Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5

Ngày đăng: Thứ ba 14/10/2008 12:00:00 (GMT +7)

Những thế hệ nghiên cứu trước đây đã bế tắc hoặc gần như bế tắc trong việc xác minh thời kỳ lịch sử Hùng Vương của dân tộc ta, vì họ đã không tìm ra hoặc không nhận thức được các di tích văn hóa của người thời Hùng Vương. Ngày nay, tiếp thu những kinh nghiệm đời trước, nhưng không theo lối mòn xưa, chúng ta đã nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương bằng phương pháp tổng hợp nhiều ngành khoa học, trong đó lấy khảo cổ học làm cơ sở. Đề tài Quá trình phát triển và niên đại các nhóm di tích văn hóa thời Hùng Vương từ đó đã có tầm quan trọng rất lớn: có thể coi nó như là cái nền cho mọi sự suy nghĩ và tìm tòi những điều bí ẩn được phủ kín sau bức màn thần thoại thời Hùng Vương.

Từ khi bắt đầu và trong suốt ba năm qua, những người nghiên cứu sử học và nhiều ngành khoa học có liên quan đến việc nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương, đặc biệt là cán bộ khảo cổ học đã chú ý rất nhiều đến đề tài này, đến từng kết quả khoa học của nó. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đã được công bố hoặc giới thiệu theo nhiều hình thức khác nhau. Những buổi trao đổi ý kiến hoặc tranh luận sôi nổi thậm chí có lúc gay gắt những nhận định về quá trình diễn biến văn hóa, về niên đại của các di tích, đã làm cho đề tài khoa học này ngày càng được sáng rõ. Và đến nay, các ý kiến, nhận định đã có chiều hướng đi đến một sự nhất trí cơ bản.

*
*     *

Điều cần ghi nhận trước hết là, cho đến nay, mọi người – hay nói một cách cụ thể hơn, là tập thể nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương – đã có ý niệm chung là văn hóa thời Hùng Vương đã phát triển qua 4 giai đoạn lớn:

- Giai đoạn Phùng Nguyên;
- Giai đoạn Đồng Đậu;
- Giai đoạn Đông Sơn.

Ý niệm chung đó đã được xây dựng không phải chỉ từ những nhận thức tư liệu khảo cổ học theo những cảm giác trực quan so sánh đối chiếu vê trình độ văn hóa cao hoặc thấp của mỗi một giai đoạn, mà xuất phát điểm chủ yếu và quan trọng nhất là trong thời gian qua, các cuộc khai quật khảo cổ học đã phát hiện được nhiều hiện tượng các lớp đất văn hóa thuộc các giai đoạn văn hóa nói trên, nằm chồng lên nhau, theo một trình tự nhất quán và được lặp lại ở nhiều nơi.

Taị di chỉ Đồng Đậu - một di chỉ, thuộc thôn Đông Hai, xã Minh Tân, huyện Yên Lạc (Vĩnh Phú), đã được khai quật cả thảy 3 lần – trong 3 lần khai quật, với những người chủ trì đào khác nhau, đều nhất trí nhận định rằng tại đây có lớp đất văn hóa rất dày và về đại thể có 3 giai đoạn phát triển văn hóa nối tiếp liên tục. Dưới cùng là tầng văn hóa thuộc giai đoạn Phùng Nguyên; ở giữa là tầng văn hóa thuộc giai đoạn Đồng Đậu; và trên hết là tầng văn hóa thuộc giai đoạn Gò Mun.

Tại di chỉ Đồi Đà, thuộc thôn Cam Đà, xã Cam Thượng, huyện Ba Vì (Hà Tây), trong lần khai quật vừa đây với diện tích 500 mét vuông, cũng có hiện tượng các lớp đất nằm chồng lên nhau như ở Đình Chàng. Dưới cùng là lớp đất văn hóa thuộc giai đoạn Đồng Đậu, ở giữa là tầng văn hóa Gò Mun và trên hết là lớp văn hóa thuộc giai đoạn Đông Sơn.

Làm một sự đối chiếu các lớp đất chỉ ở 3 di chỉ nói trên - mỗi di chỉ nằm ở một tỉnh khác nhau, cách xa nhau hàng mấy chục kilômét, chúng ta có thể xét lập một sơ đồ niên đại:

- Sớm nhất là giai đoạn Phùng Nguyên;
- Thứ đến là giai đoạn Đồng Đậu;
- Sau nữa là giai đoạn Gò Mun;
- Muộn nhất là giai đoạn Đông Sơn.

Chúng ta lại còn có thể thấy những hiện tượng lớp đất chồng lên nhau ở một số di chỉ khác nữa.

Như tại di chỉ Vinh Quang – hay còn gọi là Quế Dương – (Hà Tây), trong 2 đợt khai quật đều đã xác nhận: ở những hố có tầng văn hóa nằm chồng lên trên nhau thì tầng văn hóa thuộc giai đoạn Gò Mun bao giờ cũng nằm dưới tầng văn hóa thuộc giai đoạn Đông Sơn.

Tại di chỉ Đông Sơn nổi tiếng, trong đợt khai quật gần đây nhất – đông xuân 1969 – 1970 – ta cũng đã tìm thấy những yếu tố văn hóa và cả những di tích, những ngôi mộ cổ thuộc giai đoạn Gò Mun nằm sát trên mặt đất cái của các hố đào và trên đó là lớp đất văn hóa, những di tích và di vật thuộc giai đoạn Đông Sơn điển hình.

Từ những phát hiện trên đây về mặt khảo cổ học, với những chứng tích rất cụ thể và phổ biến trên địa bàn rộng rãi suốt cả vùng trung du, một phần miền đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có thể coi nhận định trên về trình tự các giai đoạn phát triển văn hóa là một chân lý khoa học tuyệt đối về quá trình phát triển văn hóa thời Hùng Vương. Nó sẽ không bao giờ có thể bị đảo ngược hoặc bị bác bỏ, mà chỉ có thể được bổ sung thêm theo với những phát hiện mới về tài liệu và những nhận thức mới trong cách phân chia các giai đoạn phát triển văn hóa mà thôi.

Trong khi dần đi đến nhất trí về việc xác lập một sơ đồ các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương, tức cũng có nghĩa là về những nét lớn, giới nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương cũng đã có cách nhìn nhận, về đại thể, không khác nhau về đặc trưng văn hóa của các giai đoạn.

Theo nhận thức của chúng tôi, đặc trưng văn hóa của bốn giai đoạn lớn nói trên có thể khái quát trên những nét đại cương như sau.

*
*     *

Giai đoạn Phùng Nguyên.

Đây là giai đoạn xưa nhất trong quá trình phát triển văn hóa thời Hùng Vương. Theo hiểu biết hiện nay, nó bao gồm khoảng gần 20 địa điểm khảo cổ học, trong đó có di chỉ Phùng Nguyên – di chỉ được phát hiện đầu tiên về giai đoạn văn hóa này -, phân bố trên một địa bàn rộng lớn, bao gồm phần lớn vùng trung du và một phần vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung nhiều nhất ở chỗ hợp lưu giữa sông Hồng và sông đà, tại miền đất mà sử cũ gọi là Phong Châu thuộc địa bàn gốc của nước Văn Lang của các vua Hùng. Tuy nhiên, những di tích thuộc nhóm văn hóa Phùng Nguyên không chỉ đóng khung ở trong địa bàn đó, về phía đông người ta cũng đã thấy một số ít dấu tích của nó ở di chỉ Tràng Kênh, và cũng thấy nó ở lưu vực sông Cầu…

Các địa điểm khảo cổ học thuộc nhóm di tích này có một phạm vi khá lớn, thường lên đến hàng vạn mét vuông, thậm chí có khi lên đến hàng chục vạn mét vuông. Đó là dấu vết những làng cổ, cư dân khá đông đúc, quy mô đã khá lớn.

Những di vật đã được phát hiện trong các địa điểm thuộc giai đoạn văn hóa này, về mặt chất liệu, gồm các loại đá, gốm và xương. Đó là những loại rìu, bôn hình thang hoặc hình chữ nhật, những loại đục, dao, mũi tên; các loại đồ trang sức bằng đá như vòng khuyên, nhẫn; những loại mũi khoan, bàn mài… Đây là giai đoạn mà kỹ thuật làm các loại đồ đá đã đạt đến trình độ không tiền khoáng hậu. Đó là một trong những thành tựu nổi bật của giai đoạn này. Con người đã hoàn toàn làm chủ các loại kỹ thuật ghè đẽo, cưa, khoan, tiện, mài, đánh bóng đồ đá.

Đồ gốm cũng là loại hiện vật rất phổ biến trong các di chỉ thuộc giai đoạn này. Chúng ta có thể cử một ví dụ, như ở di chỉ Gò Bông, trong diện tích chưa đầy 200 mét vuông, người ta đã nhặt được trên 40.000 mảnh gốm vỡ. Điều đó, cũng đủ nói lên: đồ gốm đã là vật chất thông dụng của con người lúc đó. Và nghề gốm đã có quy mô khá lớn. Bàn xoay đã được sử dụng khá rộng rãi trong việc tạo dáng và tu sửa. Độ nung đã khá cao (từ 600 đến 700o). Và người ta cũng đã rất thành thạo về kỹ thuật nung, nên trong các di chỉ hầu như chúng ta chưa nhặt được đồ gốm phế phẩm nào. Một điều đáng chú ý nữa, là trên cơ sở đã hoàn toàn làm chủ kỹ thuật làm đồ gốm, con người thời Phùng Nguyên đã tạo cho đồ gốm của mình một phong cách riêng nổi bật, mà ngày nay chúng ta rất dễ nhận biết. Đó là loại gốm làm bằng đất sét pha cát mịn lẫn bã thực vật (thân thảo) – mà có nhiều người quen gọi là “gốm thô” – thành gốm mỏng, mặt ngoài thường trán một lớp men phủ nhẵn có khi bóng láng, màu hồng sẫm, hồng nhạt hoặc nâu. Đó là loại gốm mà đồ đựng, đồ nấu có số lượng nhiều nhất như các loại nồi, vỏ, bình, bát, loại chậu giống hình lẵng hoa. Ngoài ra có các loại khác như chân chạc - loại di vật rất độc đáo và phổ biến: dọi xe sợi, đạn tròn, tượng động vật – gà, bò. Đối với người thời Phùng Nguyên, đồ gốm, ngoài ý nghĩa thực dụng, nó còn là những tác phẩm nghệ thuật. Họ đã trang trí nhiều đồ án hoa văn rất đẹp bằng những nét gạch vẽ đơn giản, mà ngày nay chúng ta có thể thấy có mấy thể loại chính: loại trang trí thành từng dải với những kết cấu phức tạp trên nền chấm nhỏ lăn tăn có quét bột trắng, loại văn trang trí thành từng dải do những tổ hợp các kết cấu hình tam giác, hình chữ S nằm đứng nối tiếp, liên tục, loại văn hình tròn, hình mặt nguyệt, văn tam giác…

Từ phạm vi phân bố của các di chỉ, vị trí của nó đến loại hình, tính chất của các di vật, cũng như cả đến tư duy được thể hiện trên các hình tượng trang trí gốm, có thể khẳng định: hoạt động sản xuất chủ yếu của con người thời Phùng Nguyên là nông nghiệp. Họ đã định cư trên những địa hình thích ứng và thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp trồng lúa. Chúng ta cũng đã tìm thấy những chứng tích cụ thể về các hạt lúa trong một hố than bếp rất lớn tại lớp đất sâu nhất của di chỉ Đồng Đậu.

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, tất nhiên con người vẫn tiến hành các hoạt động khác như săn bắn, đánh cá – tùy theo điều kiện cụ thể của từng khu vực. Người ta cũng đã tiến hành các hoạt động thủ công khác: nghề làm đá, làm gốm. Ở một vài di chỉ như Gò Bông, Xóm Rền, Đồng Vông,… đã tìm thấy những cục gỉ và xỉ đồng thau. Như vậy nghề luyện kim và đúc đồng thau cũng đã không còn quá xa lạ đối với người thời Phùng Nguyên. Tuy nhiên cũng cần nói rõ thêm, cho đến nay, chúng ta chưa tìm thấy những hiện vật đồng thau nguyên vẹn của giai đoạn này. Những hiểu biết về nghề luyện kim thời Phùng Nguyên do đó còn hạn chế.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày những đặt trưng văn hóa chủ yếu của giai đoạn Phùng Nguyên - một giai đoạn, cho đến nay được quan niệm là sớm nhất trong quá trình dựng nước đầu tiên của dân tộc ta. Một điều có thể thấy được rõ ràng là: dân tộc ta khi bắt đầu bước vào thời dựng nước, xây dựng bản lĩnh cho mình, đã ở vào trình độ văn hóa không phải thấp. Và cũng chính từ đây, những mầm móng truyền thống văn hóa và lịch sử bắt đầu này nở, ổn định và liên tục phát triển qua các giai đoạn phát triển văn hóa kế tiếp sau đó.

*
*     *

Chúng tôi chuyển sang giai đoạn Đồng Đậu.

Giai đoạn Đồng đậu là giai đoạn thứ 2 – theo sự hiểu biết chung hiện nay - của quá trình phát triển văn hóa thời Hùng Vương. Giai đoạn văn hóa này chỉ mới được tập thể nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương xác nhận trong thời gian gần đây khi mà khảo cổ học tìm ra một số lượng tuy chưa nhiều lắm - khoảng gần 10 địa điểm – nhưng phân bố trên địa bàn khá rộng bao gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Nội, Hà Bắc. Như vậy về phạm vi phân bố của nhóm di tích này là có sự trùng hợp với nhóm di tích Phùng Nguyên, cũng thuộc vào khu vực mà nhân dân ta thường gọi là miền đất Tổ. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã gặp một số yếu tố, ví như nhữntg đồ án hoa văn trang trí trên gốm. Văn hóa của nhóm di tích này ở một số di chỉ vùng Bắc Trung Bộ, vùng hải đảo,…

Các địa điểm khảo cổ học thuộc nhóm di tích này cũng có phạm vi khá lớn. Người ta thấy ở đây có sự kế thừa truyền thống định cư của người thời Phùng Nguyên cũng như về các truyền thống sản xuất nông nghiệp.

Trong các di chỉ đã được khai quật, thuộc giai đoạn văn hóa này, vẫn gặp lại các loại rìu bôn hình chữ nhật, hình thang xinh xắn, gọn nhẹ, những loại đục, bàn mài, mũi tên; người ta vẫn thấy những dáng quen thuộc của đồ trang sức đá như các loại vòng tay, khuyên tai, nhẫn. Và cũng vẫn là những loại hình đồ gốm lấy đồ đựng, đồ nấu làm chính như nồi, bình, vò, bát, chậu hình lẵng hoa và những loại như dọi xe sợi, đạn tròn, những tượng thú vật, những kiểu chân chạc. Tất cả những di vật được nêu lên trên đây, cũng nói lên con người ở giai đoạn Đồng Đậu, về một mặt nào đó vẫn noi theo truyền thống kỹ thuật và cả trong phong cách, lối sống của người thời Phùng Nguyên. Nhưng đó mới chỉ là một mặt, một bộ phận không phải là tiêu biểu, là điển hình của văn hóa giai đoạn Đồng Đậu.

Trong các di chỉ thuộc giai đoạn này, đã thu lượm được nhiều loại hình di vật mới, và nhiều thành tựu mới về mặt kinh tế và văn hóa.

Một thành tựu được ghi nhận trước hết là ở giai đoạn này, kỹ thuật đúc luyện hợp kim đồng thau đã phát triển hơn trước và số lượng đồ đồng nhiều hơn, loại hình phong phú hơn. Trong tất cả các di chỉ thuộc giai đoạn này, đều thu lượm được ngoài các cục xỉ và gỉ đồng thau, còn có những khuôn đúc các loại rìu, mũi tên bằng đất nung, bằng đá, các công cụ, dụng cụ, vũ khí bằng đồng với hình dáng tương đối ổn định và chất lượng khá cao. Đó là những loại rìu hình chữ nhật, giáo hình búp da, dao phạng, bàn chải (có người gọi là đũa), mũi nhọn (hoặc mũi phóng), dao khắc, mũi tên, lưỡi câu, kim và dây nhỏ; trong đó, các loại mũi nhọn, mũi tên, lưỡi câu là loại phổ biến nhất và số lượng nhiều nhất.

Ngoài sự phát triển đáng kể của nghề luyện kim đúc đồng, đã tạo nên cho giai đoạn Đồng Đậu có một đặc trưng văn hóa khác hẳn với giai đoạn Phùng Nguyên, người ta còn thấy trên những vật dụng hàng ngày bằng gốm cũng có những thay đổi khá rõ, nhất là trong tạo dáng và hoa văn trang trí.

Những đồ gốm với xương mỏng nhẹ, dạng hình thon cao cân đối trong giai đoạn Phùng Nguyên đã không còn, mà xuất hiện một loại đồ gốm với xương tương đối dày, nặng, dạng hình bớt cao, chiều ngang dần lớn cùng với những đường gãy góc ở cổ, thân tương đối rõ ràng. Những thể loại hoa văn như những dải dài có nền bằng những chấm nhỏ li ti, những hình tam giác, hình chữ S nối tiếp liên tục vẽ bằng những nét gạch đơn thời Phùng Nguyên đã hầu như không còn nữa. Những thể loại hoa văn mới được vẽ bằng bút khắc vạch lớp (nhiều đường song song) như kiểu làn sóng, kiểu hình sâu đo nối tiếp, kiểu hình dây thừng bện, kiểu hình chữ S nằm uốn lượn, nối tiếp hoặc lồng vào nhau, kiểu những hình xoáy ốc, hình tam giác, chữ nhật, hình thoi, hình rải quạt,… chiếm địa vị chủ đạo trong phong cách hoa văn gốm giai đoạn Đồng Đậu. Chúng ta cũng còn thấy ở đây, người thợ gốm thường không dùng đơn điệu một kiểu loại nào, mà thường dùng nhiều kiểu hoa văn phối hợp làm tôn thêm sự phong phú của các đồ án hoa văn. Nhìn vào hoa văn gốm Đồng Đậu, người ta thấy có một phong cách phóng khoáng, uyển chuyển, gần với sóng nước mà không phải có một sự cân đối chặt chẽ như hoa văn gốm Phùng Nguyên.

Về đồ đá, ngoài những kiểu loại hiện vật thường thấy trong giai đoạn Phùng Nguyên, có một số dạng hình hiện vật mới được thể hiện tập trung nhất trên các đồ trang sức. Đó là các loại vòng tay cỡ lớn, nặng, được trau chuốt khá tinh vi. Đó là loại hoa tai có 4 núm, những hạt chuỗi hình gối quạ được làm rất công phu, tỉ mỉ.

Nhìn chung lại, trên góc độ văn hóa vật chất người Đồng Đậu về cơ bản có quan hệ gốc gác với người Phùng Nguyên. Họ đã kế thừa những truyền thống văn hóa xưa và đã phát triển thêm một bước cao hơn - thể hiện rõ rệt nhất là sự phát triển phổ biến của nghề luyện hợp kim đồng thau và sự phát triển của nghề gốm. Những đồ đồng thau lần đầu tiên được dùng vào việc săn bắn (mũi tên, mũi lao, mũi nhọn…) và bắt cá (lưỡi câu).

*
*     *

Sau giai đoạn Đồng Đậu là giai đoạn Gò Mun. Đây là giai đoạn thứ 3 trong quá trình phát triển văn hóa thời Hùng Vương.

Theo sự hiểu biết hiện nay thì đã có khoảng gần 20 địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn này. Trong đó, Gò Mun là địa điểm được phát hiện đầu tiên, tên nó hiện nay được dùng để gọi cho giai đoạn văn hóa này.

Cũng như các nhóm di tích kể trên, nhóm di tích Gò Mun nằm trong phạm vi của các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Bắc và Hà Nội, nhưng tập trung nhiều là ở nam Vĩnh Phú, và bắc Hà Tây, ven theo các sông Hồng, sông Cà Lồ, sông Cầu và đặc biệt là sông Đáy. Địa bàn đó cũng là sự trùng hợp với miền đất tổ Hùng Vương – theo như tục truyền của nhân dân và sự ghi chép củ sử cũ.

Chúng ta thấy ở giai đoạn này có những biến chuyển quan trọng. Trong các di chỉ, đã thu lượm được khá nhiều đồ đồng. Ngoài những loại như mũi tên, mũi nhọn, mũi giáo có họng tra cán, lưỡi câu, dây, kim đồng, bàn chải đã có các loại lưỡi hái, lưỡi rìu hình xéo. Có thể ghi nhận là đến giai đoạn này, công cụ bằng đồng thau đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp. Đó là một sự biến đổi rất đáng chú ý. Mặt khác, ở đây thấy xuất hiện lưỡi rìu xéo – tuy số lượng còn rất ít – nhưng nó đã báo hiệu cho sự hình thành một phong cách mới của đồ đồng thau mà đến giai đoạn phát triển văn hóa kế tiếp sẽ trở thành một loại hiện vật rất độc đáo và phổ biến trong nền văn hóa thời dựng nước đầu tiên của dân tộc.

Trong khi đồ đồng thau có những phát triển mới và lần đầu tiên được dùng vào sản xuất nông nghiệp đã phần nào làm cho vai trò của đồ đá cũng giảm đi. Trong các di chỉ khảo cổ thuộc nhóm Gò Mun, không những số lượng đồ đá đã có phần giảm, loại hình đã không phong phú như trước mà kỹ thuật làm đá có phần suy thoái. Những loại rìu, bôn, dục, vòng tay, khuyên, nhẫn, nhỏ nhắn, xinh xắn, nhẵn bóng của giai đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu hầu như không thấy. Mà chỉ còn các loại rìu đá, bôn đá làm có phần cẩu thả, trên mặt rìa thường vẫn còn lại những vết sẹo đá hoặc kích thước thường là cỡ trung bình. Đồ trang sức bằng đá cũng ít đi, xuất hiện loại khuyên tai có dạng hình vành khăn dẹt mỏng, được mài vát ở một rìa cạnh – mà về giai đoạn sau ngày càng trở thành phổ biến. Người ta cũng đã bắt đầu dùng đồng thau uốn thành những vòng đeo tay đơn giản.

Một sự phát triển quan trọng nữa của giai đoạn này là những tiến bộ và thay đổi lớn về nghề làm gốm và đồ gốm. Đồ gốm đã được nung với độ lớn khá cao, mà qua phân tích vật lý được biết là trên 800oC. Do thành gốm đã rất chắc liên kết chặt chẽ và không xốp, có lỗ hổng, như các giai đoạn trước. Mặt ngoài không nhẵn bóng do gốm ở giai đoạn này thường có pha các loại hạt đá được đập hoặc nghiền nhỏ. Đặc trưng kiểu dáng gốm Gò Mun là các loại đồ đựng, nấu, có miệng gẫy gập ra phía ngoài, và mặt trên của miệng được trang trí hoa văn. Người ta thấy ở đây nhiều thể loại hoa văn, tuy có khởi hình từ các giai đoạn văn hóa trước, nhưng được trình bày theo xu hướng hình học hóa cao độ với những đường rạch vẽ gấp khúc một cách dứt khoát, đã tạo nên một phong cách rất độc đáo. Ở đây có những đồ án hoa văn cơ bản như hình tam giác, hình bình hành, hình chữ nhật, hình tròn, hình chữ S và những hoa văn vẽ các hình thú vật như cá, chim.

Điều đáng chú ý là gần như toàn bộ thể loại và cách thức trình bày hoa văn kiểu hình học ở giai đoạn này đã được ứng dụng khá nguyên vẹn và có một vai trò khá quan trọng trong toàn bộ đồ án văn trang trí trên đồ đồng thau của giai đoạn sau đặc biệt là các hoa văn trên trống đồng loại 1 Hê-gơ, trên thạp, thố. Như vậy là cùng với nhiều đặc trưng khác, như sự xuất hiện của rìu xéo, sự hình thành các kiểu dáng nồi gốm có hình trống để ngửa, chúng ta có cơ sở để nghĩ rằng giai đoạn văn hóa Gò Mun là một bước chuẩn bị cho sự phát triển văn hóa rất rực rỡ của giai đoạn kế tiếp sau đó – giai đoạn Đông Sơn(1).

(1) Cũng có thể nghĩ rằng ngay từ cuối giai đoạn này, qua các di chỉ Gò Chiền, Vinh Quang, Đại Áng, lớp trên Đồi Đà, đã có sự phát triển đó. Trống đồng, thạp đồng có thể có những khởi hình ở ngay giai đoạn Gò Mun.

Xin trình bày tiếp đến đặc trưng của giai đoạn Đông Sơn. Đây là giai đoạn thứ 4, giai đoạn cuối cùng và là giai đoạn văn hóa phát triển cao nhất, rực rỡ nhất của quá trình phát triển văn hóa thời dựng nước đầu tiên của dân tộc ta.

Cho đến hiện nay, đã có thể thống kê được khoảng hơn 50 địa điểm thuộc nhóm di tích Đông Sơn. Trong đó có di chỉ Đông Sơn, một địa điểm khảo cổ nổi tiếng thế giới và đã được phát hiện sớm nhất trong nhóm di tích này.

So với các nhóm di tích nói trên nhóm này có địa bàn phân bố khá rộng lớn. Nó không chỉ thu hẹp ở trong vùng đất tổ, thuộc các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Nội và một phần Hà Bắc, mà đã trải rộng – có thể nói – gần khắp miền Bắc Việt Nam. Ảnh hưởng của nó cũng đã lan rất rộng. Người ta đã phát hiện những di vật có quan hệ rất mật thiết hoặc thuộc nhóm di tích này, ở các nước Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Mã-lai, Thái-lan, Cam-pu-chia, miền nam Trung Hoa. Tuy nhiên, địa bàn tập trung nhất và có thể địa bàn gốc của nó là ở dọc theo hạ lưu hai con sông lớn là sông Mã và sông Hồng. Như vậy là chỉ riêng về mặt phạm vi phân bố, chúng ta cũng đã ghi nhận một sự nhảy vọt lớn, có thể nói có tính chất biến đổi về chất của giai đoạn phát triển văn hóa này, mà nó đã được chuẩn bị từ giai đoạn Gò Mun trước đó.

Chúng ta cũng lại còn thấy trong giai đoạn này xuất hiện nhiều nhân tố văn hóa và kỹ thuật mới.

Đồ đồng thau cùng với nghề đúc luyện đồng thau đã phát triển đến đỉnh cao của nó. Trống đồng loại 1, các loại thạp đồng là những di vật thể hiện một cách tập trung nhất, cao độ nhất trình độ luyện kim cũng như trình dộ văn hóa và xã hội của người thời Đông Sơn. Nó đã làm cho thế giới kinh ngạc. Bên cạnh đó, nhiều loại hình đồ đồng thau mới được xuất hiện và ổn định thành một bộ di vật rất điển hình, rất độc đáo, thể hiện một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa dân tộc: đó là các loại rìu xéo (hình bàn chân, hình hia…), rìu xòe cân, rìu chữ nhật; các loại giáo (hình búp đa, hình lá mía, hình thoi có lỗ hoặc không có lỗ ở hai bên sống; đó là những lưỡi cày hình cánh bướm, hình trái tim, hình tam giác, những chiếc cuốc, chiếc mai, những đồ đồng hình thuổng, những loại dao găm, các tấm che ngực; đó là những loại đồ đựng như thố, thạp, thùng, bình, lọ, những đồ trang sức nghệ thuật các loại vòng đeo tay, các tượng thú vật: cóc, hổ, chim, chó, tượng người…, những nhạc cụ như trống, chuông, nhạc. Trên đồ đồng, người ta còn trang trí nhiều loại đồ án hoa văn khắc chìm, rất tinh vi. Ngoài những đồ án hình học phỏng theo những hoa văn trang trí trên đồ gốm thuộc giai đoạn Gò Mun, còn có rất nhiều hình tượng sinh động về các cảnh sinh hoạt, hội hè của cộng đồng người lúc đó.

Sự phát triển của kỹ thuật, sự tăng tiến về số lượng, loại hình và chất liệu đã dẫn đến sự mở rộng vai trò của đồ đồng thau trong đời sống sản xuất và chiến đấu của con người đương thời. Chúng ta đều thấy rất rõ trên mọi lĩnh vực hoạt động xã hội như trong sản xuất nông nghiệp (có các công cụ, các loại lưỡi cày, cuốc, mai, thuổng…), trong thủ công nghiệp (đục bẹt, đục một, đục găm, giáo, búa, tấm che ngực, mũi tên…) trong sinh hoạt hàng ngày, trong hội hè đình đám (trống, thạp, thố, bình, lọ, thùng, vòng tay…), đồ đồng đã được dùng rất phổ biến. Thậm chí, trong các ngôi mộ, đồ đồng cũng đã được đem chôn theo người chết với số lượng không ít.

Lúc này vai trò và tác dụng của đồ đá đã giảm đi rất nhiều. Những truyền thống kỹ thuật làm đồ đá rất tinh vi những giai đoạn trước hầu như đã bị mai một và lãng quên. Có chăng, nó chỉ còn được bảo lưu trên một số kiểu loại đã khá đơn điệu nhưng vẫn có phần trau chuốt của những chiếc vòng đeo tai mà thôi. Đây là một sự phát triển tất yếu khách quan và cũng vì vậy đã tạo cho bộ mặt văn hóa ở giai đoạn này một đặc trưng rõ nét.

Đồ gốm – một loại di vật gắn liền với sinh hoạt hằng ngày, tuy vẫn còn lưu giữ những truyền thống kỹ thuật xưa – đó là loại gốm có pha cát, có lớp men phủ, có văn thừng và chải – vẫn bảo tồn những loại hình cố hữu, quen dùng từ bao đời nay – như các loại đồ đựng, nấu, nồi, vò, bình, chậu hình lẵng hoa, bát, các loại dọi xe sợi, chân chạc – nhưng chúng ta đã thấy có biểu hiện xu hướng thực dụng rõ rệt những thể loại hoa văn trang trí tinh vi, và cầu kỳ trên gốm của các giai đoạn trước đều đã dùng để tô điểm cho dồ đồng thau, những chiếc trống, thạp, thố, rìu chiến, tấm che ngực, giáo, dao găm. Gốm ở giai đoạn này đều là loại gốm trơn, dáng thường thấp, miệng loe khum thành hình lòng máng, màu hồng nhạt hoặc trằng mốc – Đó là những nét rất dễ phân biệt với gốm của các giai đoạn trước.

Một sự phát triển khác có thể coi là có tính chất nhảy vọt ở giai đoạn này, là sự phát minh sáng chế và dùng đồ sắt. Trong những năm gần đây, ở một số địa điểm khảo cổ học như Đường Mây, Trung Mầu (Hà Nội), người ta đã tìm được nhiều mảnh vỡ của các công cụ sắt và cả những đồ sắt nguyên vẹn như đục, dao… Tại khu di tích Đông Sơn và một số nơi khác, cũng đã phát hiện thềm nhiều đồ sắt như các loại cuốc mai, búa, giáo v.v… Kết quả giám định bằng quang phổ, bằng phân tích hóa học cho biết đây là những đồ sắt được đúc rèn ở trình độ kỹ thuật đã khá phát triển.

Tuy nhiên, đây chỉ mới là những phát hiện, nghiên cứu, bước đầu và còn lẻ tẻ. Để có thể xác định một cách chắc chắn quá trình phát sinh, phát triển cùng tính độc đáo của nghề đúc, rèn, sắt thời Hùng Vương, hệ thống đồ sắt bản địa của thời Hùng Vương, rõ ràng chúng ta còn cần bỏ nhiều công sức suy nghĩ.

Có điều là, căn cứ vào sự phát triển nhảy vọt của địa bàn phân bố nhóm di tích này, sự tăng tiến nhanh chóng về chất lượng và số lượng của loại đồ đồng thau, cũng như sự phát hiện bước đầu của di vật sắt, chúng ta có cơ sở để suy nghĩ vào khoảng thời gian nào đó của giai đoạn Đông Sơn (tất nhiên không phải là cuối giai đoạn) nghề luyện sắt đã xuất hiện và nhanh chóng phát triển.

*
*     *

Trên đây, chúng tôi đã trình bày toàn bộ về quá trình diễn biến và phát triển văn hóa thời Hùng Vương. Rõ ràng là một quá trình phát triển liên tục. Mỗi giai đoạn phát triển ngoài những sắc thái riêng, đều mang trong mình những tinh hoa của giai đoạn trước và yếu tố tiền nhân của giai đoạn sau. Cừ mỗi giai đoạn phát triển, bộ mặt văn hóa càng phong phú và tiến bộ hơn. Cuối cùng, đến giai đoạn Đông Sơn thì đạt tới đỉnh cao và rực rỡ nhất của nền văn minh cổ đại Việt Nam. Và cũng chính trên cơ sở của sự phát triển liên tục đó, mà tính chất truyền thống ngày càng được xác lập vững chắc, nó tạo nên một sức sống mãnh liệt của xã hội và con người Việt Nam thời cổ. Đến đây, một vấn đề khác được đặt ra: vậy, quá trình diễn biến đó đã trải qua trong thời gian bao lâu? Mỗi giai đoạn bắt đầu từ lúc nào?

Diễn biến hoa văn trên đồ đựng thời Hùng Vương

Diễn biến kiểu dáng một số đồ gốm thời Hùng Vương

Câu hỏi này đã được đặt ra ngay từ khi chương trình nghiên cứu lịch sử thời Hùng Vương bắt đầu và có thể còn sớm hơn nữa. Đây cũng là vấn đề đã từng được nhiều người quan tâm, tìm tòi, nghiên cứu và chứng minh.

Cho đến hiện nay, các ý kiến còn có nhiều điểm chưa hoàn toàn giống nhau; và xem ra vẫn còn chưa thể thống nhất một cách nhanh chóng. Song, theo chúng tôi, không phải vì thế mà chúng ta không thể xác nhận được một điều gì.

Trước hết về niên đại khởi đầu của giai đoạn Phùng Nguyên (cũng tức là niên đại khời đầu cho quá trình diễn biến văn hóa): có ý kiến đáng lưu ý. Một ý kiến cho là từ 2000 năm trước Công nguyên và một ý kiến cho là từ 1700 năm trước Công nguyên. Ý kiến thứ nhất là một giả định, có phần dựa theo niên đại được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên về niên điểm khởi đầu của họ Hồng Bàng là năm Nhâm Tuất – 2874 trước Công nguyên. Ý kiến thư 2 căn cứ vào sự phát hiện những chiếc qua đá, giống những qua đồng thời nhà Thương (Trung Quốc) tìm thấy trong một số di chỉ thuộc giai đoạn Phùng Nguyên mà đề xuất. Cả hai ý kiến dù sao cũng còn cần được tiếp tục xác định thêm bằng những cứ liệu khoa học khác nữa. Có điều cả hai đều hoặc có sớm hơn hoặc có muộn hơn niên đại tục truyền 4000 năm một ít. Đó là điều có thể chấp nhận được.

Gần đây, nhờ sự hỗ trợ của các phương pháp khoa học tự nhiên (C14) chúng ta đã biết đến 2 niên đại ở 2 di chỉ ứng với giai đoạn này: niên đại 3328 ± 100 năm (cách ngày nay, tính từ năm 1950) của lớp dưới cùng của di chỉ Đồng Đậu – lớp này thuộc khoảng nửa sau giai đoạn Phùng Nguyên, và niên đại 3405 ± 100 của di chỉ Tràng Kênh – một di chỉ có những vết tích văn hóa của giai đoạn Phùng Nguyên. Chúng đều xác định một niên đại khái quát vào khoảng trên 3400 – 3500 năm. Hai di chỉ này, chưa phải là sớm nhất trong giai đoạn Phùng Nguyên. Từ đó, chúng tôi nghĩ rằng: niên đại khởi đầu của giai đoạn này là có thể khoảng trên dưới 4000 năm.

Về niên đại kết thúc quá trình phát triển văn hóa liên tục và độc lập này thì mọi người đã sớm nhất trí. Đó là vào khoảng thế kỷ thứ 2, thứ 3 sau Công nguyên. Ở những di chỉ và trong các ngôi mộ cổ vào khoảng thời gian này, người ta đã rất ít thấy những hiện vật mang phong cách giai đoạn Đông Sơn hoặc nếu có, thì đã chỉ là những vật thu nhỏ có tính cách tượng trưng, báo hiệu sự thay đổi theo một xu hướng phát triển khác. Bên cạnh đó người ta đã thu lượm được những loại hiện vật phỏng theo văn hóa Hán và những đồng tiền “ngũ thù” được đúc vào khoảng thế kỷ thứ 2, thứ 3. Hiện tượng văn hóa này có phần phù hợp với điều ghi chép trong sử cũ và đúng vào lúc này, nhà Đông Hán đã bắt đầu thi hành một chính sách đồng  hóa triệt để do 2 viên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang trực tiếp nắm.

Như vậy, quá trình phát triển văn hóa của 4 giai đoạn nói trên đã diễn ra trên 2000 năm. Nó đã bắt đầu rất sớm. Và nó hoàn toàn phù hợp với thời gian tồn tại mà tục truyền và sử cũ gọi là thời Hùng Vương – An Dương Vương. Về niên đại của các giai đoạn phát triển văn hóa, dựa vào số liệu do C14 cung cấp, chúng tôi bước đầu xác định như sau:

- Giai đoạn Đồng Đậu có thể được khởi đầu vào khoảng 1500 – 1400 năm trước Công nguyên; kết thúc vào khoảng 1200 – 1100 năm trước Công nguyên (C14 cho 2 niên đại có liên quan là 3328 ± 100 năm ở Đồng Đậu, 2070 ± 100 ở Vườn chuối).
- Giai đoạn Gò Mun có thể được khởi đầu từ 1200 – 1100 năm trước Công nguyên; kết thúc vào khoảng 800 – 700 năm trước Công nguyên (C14 cho một niên đại 3046 ± 120 ở Vinh Quang).
- Giai đoạn Đông Sơn có thể khởi đầu 800 – 700 năm trước Công nguyên (C14 cho một niên đại 2360 ± 100 năm ở Chiền Vậy).

*
*     *

Một số hệ quả:

1. Những ý kiến trước đây chủ trương nền văn hóa Đông Sơn có nguồn gốc từ một địa vực khác ngoài lãnh thổ miền bắc nước ta là hoàn toàn sai. Với những tài liệu khoa học mới được phát hiện đã xác định rõ ràng nền văn hóa Đông Sơn về phần cơ bản, bắt nguồn từ nhóm di tích Phùng Nguyên và nó dần dần được hình thành trải qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun.

2. Thời đại đồng thau ở miền bắc Việt Nam không phải chỉ bắt đầu từ mấy thế kỷ trước Công nguyên mà là từ hàng chục thế kỷ trước Công nguyên.

3. Thời đại sắt sớm cũng đã bắt đầu khá sớm ở miền Bắc nước ta (có thể vào khoảng những thế kỷ cuối của nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên), mà không phải chỉ đến đầu Công nguyên mới biết đến đồ sắt.

4. Với điều ghi trong Hậu Hán thư: “Mã Viện đã lấy trống đồng của người Lạc Việt để đúc ngựa đồng”, và sự phù hợp về phạm vi phân bố của nhóm di tích Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun với miền đất Phong Châu được Cựu Đường Thư chú là đất Văn Lang xưa, có thể nghĩ rằng những nhóm di tích nói trên chính là do con dân các Vua Hùng sáng tạo nên. Quá trình phát triển văn hóa đó cũng chính là quá trình phát triển văn hóa của “nước Văn Lang”.

5. Niên đại tục truyền 4000 năm lịch sử và điều chép “nước ta có 4000 năm văn hiến”, khởi từ Hùng Vương là có cơ sở khoa học.


Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Vang Pao và ảnh hưởng của Chú SamPháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, đưa đến hiệp định Geneva.  Pháp rút lui dần khỏi địa bàn ...

Hợp tác với Pháp chống NhậtKhi nước Pháp bị Đức Quốc Xã cai trị vào năm 1940, quân Nhật liền chiếm đóng Đông Dương. Toàn quyền Decoux được Nhật để ...

Quân Cờ Đen và Miêu tộcNăm 1870, dư đảng của giặc Thái Bình ở Trung Quốc sau khi tràn vào Việt Nam, chia làm hai phe Cờ vàng ở Tuyên Quang và Cờ đen ở Lào-kay ...

Miêu tộc vào Việt NamTrước đấy từ năm 1815 đến 1818 đã có người Miêu chạy thoát đến cư ngụ ở Đồng Văn. Sau đó một nhóm tách ra di dân đến vùng bắc ...

Số phận vẫn còn bi đát: Năm 1616, người Mãn Châu là hậu duệ của nước Kim lại bắt đầu cường thịnh, Nỗ-nhỉ-cáp-xích quật khởi ở miền Liêu Ninh xưng ...

Chấm dứt một thời oanh liệtĐến năm 907, nước Tầu lại bị loạn lạc với thời kỳ Ngũ đại (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu) và Thập quốc (907 - 960), nhà ...

Về sau, nhiều nhà sử học đồng ý rằng trong thời cổ đại giống H'mông xuất phát từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia (Tây Bá Lợi Á), rồi ...

Qua cuộc chiến Đông Dương và Việt Nam, sự liên hệ của các sắc tộc miền núi đã đóng một vai trò không kém phần quan trọng, thường được báo chí Tây ...

Nói theo ngôn ngữ chủng học, Việt Nam là một trong những cái nôi loài người, thì nền văn minh Việt Nam cũng là nền văn minh cổ nhất thế giới nói chung và ...

"Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ lĩnh làm cương giớị Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu ...