Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4

Ngày đăng: Thứ tư 27/08/2008 12:00:00 (GMT +7)

Việc này đòi hỏi một thời gian dài. Nay, ở Hội nghị Hùng Vương 4, phấn đấu tìm hiểu niên đại thời kỳ Hùng Vương theo hướng chủ yếu đó, đồng thời tiến hành điều tra điền dã, xét nghiệm hiện vật, đi sâu vào lý luận…, chỉ trong thời gian hơn nửa năm từ hội nghị chuẩn bị tổng kết đến hội nghị tổng kết này, chúng ta đã có một số bước tiến có thể đánh giá là quan trọng.

Dưới đây là những điểm đáng chú ý nhất:

1. Đúng trong buổi khai mạc hội nghị trước (1), chúng ta đã nhận được kết quả phân tích C14 của 3 mẫu than tro lấy từ các di chỉ được đoán định thuộc thời kỳ Hùng Vương: Tràng Kênh, Vườn Chuối, Chiền Vậy. Cũng như đối với 2 mẫu than tro đã được phân tích trước, có thể còn cần tranh luận và soi sáng nhiều khía cạnh, nhưng, về đại thể, kết quả xét nghiệm phù hợp với ước đoán của chúng ta từ trước: các di chỉ mà chúng ta cho rằng thuộc thời kỳ Hùng Vương quả thuộc những thiên niên kỷ thứ 2 và thứ 1 trước Công nguyên, và trình tự trước sau, và trước sau nhiều hay ít, là phù hợp với sự sắp xếp của chúng ta từ trước.

2. Chúng ta nhất trí nhận định rằng, dù cho rằng văn hóa Phùng Nguyên khởi đầu ở thiên niên kỷ thứ 3 hay thứ 2 trước Công nguyên, thì đó vẫn là mốc mở đầu lịch sử dân tộc ta, và mốc đó phù hợp với truyền thuyết về đất nước ta 4000 năm văn hiến. Khi lịch sử dân tộc bắt đầu như vậy, thì trình độ kỹ thuật và văn hóa của tổ tiên chúng ta đã là cao; phải đặt vấn đề tìm nguồn gốc cỗi rễ của văn hóa Phùng Nguyên, dù văn hóa đó còn thuộc thời đại đá hay đã bước sang thời đại đồng nguyên hoặc thời đại đồng thau, “Dấu Bắc Sơn” tìm thấy ở một số di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên có cho phép nối liền đầu và cuối thời đại đá mới trên đất nước ta chăng? Những văn hóa thuộc mọi giai đoạn của thời đại đá mới được biết ít nhiều từ trước, từ ven biển Quảng Ninh qua Đa Bút (Thanh Hóa) đến ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, có quan hệ gì với văn hóa Phùng Nguyên? Những di chỉ có thể coi như cùng thời, cuối thời đại đá mới đầu thời đại đồng, ở cách xa nhau, đã hẳn có thật cùng dạng văn hóa chung, và nếu dạng văn hóa gần gũi, thì dân cư những nơi đó có quan hệ với nhau ra sao?

Gắn liền với vấn đề này là vấn đề “văn hóa Sơn Vi”, phát hiện ở huyện Lâm Thao (Vĩnh Phú). Tất cả chúng ta chưa thừa nhận sự tồn tại thật sự của một nền văn hóa Sơn Vi: đá tìm thấy ở đó phải chăng là công cụ của người xưa? Nếu xác minh được, thì vấn đề quan hệ với văn hóa Phùng Nguyên có thể được đặt ra.

3. Hơn là sự phát triển văn hóa Phùng Nguyên, chính sự xác minh quá trình diễn biến văn hóa và lịch sử liên tục từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đông Sơn, ở hai thiên niên kỷ kề liền trước Công nguyên, chứng minh sự có thật của thời kỳ Hùng Vương trong lịch sử. Như vậy thì có thể gọi văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn là hai nền văn hóa, hai “văn hóa khảo cổ”, riêng biệt hay chăng? Không, đó thật sự chỉ là hai mốc, hai giai đoạn của cùng một nền văn hóa. Và giữa hai dạng văn hóa đầu và cuối của cùng một nền văn hóa đó, những dạng trung gian có thể phân biệt được càng không thể gọi là những văn hóa riêng biệt, mà cũng chỉ là những mốc, những giai đoạn trung gian của vẫn cùng một nền văn hóa.

Chúng ta biết, hiện nay, ở nước ngoài, nhất là ở Liên Xô, có cuộc tranh luận để định nghĩa và định nội dung của khái niệm “văn hóa khảo cổ”. Công tác lý luận đó có một ý nghĩa và một tác dụng nhất định, cả đối với đề tài nghiên cứu khoa học của chúng ta. Nhưng bởi chúng ta đã nhận thức được rằng khối tư liệu khảo cổ học mà chúng ta đã phát hiện được thuộc từ thời Phùng Nguyên đến thời Đông Sơn, tức thuộc một thời kỳ lịch sử thống nhất của một cộng đồng, thời phải nhận thức rằng những dạng văn hóa khảo cổ nối tiếp nhau trong khuôn khổ niên đại đó là biểu hiện vật chất cụ thể của những giai đoạn nối tiếp của cùng một thời kỳ lịch sử, thời kỳ Hùng Vương. Chúng ta không cần, thậm chí không nên sử dụng khái niệm “văn hóa khảo cổ” như quen dùng để nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, là một thời kỳ lịch sử có một nền văn hóa duy nhất, với những dạng khác nhau mà thôi.

Trong chúng ta, có những người chủ trương dứt khoát như thế, cho rằng phải bỏ hẳn khái niệm “văn hóa” và “văn hóa khảo cổ” để chỉ dùng khái niệm “giai đoạn” trong việc nghiên cứu quá trình diễn biến của thời kỳ Hùng Vương. Cũng có người nhấn mạnh tác dụng của khái niệm “văn hóa khảo cổ” chính trong sự nảy nở ra khái niệm “giai đoạn”, cho rằng vẫn có thể nói đến những văn hóa khảo cổ nối tiếp trong văn hóa dân tộc thời Hùng Vương. Hơn nữa, có ý kiến cho rằng tiếp tục dùng khái niệm “văn hóa khảo cổ” cho phép nghiên cứu chặt chẽ hơn, thuận lợi hơn, các giai đoạn của thời kỳ Hùng Vương. Hoặc có ý kiến từ những ý kiến trên tiến đến cho rằng bỏ hẳn khái niệm “văn hóa khảo cổ” là xa rời cơ sở khảo cổ học của việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, tức thiếu sự nghiêm túc khoa học. Những chiều hướng suy nghĩ khác nhau đó, thậm chí thoạt nhìn như mâu thuẫn với nhau (không phải chỉ trong sự dùng từ, những căn bản trong sự dùng từ), không thể che giấu thực tế quan trọng là toàn thể chúng ta thống nhất nhận định rằng: nghiên cứu những “văn hóa khảo cổ” nối tiếp nhau từ “văn hóa Phùng Nguyên” đến “văn hóa Đông Sơn” thật sự là nghiên cứu những “giai đoạn” nối tiếp của “thời kỳ lịch sử Hùng Vương dựng nước”.

4. Thời kỳ đó, chúng ta vừa đây lại tiến đến thống nhất được nhận định là gồm 4 giai đoạn, hay nói đúng hơn có thể coi như đã diễn biến qua 4 giai đoạn chính: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Có thể lưu ý rằng cách phân chia thành 4 giai đoạn này mang một tính chất nhất trí khá cao trong toàn thể cán bộ khảo cổ học: chủ trương chia ra những 6 giai đoạn, chỉ là muốn phân giai đoạn đầu và giai đoạn cuối mỗi giai đoạn chia thành 2 giai đoạn khác nhau; chủ trương chỉ chia ra 2 mốc chính thôi – 2 mốc rõ nhất, mốc đầu và mốc cuối -, với quá trình trung gian chia hay không chia coi như không quan trọng lắm, thật ra đều không phủ nhận sự nhìn nhận 4 giai đoạn đó, đều bao hàm – trái lại - trước hết có một giai đoạn đầu và một giai đoạn cuối rất rõ, sau nữa có những giai đoạn trung gian nhất định (trong đó có các giai đoạn Đồng Đậu và Gò Mun).

Một số bạn đã ra sức phác họa đặc điểm của từng giai đoạn. Thời gian tới, nên có sự cố gắng, nối liền chặt chẽ hơn nữa các móc xích: nêu bật quan hệ giữa đặc điểm thuộc cuối một giai đoạnn nào đó với đặc điểm thuộc đầu giai đoạn tiếp ngay sau; nói cách khác, cũng là nêu bật sự biến diễn của mỗi giai đoạn, mà đầu thì có quan hệ với cuối giai đoạn trước và cuối thì có quan hệ với đầu giai đoạn sau. Làm như vậy, là xác minh xem quá trình diễn biến văn hóa có thật liên tục suốt thời kỳ Hùng Vương chăng; đồng thời, cũng là tạo điều kiện để phát hiện xem quá trình biến diễn đó đều đặn, hoặc có những lúc trì trệ hay thúc gấp, đột biến, hoặc có xen vào chăng, trong những lúc nhất định nào, những yếu tố ngoại lai… Và rút cuộc, qua công việc đó, chúng ta cũng sẽ khẳng định được – hay không – là thời kỳ Hùng Vương, hay nói chính xác hơn, sự phát triên văn hóa thời đó, có thật chia được thành 4 giai đoạn lớn hay không.

5. Trong 4 giai đoạn đó, giai đoạn cần được tập trung sức soi sáng là giai đoạn cuối cùng, giai đoạn Đông Sơn, đỉnh cao của thời đại. Ở đây, chỉ xin nêu nhận xét về một mặt: đối chiếu với tài liệu chữ viết, phải chăng thời gian 18 vua Hùng truyền nối ngôi vua là từ đầu thế kỷ thứ 8 - thứ 7 đến giữa hay cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên? Có thể còn phải bàn cãi xem sau đó, văn hóa còn phát triển cao hơn nữa không, đặc biệt thời nhà Thục; nhưng điều đã có thể coi như chắc chắn, qua tài liệu khảo cổ học, là từ văn hóa Phùng Nguyên mà tiến lên, cuộc sống đạt một trình độ cao hơn tất cả thời gian trước đó.

Như vậy phải hiểu thời kỳ “Hùng Vương dựng nước” là thế nào? Bám sát lấy chữ nghĩa, thì dĩ nhiên phải nói rằng đó là và chỉ là thời gian gần 5 thế kỷ từ thời Chu Trang Vương cho đến thời Thục Phán, thời gian mà dân cư vùng sông Hồng, sông Mã, có người đứng đầu tự xưng là “Hùng Vương”, hay “Hùng”, tức vua. Song có thể nào có được thời kỳ đó mà không có cả quá trình diễn biến văn hóa từ thời Phùng Nguyên, có thể nào hiểu được thời kỳ đó mà không nghiên cứu kỹ cả khoảng một nghìn rưỡi năm phát triển lịch sử trước đó đưa đến đó? Cho nên cũng không cần thiết phải phân biệt thật rạch ròi: nước ta có 4000 năm văn hiến, 4000 năm lịch sử, nhưng chỉ gần 3000 năm nay thôi mới xuất hiện các Vua Hùng và nước Văn Lang, khi nền văn hóa Việt cổ bước tới đỉnh cao Đông Sơn. Không phải cứ thế mới là khoa học! Có thể gọi một cách rất bao quát cả thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta là thời kỳ Hùng Vương, với đỉnh cao của thời kỳ ở khoảng 5 thế kỷ giữa thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, khi đó đứng đầu đất nước có lãnh tụ cha truyền con nối với danh hiệu là Hùng và quyền bính nhà vua.

6. Không những có thể gọi là thuộc thời kỳ Hùng Vương thời gian trước khi có các Vua Hùng, từ đầu giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên cho đến thế kỷ thứ 8 - thứ 7 trước Công nguyên, mà cả giai đoạn sau khi các Vua Hùng không còn nữa, từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên về sau, cũng vẫn có thể coi là thuộc thời kỳ Hùng Vương. Sở dĩ có thể gọi như thế, là vì sự kiện nổi bật của thời kỳ dựng nước đầu tiên này là việc các Vua Hùng đưa dân tộc ta từ xã hội nguyên thủy bước sang xã hội văn minh, trên cơ sở một nền văn hóa nhảy vọt. Toàn bộ vết tích vật chất phản ánh quá trình văn học và lịch sử vĩ đại đó là một tổng thể tư liệu khảo cổ học thống nhất từ đầu văn hóa Phùng Nguyên đến cuối văn hóa Đông Sơn. Mà nền văn hóa thống nhất này không ngắt quãng với sự chấm dứt của nước Văn Lang, của các triều đại Hùng Vương ở thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, mà nối tiếp không ngừng đến khoảng thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, hẳn với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và cuộc đàn áp năm 43 của quân đội viễn chinh Đông Hán.

Thời kỳ văn hóa Đông Sơn sau các Vua Hùng còn nhiều điểm chưa rõ. “Văn hóa Đông Sơn” với “Văn hóa Đường Cồ” phải chăng là hai loại hình khác nhau của cùng một văn hóa khảo cổ, hai loại hình địa phương, với trung tâm một bên là lưu vực sông Mã, một bên là lưu vực sông Hồng? Hoàng Xuân Chinh và Chử Văn Tần đã từng nhấn mạnh sự phân biệt giữa “loại hình Thiệu Dương” (Cửu Chân) và “loại hình Vinh Quang” (Giao Chỉ) của văn hóa Đông Sơn, chung trên địa bàn nước Văn Lang, trùng hợp về căn bản với miền Bắc ngày nay. Nhưng Diệp Đình Hoa, Nguyễn Duy Tỳ và Trần Quốc Vượng thấy niên đại văn hóa Đường Cồ chỉ trùng với niên đại văn hóa Đông Sơn trong một chừng mực nhất định mà thôi - điểm này còn cần được soi sáng.

Song một điều đã rõ là văn hóa thời các Vua Hùng không thấy chuyển dạng trong thời gian lịch sử chuyển sang triều đại Thục, triều đại Triệu, và cả về sau nữa, dưới thời Tây Hán thống trị. Văn hóa Việt cổ có thoái hóa một bước, nhưng chưa rõ sự thoái hóa đó bắt đầu lúc nào: khi các Vua Hùng không còn nữa, hay trước đó hoặc sau đó một thời gian? Song thoái hóa một bước mà thôi, vẫn tồn tại. Hai Bà Trưng có thật thuộc dòng dõi các Vua Hùng, như truyền thuyết và sử sách nói, hay không, chúng ta chưa rõ, nhưng sự thật lịch sử là lạc tướng Mê Linh, ở thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, kế tục sự nghiệp văn hóa và cuộc sống văn minh Việt cổ, thời các Vua Hùng dựng nước đầu tiên.

Nói cách khác, công cuộc nghiên cứu khảo cổ học cho đến nay cho phép nhận thức rằng thời kỳ lịch sử từ giai đoạn Phùng Nguyên cho đến Hai Bà Trưng là một thời đại toàn vẹn, riêng biệt, thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của chúng ta, đã tự sáng tạo cho mình một nền văn hóa độc đáo của riêng mình, xây dựng cho mình một cuộc sống văn minh riêng, một bản lĩnh, một tâm hồn dân tộc riêng. Nền văn hóa đó, cuộc sống đó bị giặc ngoài ra sức hủy diệt thời Hán, nhưng không vì thế mà bị tiêu tan mai một. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng dấy lên mạnh mẽ vì dựa vào sức mạnh của 2000 năm dựng nước đầu tiên, kết thúc thời đại đó, cũng đồng thời mở đầu một thời đại mới vang dội tiếng gọi cứu nước bất khuất của mùa xuân năm 40 giữa khoảng sông Hồng núi Tản.

*
*     *

Ở hội nghị tổng kết 3 năm nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Nhóm Niên đại lưu ý đặc biệt 3 điểm cuối cùng này, là những thành tựu khoa học mới nhất ủa tập thể chúng ta. Lê Xuân Diệm, Diệp Đình Hoa và Lê Văn Lan được giao cho nhiệm vụ trình bày 2 trong 3 điểm đó. Còn điểm thứ 3 thì thuộc nội dung nghiên cứu của nhóm 6, là Nhóm có nhiệm vụ nghiên cứu thời kỳ An Dương Vương (và sau đó).

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng :Vua Hùng đã già bèn nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các Lang) ...

Dịch học họ Hùng ( 11/08/2008)

Dịch học hình tượng.Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính:Hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ...

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm ...

Tổng kết 3 năm: 3 năm nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương. 3 năm xây dựng ngành khảo cổ học. Chúng ta quyết tâm mở hội nghị tổng kết sau 3 năm, vì nhận thức ...

Phát biểu khai mạc. Thưa các đồng chí,Như cái tên của nó: Hội nghị lần thứ 4 nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương nói lên, đây là hội nghị lần thứ 4 của ...

Lời mở đầu: Trong 3 năm 1968-1970 vừa qua, đề tài thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương là thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc ta, mà nhân ...

Tiểu dẫn: Các tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước lần lượt công bố đại bộ phận văn kiện của những hội nghị khoa học được tổ chức liên tiếp trong ...

Lời giới thiệu: Với quan điểm nước Việt ta đã trải gần 5000 năm văn hiến, Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương chúng tôi đã không ngừng tìm tòi ...

Thành tựu mỹ thuật của người Việt cổ thời đại dựng nước qua những tác phẩm đồ gốm, đồ trang sức, đồ đồng, qua những hoạt động về tạo dáng, ...

Cuộc chiến tranh phù Lê diệt Mạc chấm dứt cuối năm 1592 sau khi con cháu triều Mạc chạy lên ẩn náu tại Cao Bằng. Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, cai trị ...