đáng kể (2). Vẫn là sự tồn tại của một phong cách trang trí chủ đạo chung, nhưng, nếu như ở các di chỉ bắc Lũng Hòa phong cách đó được thể hiện một cách tỉ mỉ, cân xứng, với rất nhiều họa tiết phong phú, thì ở các di chỉ nam Lũng Hòa, phong cách đó được thể hiện một cách ít nhiều tùy tiện và đặc biệt, vắng mặt hầu hết các họa tiết chủ đạo phổ biến ở các di chỉ bắc Lũng Hòa. Ở tất cả các di chỉ phía nam này, chỉ thấy một vài di chỉ mà trên trang trí đồ gốm của nó, ta có thể gặp lại một số họa tiết rất phổ biến ở phía bắc – đặc biệt là Gò Bông – như Đồng Vông, Núi Xây,… Sự khác nhau đó phản ánh một thực tế khách quan nào?

(2) Tràng Kênh (Hải Phòng) là một di chỉ khá phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng những yếu tố Phùng Nguyên ở đây là điều có thể khẳng định.

Trước đây, khi nhận thấy sự khác biệt đó, con người cho rằng đó là sự khác biệt của những loại hình khác nhau trong cùng một văn hóa khảo cổ, loại hình Gò Bông và loại hình chùa Gio (3), mà sự phân biệt chủ yếu cũng dựa vào trang trí trên đồ gốm. Loại hình ở đây hàm nghĩa là tính địa phương trong cùng một văn hóa khảo cổ. Chúng tôi, căn cứ vào sự suy giảm của phong cách trang trí chủ đạo cùng với sự vắng mặt hầu hết những mô típ trang trí chủ yếu ở các di chỉ phía nam này mà nhận thức rằng, so với Gò Bông và một số di chỉ cùng loại, đây là sự khác biệt biểu hiện các giai đoạn phát triển khác nhau: loại hình phía nam, bao gồm các di chỉ như Núi Xây, Văn Điển, Chùa Gio, Đồng Vông… phát triển muộn hơn so với Gò Bông và những di chỉ cùng loại. Điều này, sẽ được trở lại ở dưới.

(3) Chử Văn Tần: Góp bàn về các giai đoạn chuyển tiếp của các nền văn hóa khảo cổ thời Hùng Vương – Tạp chí Khảo cổ học, Hà Nội, số 1, tháng 6-1969.

Có thể cần nói thêm về di chỉ Chùa Gio. Có ý kiến cho rằng Chùa Gio có hai lớp sớm muộn khác nhau: lớp dưới được xếp vào “tiền Phùng Nguyên” (1). Tìm hiểu di chỉ Chùa Gio, chúng tôi thấy rằng ở lớp trên của Chùa Gio, những yếu tố văn hóa thuộc giai đoạn Đồng Đậu đã bắt đầu chiếm ưu thế. Đó là loại văn hóa khuông nhạc với những biến thể của nó; đặc biệt, ở đây, đã thấy loại hoa văn này được trang trí ở thành trong của miệng đồ gốm. Những loại hình đồ gốm thông qua các mảnh vỡ của phần miệng cho ta thấy đây cũng là loại miệng kiểu Đồng Đậu: loại miệng loe cong, thành miệng thấp. Nói đúng ra thì sự khác biệt giữ lớp trên và lớp dưới ở đây chỉ là sự khác biệt về tỉ lệ nhiều hay ít giữa các yếu tố. Điều đó có nghĩa là, ngay ở lớp dưới Chùa Gio, những yếu tố văn hóa thuộc giai đoạn Đồng Đậu đã nảy sinh. Như vậy thì xếp lớp dưới của di chỉ Chùa Gio vào giai đọan sớm của văn hóa Phùng Nguyên là không thể được, còn nói chi đến việc khẳng định nó là “tiền Phùng Nguyên”. Quan sát hoa văn đồ gốm của những di chỉ đã được phát hiện thuộc văn hóa Phùng Nguyên”, chúng tôi nghĩ rằng khó có thể xếp bất cư di chỉ nào vào giai đoạn “tiền Phùng Nguyên”, đặc biệt là các di chỉ phía nam của văn hóa này. Việc không tìm thấy vết tích đồng ở Chùa Gio cũng như bất cứ ở di chỉ nào, như nhiều người đã khẳng định, không thể là toàn bộ lý do để xếp di chỉ này hoặc di chỉ kia vào các giai đoạn sớm muộn khác nhau.

Những di chỉ phía bắc: như Phùng Nguyên, Gò Bông, An Đạo,… so với các di chỉ phía nam, thấy hoa văn đồ gốm được trang trí tỉ mỉ hơn, đẹp và phong phú hơn. Chính trên ý nghĩa ấy mà có thể gọi đây là loại hình cổ điển của văn hóa Phùng Nguyên. Trong tất cả các di chỉ đó, theo ý kiến số đông, Gò Bông được xếp vào giai đoạn muộn nhất của di chỉ phía bắc này nói riêng và của văn hóa Phùng Nguyên nói chung. Có lẽ căn cứ chủ yếu là ở Gò Bông trong những lần khai quật, đã thu được một số lượng đồng nhiều hơn hẳn so với các di chỉ khác thuộc văn hóa Phùng Nguyên. Cùng với nó, trừ di chỉ Phùng Nguyên, vì trên một diện tích 3800m2 đã khai quật, chưa phát hiện được một dấu vết nào của chất liệu đồng, thì được xếp vào giai đọan sớm, còn thì tất cả các di chỉ khác đều được xếp vào giai đoạn muộn, “giai đọan Gò Bông”. Tất nhiên, Gò Bông được quan niệm như một khâu cuối cùng của cả thời kỳ đó. Nhưng có một điều đáng chú ý là các ý kiến đó được đưa ra gần như không nêu theo một dẫn chứng, cứ liệu cụ thể nào. Có một số người không tán thành và xếp một số di chỉ kiểu như Đôn Nhân, Hương Nộn, Chùa Gio vào giai đoạn sớm của văn hóa, nhưng cũng không nêu luận cứ. Chúng tôi, trong lúc nghiên cứu hoa văn đồ gốm ở các di chỉ này đã từng lưu ý đến các ý kiến đã được phát biểu đó nhưng nếu đi sâu vào loại tài liệu này, ta sẽ thấy giữa Gò Bông và các di chỉ khác – có thể thống kê một cách đại lược là: Xóm Rền, Phùng Nguyên, An Đạo, Hương Nộn, Đôn Nhân, Nghĩa Lập, Đồng Xấu… - có một sự khác biệt đáng kể. Điều phải thừa nhận là: hơn bất cứ di chỉ nào khác, phong cách trang trí chủ đạo của văn hóa Phùng Nguyên được thể hiện ở một trình độ cao nhất ở những di chỉ này. Trước đây, khi nghiên cứu đồ gốm Gò Bông, có người đã sử dụng thuật ngữ “in dấu vải” để chỉ loại phong cách trang trí này bởi vì những chấm dải đó đều đặn, mịn màng đến mức như ta lấy mảnh vải in vào lúc đồ đựng còn ướt để tạo nên nó vậy. Ở đây, chúng tôi chưa bàn đến thuật ngữ đó có đúng hay không mà chỉ nêu lên để thấy rằng phong cách trang trí đó ở đây đã được thể hiện một cách thật là điêu luyện, tỉ mỉ. Trong lúc đó, ở những di chỉ khác kiểu như An Đạo, Xóm Rền, Đôn Nhân, Nghĩa Lập, Phùng Nguyên, Gò Bông Xấu,… thì phong cách đó đã có sự suy thoái đáng kể. Cũng có thể gặp lại ở đây một số mô típ trên trang trí đồ gốm Gò Bông nhưng sự thể hiện đã có chiều thêm cẩn thận và đặc biệt, vừa xuất hiện những mô típ mới chưa tìm thấy ở Gò Bông như loại chữ A, hình lá cây,… Tuy thế, đáng chú ý nhất là ở những di chỉ này, ta thấy xuất hiện những mô típ mới như hoa văn chấm tròn, hoa văn hình tam giác đối đỉnh nhau, hoặc ngược chiều nhau; tam giác tạo bởi một đường gãy khúc,… nghĩa là những mô típ mà rồi đây, trong những giai đoạn văn hóa sau, kiểu như Đồng Đậu, Gò Mun, sẽ tiếp thu. Ở đây cũng muốn nói thêm một chút nữa về di chỉ Phùng Nguyên. Có một điều rất đáng lưu ý là trong lúc các di chỉ khác, dù còn khai quật với một diện tích khá nhỏ nhưng cũng đã lần lượt tìm thấy vết tích đồng (đúng hơn là gỉ đồng), trong lúc đó, Phùng Nguyên đã khai quật đến 3800m2 mà cũng chưa hề tìm thấy một chút vết tích kim loại đồng nào. Nhưng căn cứ vào trang trí đồ gốm, chúng tôi thấy Phùng Nguyên gần gũi các di chỉ Xóm Rền, An Đạo,… hơn là so với Gò Bông. Tất nhiên trong việc nghiên cứu đồ gốm, di chỉ Phùng Nguyên có một khó khăn là gốm quá vỡ nát và hoa văn thường đã bị bong mất, nhưng trên những tài liệu còn lại đã cho chúng tôi một nhận xét như vậy. Ngoài ra, ở Gò Bông, thấy có một vài phong cách trang trí thường không gặp lại hay gặp lại rất cá biệt ở các di chỉ Xóm Rền, An Đạo, ví như phong cách “miết nhẵn trên nền đan” (1).

(1) Thuật ngữ này đầu tiên được Hán Văn Khẩn dùng trong báo cáo khai quật đợt 1 di chỉ Gò Bông – Luận văn tốt nghiệp đại học năm 1966 – Tài liệu lưu trữ ở Khoa Sử Trường đại học Tổng hợp.

Tóm lại, căn cứ vào trang trí trên đồ gốm, chúng tôi đã thấy rằng ở các di chỉ Xóm Rền, An Đạo, Nghĩa lập Gò Đồng Xấu, Đồn Nhân, Hương Nộn và có thể cả Phùng Nguyên nữa, biểu hiện mọi giai đọan phát triển muộn hơn so với Gò Bông.

Cũng Phùng Nguyên, nếu căn cứ vào phong cách trang trí chủ đạo của văn hóa này mà nói, là biểu hiện của một thời kỳ suy tàn của phong cách này cũng như sự nẩy sinh những yếu tố mới trong trang trí văn hóa, những yếu tố mà rồi đây, trong các giai đoạn phát triển văn hóa sau này, sẽ kế thừa và phát triển hơn lên. Để tiện sử dụng, chúng tôi tạm gọi nhóm này là nhóm Xóm Rền (xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh) vì về mặt trang trí hoa văn, đây có thể nói là di chỉ tiêu biểu cho những di chỉ trên và tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển mới của văn hóa Phùng Nguyên, so với Gò Bông.

Nhưng như trên đã nói, rất rõ ràng, nếu căn cứ vào trang trí đồ gốm nói chung và sự ổn định, phát triển đến đỉnh cao của phong cách trang trí mà chúng tôi cho là chủ đạo trong văn hóa Phùng Nguyên, thì một hệ quả có thể rút ra là trong văn hóa Phùng Nguyên, có một giai đọan phát triển trước Gò Bông, nay thuộc giai đọan sớm trước Phùng Nguyên? Căn cứ vào trang trí trên đồ gốm cũng như mối quan hệ với các giai đoạn phát triển sau văn hóa Phùng Nguyên trong tình hình tài liệu hiện nay có thể thấy được, chúng tôi cho rằng trong tât cả những di chỉ đã đựơc khai quật của văn hóa Phùng Nguyên, chúng ta khó có thể xếp bất cứ di chỉ nào vào giai đọan sớm của văn hóa Phùng Nguyên, giai đoạn trước Gò Bông.

Nhưng nếu như, các di chỉ phía bắc – bắc Lũng Hòa – có hai giai đoạn phát triển như vậy thì mối quan hệ củ mỗi giai đoạn đó và các di chỉ phía nam như thế nào?

Như trên kia đã nói, nhìn chung, tất cả các di chỉ phía nam – nam Lũng Hòa – khác xa với các di chỉ phía bắc nói chung. Trong tất cả các di chỉ đó, căn cứ trên trang trí đồ gốm đã bắt đầu có một bước suy thoái khá rõ rệt so với giai đoạn Gò Bông. Tuy thế, như trên đã nhắc qua một cách đại lược, trong một vài di chỉ miền Nam như Đồng Vông, Núi Xây, trên trang trí đồ gốm của nó – kỹ thuật trang trí của phong cách chủ đạo và cả các mô típ cụ thể như chữ S với tất cả các biến thể hình nấm,… - ta thấy có một sự gần gũi với di chỉ Gò Bông – cũng có nghĩa là gần giai đoạn Gò Bông – hơn các di chỉ khác. Điều đó cho phép chúng ta nên làm một giả định la có thể các di chỉ miền nam này biểu hiện một giai đoạn phát triển mới, muộn hơn Gò Bông mà những khâu đầu tiên của bước phát triển đó được đánh dấu bằng các di chỉ Đồng Vông, Núi Xây,… đương giữ được những mối quan hệ nhất định, tương đối chặt chẽ so với giai đoạn Gò Bông. Chính vì thế, Đồng Vông, Núi Xây… là những di chỉ điển hình cho bước phát triển mới này và cũng trên ý nghĩa ấy, chúng tôi đề nghị lấy Đồng Vông đặt tên cho giai đoạn phát triển mới này của các di chỉ nam Lũng Hòa. Có một điều đáng lưu ý là có một số di chỉ phía nam này, kể cả Lũng Hòa đã thấy xuất hiện những yếu tố của một giai đoạn phát triển văn hóa mới, khác với Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu. Chúng tôi cho rằng những di chỉ ấy – Lũng Hòa, Từ Sơn, Đồng Dền (lớp dưới) – chính là khâu cuối cùng của sự phát triển giai đoạn Đồng Vông, đồng thời là những khâu cuối cùng của sự phát triển của văn hóa Phùng Nguyên để rồi chuyển sang một giai đoạn phát triển văn hóa mới, - giai đọan Đồng Đậu. Và nếu như, đối với Gò Bông, giai đoạn Đồng Vông là một giai đoạn phát triển mới, thì đối với nhóm Xóm Rền, nó là một loại hình địa phương khác nhau trong cùng một văn hóa khảo cổ - văn hóa Phùng Nguyên.

Văn hóa Phùng Nguyên, trong quan niệm của chúng tôi, là thuộc phạm trù của thời đại đồng thau – giai đoạn đầu của thời đại này. Sự ổn định của tỷ lệ các hợp kim đồng, chì, thiếc trong các xỉ đồng tìm được ở Gò Bông so với Đồng Đậu và Gò Mun cho phép chúng ta nghĩ rằng con người Gò Bông đã vượt qua thời kỳ của những thí nghiệm ban đầu khi tiếp xúc với một chất liệu mới. Họ đã tìm ra một tỷ lệ ổn định và thích hợp với đòi hỏi của đời sống hiện thực. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đây chính là thời kỳ trải qua những biến động dữ dội. Đặc biệt ở các nước phương Đông, trong một điều kiện tự nhiên trù phú nhưng dữ dội, đây chính là thời kỳ chuẩn bị cho một bước nhảy vọt mới, thời kỳ tạo những tiền đề cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước cùng với chế độ xã hội có giai cấp, thậm chí như có người đã lưu ý, một số nơi đã thực hiện ngay bước nhảy vọt đó trong giai đoạn này. Sở dĩ chúng tôi nhắc lại điều đó là vì trong tình hình nghiên cứu hiện nay, có một số người muốn đưa giai đọan văn hóa Phùng Nguyên ra khỏi phạm trù nghiên cứu của giai đoạn này, được phản ánh qua di vật còn quá kém. Nhưng nếu như, về mặt phương pháp luận, thời kỳ Hùng Vương hiện nay được nghiên cứu theo tinh thần như một quá trình hình thành dân tộc và quốc gia đầu tiên của người Việt – và như vậy là đúng, thì trong tình hình tài liệu hiện nay, việc tách văn hóa Phùng Nguyên ra khỏi đối tượng nghiên cứu của quá trình đó là thiếu căn cứ. Văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa của một cư dân nông nghiệp đã có một đời sống vật chất tương đối ổn định và một đời sống tinh thần đã phát triển khá cao, và điều đặc biệt đáng chú ý là đến văn hóa Phùng Nguyên, ta thấy đã bắt đầu hình thành một truyền thống văn hóa riêng và sức mạnh của truyền thống đó đã tồn tại, tất nhiên với những phát triển mới, ở các giai đọan văn hóa sau. Điều này, sẽ trở lại trong một công trình khác, nhưng theo chúng tôi, đó là điều rất đáng lưu ý trong lúc nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên như nghiên cứu lịch sử Hùng Vương. Rõ ràng, trên vùng đất của trung du và đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay, cách đây khoảng 4000 năm – vùng đất Phong Châu cũ của các vua Hùng – đã hình thành một cộng đồng người khá chặt chẽ, dựa trên một sức sản xuất đã tương đối phát triển và trong những giai đọan văn hóa phát triển sau đó, cộng đồng người này vẫn tiếp thu những thành tựu của giai đoạn trước – giai đọan văn hóa Phùng Nguyên (1). Thật ra, việc tiếp thu những thành tựu văn hóa của các giai đọan trước là một điều tất nhiên nhưng nó chỉ trở thành một truyền thống ổn định khi nền văn hóa đó đủ sức mạnh để không bị các yếu tố văn hóa ngọai lai xâm nhập vào mà mất đi bản sắc riêng của chính mình. Việc tìm thấy những mô típ trang trí hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên ở các giai đoạn sau – trên đồ gốm Gò Mun hay trên đồ Đông Sơn – là một bằng chứng cho sự ổn định một truyền thống văn hóa như vậy. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa chúng tôi quan niệm truyền thống như một sự tiếp nối giản đơn một vài mô típ trang trí giản đơn, cụ thể nào mà chỉ muốn lưu ý là, rõ ràng, từ Phùng Nguyên, các văn hóa khảo cổ Việt Nam, trong quá trình phát triển vẫn có một cái gì biểu hiện một sự phát triển liên tục do sức sống nội tại của nó quy định và cơ sở của sự phát triển đó trong tình hình tài liệu hiện nay, có thể thấy nó hình thành tương đối đầy đủ ở Phùng Nguyên.

(1) Niên đại tuyệt đối của văn hóa Phùng Nguyên đang được tranh luận. Nhưng cho tới bây giờ, ý kiến của số đông các nhà nghiên cứu là khoảng từ đầu thiên niên kỷ thứ 2 đến hết nửa đầu thiên niên kỷ đó (- 2000 → 1500).

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Về khái niệm thời Hùng Vương: Thế nào và lúc nào là thời Hùng Vương? Thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều suy nghĩ, nhưng chưa có dịp ...

Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên qua tài liệu khảo cổ học Tới nay, trong khi nghiên cứu vết tích vật chất của thời kỳ Hùng Vương, ta thường ...

Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương: Những truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về các vua Hùng, từ lâu, mọi người đều đã biết (tuy chưa đầy ...

Vang Pao và ảnh hưởng của Chú SamPháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, đưa đến hiệp định Geneva.  Pháp rút lui dần khỏi địa bàn ...

Hợp tác với Pháp chống NhậtKhi nước Pháp bị Đức Quốc Xã cai trị vào năm 1940, quân Nhật liền chiếm đóng Đông Dương. Toàn quyền Decoux được Nhật để ...

Quân Cờ Đen và Miêu tộcNăm 1870, dư đảng của giặc Thái Bình ở Trung Quốc sau khi tràn vào Việt Nam, chia làm hai phe Cờ vàng ở Tuyên Quang và Cờ đen ở Lào-kay ...

Miêu tộc vào Việt NamTrước đấy từ năm 1815 đến 1818 đã có người Miêu chạy thoát đến cư ngụ ở Đồng Văn. Sau đó một nhóm tách ra di dân đến vùng bắc ...

Số phận vẫn còn bi đát: Năm 1616, người Mãn Châu là hậu duệ của nước Kim lại bắt đầu cường thịnh, Nỗ-nhỉ-cáp-xích quật khởi ở miền Liêu Ninh xưng ...

Chấm dứt một thời oanh liệtĐến năm 907, nước Tầu lại bị loạn lạc với thời kỳ Ngũ đại (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu) và Thập quốc (907 - 960), nhà ...

Về sau, nhiều nhà sử học đồng ý rằng trong thời cổ đại giống H'mông xuất phát từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia (Tây Bá Lợi Á), rồi ...