Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6

Ngày đăng: Thứ tư 15/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

1. Giai đoạn Phùng Nguyên, thuộc thời đại đồng, vào khoảng thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Còn chưa phát hiện được đồ kim khí.

2. Giai đoạn Gò Bông thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ 3 – đầu thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

3. Giai đoạn Đồng Đậu thuộc trung kỳ thời đại đồng thau, vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

4. Giai đoạn Gò Mun thuộc hậu kỳ thời đại đồng thau, vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ 2 – đầu thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên.

5. Giai đoạn Gò Chiền thuộc sơ kỳ thời đại sắt, vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên.

6. Giai đoạn Đường Cồ, thuộc sơ kỳ thời đại sắt, vào khoảng nửa cuối thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên cho đến những thề kỷ đầu Công nguyên.

Vấn đề “văn hóa khảo cổ” là một chuyện thời sự đang còn bàn cãi nhiều trong giới khoa học khảo cổ. Chúng tôi không gùng thuật ngữ này, không phải vì định nghĩa của nó chưa được thống nhất, vì thật ra bất đồng cũng tất nhiên thôi, bởi vì:

“Ở đây có thể có rất nhiều định nghĩa, bởi vì đối tượng có rất nhiều mặt.
Đối tượng phải định nghĩa càng phong phú bao nhiêu, nghĩa là càng có nhiều mặt phải quan sát bao nhiêu, thì những định nghĩa mà người ta thường cho nó càng khác nhau bấy nhiêu” (1).

(1) Lê-nin: Bút ký triết học. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.263.

Nếu như việc nghiên cứu thời đại đá phần lớn bắt buộc chúng ta không thể nào không dùng đến khái niệm cơ bản này của khoa học khảo cổ, thì bản thân việc nghiên cứu thời đại đồng và các thời kỳ sau đã tạo ra những khả năng phong phú và linh hoạt đối với việc nghiên cứu thời quá khứ; và một trong những khả năng sinh động đó là yếu tố chữ viết, đối với các xã hội cũ bước vào ngưỡng cửa của văn minh. Vì thế cho nên thời đại đồng ở Châu Âu thường được nghiên cứu theo các vùng văn minh của các giai đoạn phát triển, được gọi bằng các số La-mã I, II, III, IV, trong khi việc nghiên cứu xã hội nguyên thủy ở vùng nam Xi-bia trong thời đại đồng và sơ kỳ thời đại sắt lại được phân thành 5 văn hóa khảo cổ nối tiếp, khác hẳn nhau không những về văn hóa vật chất mà cả về thành phần nhân chủng. Trong khi đó, thì, ở Trung Quốc, thời cổ đại đã bước vào xã hội chiếm hữu nô lệ và sau đó là xã hội phong kiến sơ kỳ, cho nên việc nghiên cứu lại được tiến hành trên cơ bản theo cách phân kỳ của lịch sử: Hạ, Thương, Tây Chu, Xuân Thu, Chiến Quốc, Tần – Hán.

Trong việc nghiên cứu cụ thể về thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của ta, khái niệm văn hóa khảo cổ không thể nào đáp ứng được yêu cầu trừu tượng hóa và khái quát hóa đối với việc tìm hiểu lịch sử nước ta thời cổ đại. Về mặt nguyên tắc mà nói, thời kỳ này dù sao cũng là “thời kỳ các vua Hùng đã có công dựng nước”, mở đầu của 4000 năm lịch sử. Mặc dù chúng ta còn phải tiếp tục nghiên cứu nhiều và lâu hơn nữa những yếu tố lịch sử về sự tồn tại của thời kỳ này, hiện nay không thể nào không thừa nhận.

Trong thực tiễn công tác, chúng ta thấy rõ sự bất lực của việc vận dụng khái niệm nói trên vào trong việc khái quát tư liệu cụ thể. Về mặt địa tầng học, chúng ta thấy phần lớn các địa điểm khảo cổ học của ta thường là chỉ có một tầng văn hóa, ít có địa điểm nhiều tầng. Việc dùng khái niệm văn hóa khảo cổ đã buộc chúng ta phải khái quát sự phát triển theo thời gian của một tầng văn hóa khảo cổ, thành ra nhiều nền văn hóa khảo cổ, đưa đến một sự bất hợp lý không thể lý giải được. Và mặt tổng thể các hiện vật khảo cổ, việc dùng khái niệm này cũng không đáp ứng nổi yêu cầu. Nghiên cứu những hiện vật bằng đá, chúng ta còn khó tách bạch hiện vật nào thuộc rõ ràng về nền văn hóa nào. Chứng cớ cụ thể là, nếu những hiện vật bằng đá này do sưu tầm mà có thì khó mà xác định được nó có những đặc trưng chủ yếu nào đã thể hiện ra bằng một nền văn hóa chung, vì thực chất yếu tố thống nhất giữa chúng còn quá lớn, trong khi sự khác biệt về thời gian còn nằm ở phạm vi tiểu tiết mà thôi. Về mặt đồ gốm, thì ngoài gốm văn thừng Đường Cồ ra, hiện nay, nếu không có lý lịch, chúng ta cũng chỉ mới phân được chắc chắn sự khác biệt giữa các loại gốm có văn thừng của thời đại đá mới với các loại gốm có văn thừng của thời đại đồng, còn đi sâu vào xét gốm văn thừng nào là đặc trưng của tầng văn hóa thuộc thời đại đồng ở nước ta, thì không thể làm được. Điều này không phải vì tư liệu của chúng ta còn quá ít, mà vì gốm văn thừng là một đặc trưng chủ yếu của các nần văn hóa khảo cổ ở nước ta từ thời đại đá mới cho đến sơ kỳ thời đại sắt. Về mặt hình loại, chúng ta thấy có một sự thống nhất lớn từ đầu đến cuối của các loại hình dáng tròn, các loại “chân giò”, các loại bi, v.v… Nghiên cứu các loại hiện vật bằng đồng thau cũng khó có thể tách chúng ra thành những tổng thể riêng biệt của các nần văn hóa khảo cổ khác nhau. Rìu xéo cùng một đặc trưng thì sao lại là của hai văn hóa Gò Mun và văn hóa Đông Sơn? Dũa đồng cùng tiêu biểu như nhau, thì làm sao lại phân dũa Đồng Đền thuộc văn hóa Đồng Đậu mà dũa Việt Khê lại thuộc văn hóa Đông Sơn? v.v… Trước tình hình này, một số người có ý định đi tìm những đặc trưng tiêu biểu. Tất nhiên, nếu chỉ căn cứ vào các đặc trưng tiêu biểu cũng sai, nhưng nếu căn cứ vào đó mà khái quát như các loại gốm văn thừng, các loại hình đáy tròn, những loại chân giò, đũa đồng, rìu xéo, trống đồng, vòng trang sức bằng đá hình sống trâu… thì chỉ có thể khái quát thành một nền văn hóa Việt Nam độc đáo mà thôi. Dĩ nhiên, khái niệm văn hóa Việt Nam ở đây không còn là khái niệm văn hóa khảo cổ nữa. Khái quát thành các nền văn hóa khảo cổ nối tiếp nhau, chúng ta không làm nổi bậc được một thực tế khách quan về một truyền thống không thể phân tích, và một thực tế phát triển liên tục hơn là phát triển thay thế lẫn nhau.

Đứng về mặt lý luận mà xét, thì chúng ta thấy các nhà nghiên cứu chủ trương dùng khái niệm văn hóa khảo cổ cũng có những quan niệm không giống nhau đối với thuật ngữ này. Ở đây, chúng ta chưa bàn đến sự khác nhau trong vấn đề quan niệm, mà chỉ nói đến sự thống nhất giữa họ với nhau trong vần đề chủ trương mà thôi. Phân chia thành các nền văn hóa khảo cổ, nhưng các nền văn hóa này lại không đáp ứng được nội dung của khái niệm thời khảo cổ. Văn hóa khảo cổ trước hết phải bao gồm tổng thể những di tích và hiện vật khảo cổ trong cùng một thời đại. Điều này cũng là một yêu cầu tối thiểu của khoa học lịch sử. Văn hóa khảo cổ như đã phân chia thì lại thường bao trùm hai thời đại: văn hóa Phùng Nguyên từ thời đại đá mới sang thời đại đồng; văn hóa Đông Sơn từ thời đại đồng sang sơ kỳ thời đại sắt. Đó là điều bất cập thứ nhất.

Về mặt cộng đồng địa lý, các nhà nghiên cứu dùng văn hóa khảo cổ thường hay căn cứ vào sự phân bố của các đối tượng khảo cổ để xác định cho một phạm vi phân bố nhất định. Đó mới chỉ là một mặt của vấn đề. Còn ở đây chúng tôi xét đến nội dung lịch sử của nó, tức xuất phát từ lưu vực sông Hồng, cái nôi của văn minh dân tộc, mà xác định nhưng giai đoạn phát triển lớn của các cương vực được gọi là nước Văn Lang, mà hiện nay chúng ta có thể khảo sát được ở trên miền Bắc nước ta. Sự khác nhau này cũng lại là điều bất cập thứ hai trong việc dùng khái niệm văn hóa khảo cổ.

Có nhà nghiên cứu của chúng ta vì muốn gắn tài liệu khảo cổ với nội dung lịch sử, cho nên đã dùng tộc danh để gọi văn hóa khảo cổ. Về mặt lý luận, văn hóa khảo cổ không phải bao giờ cũng gắn liền với một tộc nhất định. Trong thực tiễn, khi nghiên cứu các giai đoạn trước thời đại đồng, sự trùng hợp giữa văn hóa khảo cổ và tộc thuộc tương đối mật thiết hơn. Từ thời đại đồng trở về sau, mối quan hệ này càng ít dần, và, theo chúng tôi, đối với những vùng đã bước vào ngưỡng cửa văn minh trong thời kỳ này, thì nhiều nơi không thể tiến hành nghiên cứu trong mối quan hệ với tộc thuộc được. Một khi đã hình thành nhà nước, thì đây cũng là quá trình hòa hợp và thống nhất các tộc theo một địa vực nhất định của một quốc gia cổ đại. Ở nước ta, việc phân thành các nền văn hóa khảo cổ không giải quyết được vấn đề nguồn gốc của các chủ nhân đã sáng tạo ra chúng. Điều bất cập thứ ba này cũng lại là điều quan trọng cần chú ý.

Chỉ riêng 3 điều bất cập về mặt lý luận nói trên cũng đủ để cho chúng ta không nên dùng thuật ngữ này trong việc khái quát hóa nội dung văn hóa thời này, và xét cả về 3 mặt: lý luận, thực tiễn và nguyên tắc, thì sự hạn chế của cách phân kỳ khảo cổ theo các nền văn hóa khảo cổ đã quá rõ ràng.

*
*     *

Phải chăng khi chúng tôi chủ trương không dùng khái niệm “văn hóa khảo cổ” mà nói đến giai đoạn, là chỉ có vấn đề từ ngữ? Và phải chăng hai khái niệm đó về thực chất là trùng hợp, cho nên, nói cho cùng ý kiến của chúng tôi chỉ còn khác kết luận chung của phần đông anh chị em ở chỗ chúng tôi phân biệt 6 chứ không phải chỉ 4 giai đoạn (mà cũng có thể gọi là văn hóa khảo cổ)?

Để trình bày cho rõ ý, chúng tôi xin trình bày gọn 3 vấn đề sau:

1. Tại sao chúng tôi lại tách đôi thành Phùng Nguyên và Gò Bông?
2. Tại sao chúng tôi lại tách đôi thành Gò Mun và Gò Chiền?
3. Tại sao chúng tôi lại không dùng thuật ngữ “văn hóa Đông Sơn” với tư cách là một khái niệm văn hóa khảo cổ?

1. Tại sao chúng tôi lại tách đôi thành Phùng Nguyên và Gò Bông?

Hiện nay có người nghiên cứu chia văn hóa Phùng Nguyên ra làm 3 giai đoạn, có người còn đang phân vân trong vấn đề chia 3, nhưng cũng có một số người chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn Phùng Nguyên và giai đoạn Gò Bông. Phương pháp phân loại, địa điểm cụ thể nào thuộc giai đoạn nào, mối liên quan giữa giai đoạn và loại hình… còn cần phải bàn cãi nhiều. Nhưng điểm mà chúng tôi muốn trình bày ở đây là: tại sao người ta lại gộp chúng vào trong một khái niệm văn hóa thống nhất, còn chúng tôi lại tách đôi? Lý do có thể như sau:

a) Còn cần phải nghiên cứu xem giai đoạn Phùng Nguyên đã thuộc vào thời đại đồng chưa, hay còn đang ở vào hậu kỳ thời đại đá mới, như nhiều người đã chủ trương. Chúng tôi liệt nó vào phạm trù nghiên cứu của thờ đại đồng, vì:

- Nghiên cứu cụ thể kỹ thuật chế tác đá qua những hiện vật bằng đá thuộc giai đoạn Phùng Nguyên. Chúng ta đều đi đến một sự nhất trí hoàn toàn về sự hoàn thiện của kỹ thuật này. Kỹ thuật chế tác đá được dùng rộng rãi trong việc sản xuất hàng loạt; kỹ thuật khoan ống đã đạt đến một trình độ thành thục, khiến cho người ta phải liên tưởng đến những sản phẩm được chế tác từ một mũi khoan bằng kim khí, tuy rằng ở giai đoạn này vẫn còn phát hiện được những mũi khoan bằng thạch anh. Bên cạnh các kỹ thuật thông thường, còn có thể có cả kỹ thuật tiện. Sự hoàn thiện của kỹ thuật chế tác đá chỉ có thể xảy ra trong thời đại đồng.

- Kỹ thuật làm gốm bằng bàn xoay đã được dùng phổ biến ở giai đoạn Phùng Nguyên. Ở nước ta, tuy bàn xoay đã được dùng từ thời đại đá mới, nhưng việc dùng nó rộng rãi và phổ biến phải là một trong những kết quả quan trọng của thời đại đồng. Một số hoa văn trên gốm với những đồ án tinh tế, tỉ mỉ bắt đầu xuất hiện; kỹ thuật nung gốm cao. Những điều này giúp chúng ta suy nghĩ trong việc đặt sự nghiên cứu về gốm Phùng Nguyên vào trong phạm trù của thời đại đồng.

- Trong thời đại đồng lòai người sống trong những điều kiện sinh họat có nhiều biến đổi mới do tác động của kỹ thuật luyện kim, làm ruộng tưới nước. Phải trong thời đại đồng lòai người mới có đủ điều kiện vật chất tối thiểu để làm chủ vùng đồng bằng, biến vùng tương đối lạc hậu ở thời đại đá, mới thành một vùng tiên tiến có tác dụng trung tâm để tiến bước vào ngưỡng cửa của văn minh. Theo những điều hiểu biết hiện nay, người ở giai đọan Phùng Nguyên, tuy không phải là những người đầu tiên cư trú ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nhưng lại là những người đầu tiên làm chủ vùng này.

- Về mặt kỹ thuật luyện kim, thì hiện nay chúng ta còn chưa phát hiện được một hiện vật kim khí nào trong các địa điểm thuộc giai đọan Phùng Nguyên. Tài liệu cũ trước kia có cho biết rằng, trong một số địa điểm khảo cổ học, có tìm thấy đồ đồng đỏ; nhưng những hiện vật này có thuộc về thời đại đồng đỏ hay không thì còn phải xác minh cẩn thận.

Tổng hợp những điều trình bày trên, chúng tôi chủ trương xếp giai đoạn Phùng Nguyên vào phạm trù nghiên cứu của thời đại đồng, mặc dù ở đó cho đến nay những phát hiện khảo cổ học chưa cung cấp cho chúng ta những hiện vật kim khí.

b) Trong các địa điểm khảo cổ học thuộc giai đọan Gò Bông, chúng ta đã phát hiện được đồ đồng. Những mảnh đồng, gỉ đồng ở Gò Bông qua phân tích quang phổ cho chúng ta biết, đó là những hợp kim của đồng – thiếc. Ở Lũng Hòa cũng có tìm được vài mảnh đồng. Ở Xóm Rền thì hiện tượng xuất hiện các vết gỉ đồng trong tầng văn hóa là chuyện không thể nào hòai nghi được nữa. Những đồ đồng phát hiện được ở Nghĩa Lập, tuy có chủ trương xếp nó vào di chỉ này, nhưng chúng tôi thấy khó làm thế được, vì người Gò Bông ở giai đọan này mới chỉ biết làm các hiện vật bằng đồng nhỏ, mỏng, không chịu được độ ẩm quá cao như ở nước ta, cho nên tuy gỉ đồng có mang tính chất bảo vệ, song những hiện vật này thường vẫn cứ bị gỉ nát, mủn, hỏng. Dù saoo, giai đọan Gò Bông cũng đã thuộc vào sơ kỳ của thời đại đồng thau.

Sự khác biệt giữa hai giai đọan Phùng Nguyên và Gò Bông không những là sự khác biệt về trình độ phát triển, theo với đà tiến triển của thời gian, một sự phát triển chỉ có tính chất niên đại, mà còn là sự khác nhau về tính chất: giai đoạn Phùng Nguyên thuộc thời đại đồng, nhưng còn chưa tìm ra được đồ đồng hay các vật kim khí nào khác; còn giai đoạn Gò Bông thì đã bước chắc chắn vào thời đại đồng thau. Muốn bước được vào thời đại đồng thau, nếu là quá trình phát triển độc lập, con người phải trải qua một quá trình mò mẫm, thực nghiệm, có khi đến hơn 2000 năm, “Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là làm theo những điều kiện nhất định, trực tiếp sẵn có, quá khứ để lại” (1).

(1) C. Mác và Ph. En-ghen: Tuyển tập (bản dịch của Nhà xuất bản Sự thật), Hà Nội, 1962, Tập I, tr.337.

Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của tổ tiên chúng ta đã bước vào giai đoạn phụ quyền, làm chủ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, làm ruộng tưới nước, phát huy vai trò tiên tiến của sản xuất nông nghiệp, tiến lên từ một quá trình của xã hội vừa là không có giai cấp vừa là xã hội có giai cấp. Đó là khối cộng động của những nhóm Lạc, những nhóm Âu và các tộc khác quanh chủ thể đó, đòan kết xây dựng nên “nước” Văn Lang, “nước” Âu Lạc, và sua này, trên một nền tảng phát trểin vững chắc, nó đã đặt cơ sở cho sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong suốt 1000 năm đấu tranh kiên cường chống giặc ngoại xâm. Đó là thời kỳ mở đầu của 4000 năm lịch sử, 4000 năm văn hiến của nhân dân ta.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương: Những truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về các vua Hùng, từ lâu, mọi người đều đã biết (tuy chưa đầy ...

Vang Pao và ảnh hưởng của Chú SamPháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, đưa đến hiệp định Geneva.  Pháp rút lui dần khỏi địa bàn ...

Hợp tác với Pháp chống NhậtKhi nước Pháp bị Đức Quốc Xã cai trị vào năm 1940, quân Nhật liền chiếm đóng Đông Dương. Toàn quyền Decoux được Nhật để ...

Quân Cờ Đen và Miêu tộcNăm 1870, dư đảng của giặc Thái Bình ở Trung Quốc sau khi tràn vào Việt Nam, chia làm hai phe Cờ vàng ở Tuyên Quang và Cờ đen ở Lào-kay ...

Miêu tộc vào Việt NamTrước đấy từ năm 1815 đến 1818 đã có người Miêu chạy thoát đến cư ngụ ở Đồng Văn. Sau đó một nhóm tách ra di dân đến vùng bắc ...

Số phận vẫn còn bi đát: Năm 1616, người Mãn Châu là hậu duệ của nước Kim lại bắt đầu cường thịnh, Nỗ-nhỉ-cáp-xích quật khởi ở miền Liêu Ninh xưng ...

Chấm dứt một thời oanh liệtĐến năm 907, nước Tầu lại bị loạn lạc với thời kỳ Ngũ đại (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu) và Thập quốc (907 - 960), nhà ...

Về sau, nhiều nhà sử học đồng ý rằng trong thời cổ đại giống H'mông xuất phát từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia (Tây Bá Lợi Á), rồi ...

Qua cuộc chiến Đông Dương và Việt Nam, sự liên hệ của các sắc tộc miền núi đã đóng một vai trò không kém phần quan trọng, thường được báo chí Tây ...

Nói theo ngôn ngữ chủng học, Việt Nam là một trong những cái nôi loài người, thì nền văn minh Việt Nam cũng là nền văn minh cổ nhất thế giới nói chung và ...