Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3

Ngày đăng: Thứ tư 27/08/2008 12:00:00 (GMT +7)

Thế nhưng, cách đây 3 năm, bắt tay vào nghiên cứu khoa học thời kỳ Hùng Vương, chúng ta phải xuất phát từ sự cần thiết phải chứng minh rằng đó là một thời kỳ có thật trong lịch sử, coi đó như một giả thiết công tác. Sở dĩ như vậy, chẳng phải chỉ vì đã có những học giả Âu Tây, với óc kỳ thị chủng tộc của họ, đã suy luận rằng, dù, trước khi tiếp xúc với văn hóa Trung Nguyên phương Bắc, vùng sông Hồng đã có những con người biết khẩn ruộng “lạc”, thì trình độ cư dân đ1o vẫn chỉ có thể gọi là “mông muội” mà thôi. Cũng chẳng phải chỉ vì, ở những vùng Mỹ ngụy còn tạm chiến ngày nay trên đất nước ta, có những tên lính của chiến tranh tâm lý, những học giả nông cạn và thiếu trách nhiệm, cũng đồng thời là chưa nắm hết phương pháp khoa học, đánh giá lịch sử cồ đại của dân tộc ta như một mớ chuyện hoang đường, chuyện “trâu ma rắn thần” như lời họ nói.

Chẳng phải vì thế. Chúng ta không hoang mang trước dấu ấn khoa học của những luận điểm xa lạ ấy đối với niềm tin lâu đời của nhân dân, dù đèo thêm vào đó lại còn có uy tín của nền bác học phương Tây, hay ngược lại của con người bản địa… Chúng ta vừa vì chia sẻ niềm tin của dân tộc, vừa vì khách quan khoa học, không thừa nhận những suy diễn chưa đủ sức thuyết phục của họ, đòi hỏi những lập luận khoa học vững vàng hơn.

Như vậy, không phải chỉ vì những H. Ma-xpê-rô hay vì những Nguyễn Phương mà chúng ta phải trở lại ngọn nguồn của ngọn nguồn, tự đặt cho mình nhiệm vụ phải chứng minh, trước tiên đã, thời kỳ các vua Hùng dựng nước không phải là một câu chuyện vu vơ. Sở dĩ chúng ta phải đặt mục tiêu hành động đầu tiên như thế, là vì, trước đây mươi năm thôi, dựa vào sử sách của người xưa để lại là chính, để xây dựng sự hiểu biết về thời các vua Hùng, thì quả là phải đắn đo. Quả là không thể khẳng định được một cách dứt khoát, một chiều, rằng, trước khi quân tướng nhà Tần, nhà Hán sang xâm lược vùng sông Hồng, sông Mã, cư dân vùng này đã thật sự có một cuộc sống cao, cao đến mức ta nhất định phải mường tượng rằng họ đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa và tinh thần huy hoàng, đã quy tụ trong một tổ chức xã hội đáng gọi là “nước”… Ấy là vì những điều đã được ghi chép từ lâu xưa về các vua Hùng phải nói là đã ít ỏi, lại khó tin cậy, khiến cho, dựa vào đó – mà trước đây chỉ có thể thế - để nói rằng thời kỳ Hùng Vương là có thật, thì đứng về mặt khách quan khoa học, là chưa có cứ liệu vững vàng. Cũng như, xin nói thêm ngay, cũng dựa vào đó để chủ trương ngược lại, khẳng định rằng thời kỳ Hùng Vương là không có, thì cũng không thể bảo rằng đã có cứ liệu!

Vậy sử liệu thành văn, chỗ dựa và nguồn gốc của mọi điều tranh luận trước đầy về các vua Hùng, có những gì? Sử liệu chính thức nhất, cũng có thể coi như cơ bản nhất, là Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, soạn thời Lê Thánh Tông, cuối thế kỷ thứ 15, tức cách khi sự việc đã qua (thời các vua Hùng chấm dứt ở thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên) ít nhất 17 thế kỷ. Sử Nguyễn, đến tận thời Tự Đức mới soạn xong, thì chẳng nói làm gì. Còn, nếu dựa vào Đại Việt sử lược khuyết danh mà nhận định và suy luận gì, thì cũng không thể không nhớ rằng sách đó không thể sớm hơn thế kỷ thứ 13 – 14, cũng cách sự việc đã qua khoảng 1.500 năm, không ít.

lại không phải chỉ có vấn đề năm tháng – tuy vấn đề năm tháng chỉ đặt ra như thế cũng đã đủ khiến cho ta phải nghĩ ngợi nhiều. Phải xét thêm thái độ của sử gia. Kể xong câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh thuộc cuối thời Hùng Vương, Ngô Sĩ Liên đánh giá sự việc coi như đã xảy ra là “thậm quái đản”. Lê Văn Hưu trước đó hơn 2 thế kỷ, trong bộ sử ký chép ở đầu Trần, nay đã mất, có thể đã bỏ hẳn thời kỳ này, không ghi, vì, theo Ngô Sĩ Liên, bộ sử của Lê Văn Hưu chỉ bắt đầu từ nhà Triệu. Nay Ngô Sĩ Liên có ghi (phải chăng dưới sức ép của dư luận đương thời?), nhưng nhà nho cũng không muốn bạn bè chê cười mình tin nhảm, hẳn là thế! Cho nên nhất định giải thích: tạm kể chuyện cũ, chẳng qua để truyền lại điều nghi hoặc. “Cô thuật kỳ cựu dĩ truyền nghi yên”. Hơn nữa, họ Ngô lại còn bình luận: “Tin thư bất như vô thư”. Tin sách thì chẳng thà đứng có sách: nói cách khác, sử gia đứng trên lập trường sử gia, nhận định điều có lý và điều vô lý, đã dặn rõ là không tin được…

Cũng còn phải lưu ý thêm: những sự việc gán cho đến 2000 – 2500 năm chỉ được ghi vẻn vẹn trong mấy hàng chữ. Những điều chi li ngày nay chúng ta còn nhớ và còn kể về thời các vua Hùng la do miệng kể tai nghe truyền lại điều nghi hoặc. “Cô thuật kỳ cựu dĩ truyền nghi yên”. Hơn nữa, họ Ngô lại còn bình luận: “Tin thư bất như vô thư”. Tin sách thì chẳng thà đừng có sách: nói cách khác, sử gia đứng trên lập trường sử gia, nhận định điều có lý vá điều vô lý, đã dặn rõ là không tin được…

Cũng còn phải lưu ý thêm: những sự việc gán cho đến 2000 – 2500 năm chỉ được ghi vẻn vẹn trong mấy hàng chữ. Những điều chi li mà ngày nay chúng ta còn nhớ và còn kể về thời các vua Hùng là do miệng kể tai nghe truyền lại, hay – cũng gần như thế - do có chép trong những sách như Việt điện u linh và Lĩnh nam chích quái. Trong Lĩnh nam chích quái, có chuyện họ Hồng Bàng được ghi như một đoạn lịch sử. Song, nói chung, đây không phải là những bộ sử, mà là những tập chuyện cổ tích được đặt trong những khung cảnh lịch sử, thực hư không dễ gì phân định được… Ấy là chưa kể đến niên đại những bộ sách nay: được viết đầu tiên từ Lý, từ Trần, nhưng dạng cuối cùng cũng chỉ là được truyền lại từ Lê thôi!

Một loạt sách Trung Quốc cũng có nói đến thời các vua Hùng (hoặc cũng có sách nói “vua Lạc”, hiệu vua trùng với tên ruộng). Phải coi những sách này như có một giá trị đặc biệt, vì nó sớm hơn sách Việt Nam; có cuốn được viết từ đầu thế kỷ thứ 5 hay cuối thế kỷ thứ 4. Nhưng như vậy, kể ra thì cũng cách những năm cuối của thời Hùng Vương đến hơn 6 thế kỷ… Ngoài ra, đây thường chỉ là những địa chí, ký sự, do quan lại hay những nhà du lịch viết ra, như để kỷ niệm, hoặc kể lại chuyện tai nghe mắt thấy, khôn sâu sắc, và đối với việc xưa cũ chẳng thể có gì là chính xác. Đó là, hãy coi như Giao Châu ngoại vực ký được dẫn trong Thủy kinh chú, cũng như Nam Việt chí được dẫn 2 lần trong Thái bình hoàn vũ ký, đều được chép lại không sai sót, suy suyển, trong khi tra thấy, với Ma-xpê-rô, rằng không hoàn toàn như thế…

Với chứng cứ chữ viết mỏng manh, hồ đồ như vậy, ta không ngạc nhiên gì khi thấy người đời nay muốn nói gì, tin gì, chủ trương gì về thời kỳ Hùng Vương, cũng đều được – hay không được - đứng ở phía quan điểm khoa học đơn thuần về sử học, là: có chứng cứ, hay không có chứng cứ?

Kể ra về chứng cứ, cũng còn những loại chứng cứ khác hơn là sử sách, - hay nói đúng hơn: truyền thuyết, vì thật ra sử sách tất cả các loại còn đến ngày nay chẳng qua đều là truyền thuyết được chép lại từ một thời gian mà thôi. Còn có phong tục, tập quán, lễ nghi, hội hè, thần tích, ngọc phả, cả đến tên núi, tên sóng, tên gò, tên ruộng… Nhưng loại vết tích này của thời xưa lại còn mơ hồ hơn nữa về mọi mặt, so với sử sách, mà chúng ta vừa phân tích vài nét giá trị sử liệu!

*
*     *

Trước đòi hỏi khoa học của thời đại, vấn đề Hùng Vương, với tình hình sử liệu như thế, phải coi như là bế tắc cách đây mươi, mười lăm năm. Thế nhưng từ năm 1958, chúng ta đã nắm lấy ngành khoa học khảo cổ từ trong tay người Pháp. Và, từ năm sau, năm khai quật đi chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, cách đền Hùng chưa đầy 10km, có thể nói rằng chúng ta đã nắm được bí quyết thoát ra khỏi được bế tắc. Nhưng phải nói rõ ngay: đấy mới chỉ là bí quyết tiềm tàng. Phải chờ cả một thời gian nữa về sau, chúng ta phát hiện được thêm những di chỉ khảo cổ khác nữa, tất cả đều nằm ở vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, sông Mã, đều thuộc cùng một hình dạng văn hóa (hay tương tự), tồn tại cùng một thời đại (hay tương đương); phải đến bây giờ mới dần nảy nở sự liên hệ giữa những tài liệu khảo cổ học này và thời các vua Hùng trong lịch sử.

Vấn đề đặt ra như thế nào trước chúng ta cuối năm 1967 đầu năm 1968, khi chúng ta bước vào nghiên cứu thời các vua Hùng, tức trước hết chứng minh sự có thật của thời kỳ? Chứng cứ viết thành chữ - sử liệu cổ điển – cùng mọi chứng cứ khác, đều có thể gọi là “tinh thần”, đã tỏ ra bất lực trong sự giải quyết dứt khoát vấn đề Hùng Vương. Trước đây, không ai nghĩ đến rằng có thể còn lại đến ngày nay vết tích vật chất của những thế kỷ xa xôi ấy. Song loạt di chỉ loại Phùng Nguyên này, chưa cần biết thuộc cuối thời đại đá mới hay thuộc đầu thời đại đồng (như bây giờ chúng ta tranh cãi), cũng chưa cần biết những cộng đồng người đã từng sống ở những địa điểm đó có quan hệ như thế nào với nhau, mà hãy cần xét niên đại của chúng. Vấn đề mấu chốt đầu tiên là vấn đề niên đại. Thoạt xét, chúng ta ước lượng có khác nhau; nhưng người cho là muộn lắm thì cũng cho rằng không thể cách ngày nay dưới 3000 năm, mà người cho là sớm lắm thì cũng cho rằng không thể quá 5000 – 5500 năm. Như vậy thì có một khả năng nhất định rằng đây là những dấu vết có quan hệ với thời các vua Hùng, mà thời điểm là ở những thời gian này: thiên niên kỷ thứ 2 và thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, cách ngày nay từ khoảng 4000 đến 2000 năm.

Nhà nghiên cứu sử tới nay thường coi, cùng với tài liệu viết, tài liệu khảo cổ học là sử liệu quan trọng nhất. Đối với các thời sơ sử như thời Hùng Vương, tới nay chưa tìm được tài liệu chữ viết đương thời mà chỉ được tài liệu chữ viết thời sau nói đến, thì tầm quan trọng của tài liệu khảo cổ học, của vết tích chính thời của các vua Hùng để lại, nếu có, lại càng to lớn. Nếu có vết tích của chính thời đó để lại, thì còn bằng chứng nào vững chắc hơn nữa nói lên rằng thời đó là có thật? Nhưng vấn đề là phải chứng minh cụ thể, không thể chỉ ước lượng chung chung, rằng có sự trùng hợp giữa niên đại của tài liệu khảo cổ học và thời điểm của các vua Hùng theo truyền thuyết và thư tịch.

Thật ra, thế còn chưa đủ. Có con người đã sống trên đất nước ta từ trước khi sông Hồng, sông Mã bị người Tần Hán dòm ngó, thì điều đó, tới nay có ai phủ nhận bao giờ đâu? H. Ma-xpê-rô, sử dụng tài liệu khảo cổ học lần đầu tiên năm 1916, đã cho rằng người Việt cổ có dùng rìu đá mài trong việc đồng áng và dùng mũi tên đồng để săn thú. Cư dân có, nhưng nếu trình độ chưa cao lắm, thì cũng không thể nói rằng đã có một thời kỳ Hùng Vương trong lịch sử nước ta.

Vì sao? Vì, dù ta chưa thể phân định chi tiết nào của truyền thuyết là xác thực, chi tiết nào là điểm trang, thêm thắt, nhưng tổ tiên ta, đời này sang đời khác, kể chuyện các vua Hùng, là kể về một thời kỳ văn hiến, nhân dân sống một cuộc sống đã cao, có làng nước, có kỷ cương quốc thống… Như vậy là, muốn khẳng định được rằng thời kỳ Hùng Vương là có thật, mà mới chỉ nói được rằng ông cha ta trước thời Bắc thuộc đã sống một cuộc đời tự lập, tự xây dựng được cho mình một nền văn hóa bản địa, thì chưa đủ. Còn phải nói được rằng cuộc sống đó, nền văn hóa đó, ít ra ở đỉnh cao, phải đã đạt một trình độ cao.

*
*     *

Vấn đề đặt ra như thế, nay hãy trở lại xét di chỉ Phùng Nguyên. Như đã nói, sau khi đã phát hiện di chỉ Phùng Nguyên, hơn 10 năm qua chúng ta đã tìm thấy ở khoảng lưu vực sông Hồng, sông Mã khoảng 90 di chỉ cùng loại hay gần, 90 di chỉ này, nếu được sắp xếp theo trình tự thời gian tồn tại trước sau, thì họp thành hình ảnh sinh động của một cuộc diễn biến văn hóa trên dưới 2000 năm, từ cuối thời đại đá mới đầu thời đại đồng, trải qua thời đại đồng tiến sang thời đại sắt sớm.

Di chỉ Phùng Nguyên thuộc loại sớm nhất. Từ trước thì, chưa nghĩ nó liên quan gì với các vua Hùng, khảo cổ học đã theo những phương pháp khảo cổ học mà nghiên cứu nó với các di chỉ cùng một niên đại, để tìm hiểu cuộc sống thời đó, gọi đó là nền văn hóa khảo cổ Phùng Nguyên. Nhưng từ sau đó, chúng ta đã nhận thức được rằng đây không phải là một cuộc sống riêng biệt nào của một cộng đồng người nào mà ta không biết được bằng cách nào khác là quan sát những vết tích còn để lại, không phải là một nền văn hóa khảo cổ thật sự, mà chỉ là dạng khởi nguyên, giai đoạn đầu tiên của cả một cuộc biến diễn văn hóa lâu dài.

Chúng ta đã cùng nhau nghiên cứu tỉ mỉ, cùng nhau tranh luận sít sao về lịch trình diễn biến này. Có thể phân biệt được những mốc tiến lên hay không? Nếu được, thì mấy nấc? Chúng ta vẫn còn phải tiếp tục bàn thêm, nghiên cứu thêm, nhưng một chiều hướng nhất trí đã rõ nét và ngày càng rõ nét. Toàn thể chúng ta đã nhất trí nhận ra có 4 nấc, 4 giai đoạn tiến hóa: giai đoạn Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu, giai đọan Gò Mun và giai đoạn Đông Sơn.

Song chúng ta cũng có nghĩ rằng có những giai đoạn trong những giai đoạn đó còn có thể phân chia ra thành những giai đoạn nhỏ hơn: 6 chứ không phải 4, chẳng hạn. Ngược lại, có bạn cho rằng chỉ nên phân biệt 2 mốc thôi, mốc đầu và mốc cuối, hoặc không phân chia chi hết, nên coi quá trình diễn biến đó là một thể thống nhất: ấy là văn hóa, là cuộc sống thời kỳ Hùng Vương; có thể đặt cho nó một cái tên nào đó, cũng có thể không cần. Cuộc sống trải hai nghìn năm ấy dĩ nhiên là đầu cuối có khác nhau, dĩ nhiên là có những dạng chuyển tiếp, những mốc bản lề. Ra sức nhận ra từng chặn đường tiến lên là một phương pháp dễ quan sát, và trong sự vận dụng phương pháp đó, ra sức phân biệt thật chi li nhiều chặng hay khái quát hơn, không phải làn quan trọng lắm. Không chia ra thành chặng cũng được; có thể chỉ cần nêu lên những mốc chuyển bản lề nào đó. Tìm hiểu, có nhiều cách, không phải chỉ có một; vấn đề chủ yếu là phải quan sát cho tinh tế, để nắm cho vững và phản ánh cho trung thành, quá trình diễn biến thực tế.

Còn gọi những chặng đường tiến lên đó là văn hóa, văn hóa khảo cổ hay giai đoạn, tuy có bạn còn nghĩ khác, thật ra cũng không có gì quan trọng lắm. Tất cả chúng ta hiện nay đều đã nhận thức dứt khoát rằng đấy là những  giai đoạn biến chuyển của cùng một văn hóa. Gọi là giai đoạn thì đúng và rõ; nên gọi là giai đoạn. Có thể, đứng về góc độ giáo khoa, đòi hỏi phải dùng thuật ngữ một cách chính xác. Song, nếu quen nhìn với con mắt khảo cổ học và dưới khía cạnh quan sát khảo cổ học mà vẫn gọi những giai đoạn đó là văn hóa hay văn hóa khảo cổ để nhấn mạnh phương pháp tư duy và nghiên cứu của mình, thì cũng không phải là điều sai lầm hay lẫn lộn cần phê phán về phương pháp khoa học hay thực tế lịch sử.

Điều cơ bản là chúng ta đã hoàn toàn nhất trí được với nhau về trình tự diễn biến văn hóa từ sau giai đoạn Phùng Nguyên là: trải qua những mốc như Đồng Đậu, rồi Gò Mun, tiến đến giai đoạn tột cùng là giai đoạn của văn hóa Đông Sơn.

Văn hóa Đông Sơn không phải do chúng ta phát hiện. Nhưng thành tựu to lớn, nổi bật của chúng ta trong 3 năm qua, là đã chứng minh, và chứng minh không thể chối cãi, rằng nền văn hóa rực rỡ đó không có nguồn gốc ngoại lai xa xôi nào, như những nhà khoa học nước ngoài, đối chiếu hiện vật có phần tùy tiện, thường gán ghép cho nó. Luận điểm nổi tiếng nhất, cũng là gần đây nhất, theo chúng ta được biết, ở nước ngoài, là của người Thụy Điển 0-lốp Yan-xe, truớc đây có làm cố vấn cho giặc Mỹ ở miền Nam: theo Yan-xe, phong cách đồ đồng ở Đông Sơn là phong cách của dân tộc Tô-kha-ra sống bên bờ Biển Đen ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên?

Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cao: dù bị thành kiến chủng tộc hạn chế óc sáng suốt, các nhà khoa học phương Tây, khi miêu tả, không khỏi lấy làm lạ và đã hết lời khen ngợi. Hay cũng có thể nói chính do không nghĩ rằng người bản địa đã sáng tạo nổi một nền văn hóa huy hoàng như vậy, nên họ đã không dè dặt trong những nhận định biểu dương. Tình hình đó miễn chúng ta phần nào phải chứng minh nhiều cái hay, cái đẹp, cái cao của những thế kỷ Hùng Vương trên đỉnh cao của thời đại.

Thật ra, văn hóa Đông Sơn còn cao hơn người phương Tây đã biết được trước đây? trống đồng loại 1 Hê-gơ chính thuộc văn hóa đó và con người Đông Sơn phải chỉ đã biết luyện đồng điêu luyện, mà đã dùng hết sắt, nắm vững kỹ thuật sắt, như những ngọn giáo đồng sắt đúc liền một khối đã tìm được cho thấy rõ.

*
*     *

Chúng ta đã vừa cùng nhau ôn lại nhận định cơ bản của chúng ta về vết tích vật chất cụ thể mà thời kỳ Hùng Vương để lại cho đến ngày nay, những nhận định này đã được thành hình trên những nét chủ yếu từ hai Hội nghị đầu tiên cuối năm 1968, đầu năm 1969, và từ đó tới nay được củng cố vững vàng hơn và phân tích chính xác hơn, rạch ròi hơn.

Những kết luận như vừa trình bày, là được đề xuất trên cơ sở của những cuộc quan sát và đối chiếu, nhận xét và đánh giá theo những phương pháp nghiên cứu khảo cổ học cổ truyền, có dễ dàng mang theo những yếu tố chủ quan. Ba năm qua, chúng ta đã phấn đấu tìm cách kiểm tra bằng những phương pháp khác nhằm tăng thêm sức thuyết phục của luận điểm nói trên và cũng tăng thêm lòng tin của chính mình. Cho nên đó là có dụng ý mà chúng ta đã trở lại khai quật thêm những di chỉ khi đào trước đây thấy hiện tượng có những tầng văn hóa chồng lên nhau, đã chú ý tìm tòi những di chỉ khác có thể có sự móc nối từ một dạng sinh hoạt này sang một dạng sinh hoạt khác. Bằng thực tế của những nơi đó, chúng ta có thể kiểm tra nhận định cơ bản của chúng ta về sự diễn biến văn hóa từ giai đoạn Phùng Nguyên trở đi la đúng đắn. Điển hình về mặt này, là công việc chúng ta đã làm ở di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú): di chỉ này đã được khai quật 3 lần, mỗi lần người chủ trì khai quật khác nhau. Sau tranh luận và kiểm tra, chúng ta nhất trí nhận định rằng lớp đất văn hóa rất dày ở đây gồm 3 giai đoạn phát triển văn hóa: từ dưới lên trên, tức từ trước tới sau, là giai đoạn Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu và giai đoạn Gò Mun. Ở Đình Chàng (Hà Nội) cũng như ở Đồi Đà (Hà Tây), mới đào năm ngoái và năm nay, thì ta đã thấy trình tự diễn biến là: giai đoạn Đồng Đậu, giai đoạn Gò Mun, giai đoạn Đông Sơn – mà ở dạng Bắc Bộ ta cũng gọi là Đường Cổ. Trở lại di chỉ Vĩnh Quang, nơi trước đây thấy cả yếu tố Gò Mun và yếu tố Đông Sơn - Đường Cồ, ta xác định được ở đây lớp đất Đông Sơn - Đường Cổ nằm trên lớp đất Gò Mun. Trở lại Đông Sơn, mà có người ngờ rằng thấy rõ nét quan hệ về sau với những vết tích thời Bắc thuộc mà chưa rõ nét quan hệ về trước, chúng ta vừa tìm thấy, dưới lớp đất mang những đặc trưng Đông Sơn điển hình, có những yếu tố văn hóa Gò Mun và cả những ngôi mộ cổ thuộc giai đoạn Gò Mun.

Diễn biến văn hóa Phùng Nguyên – Đông Sơn qua 4 giai đoạn theo trình tự đã đoán định bằng trí tưởng và suy luận đã được kiểm tra bằng thực nghiệm, cũng còn phải được chứng minh bằng sự phù hợp về niên đại. Chúng ta đã dùng phương pháp C14 để kiểm tra lập luận, 5 mẫu than tro được phân tích tới nay ở Cộng hòa dân chủ Đức đã về căn bản xác nhận những điều ước đoán của chúng ta về niên đại của những giai đoạn phát triển văn hóa đó. Đối với 2 mẫu mà chúng ta cho là thuộc cuối giai đoạn Phùng Nguyên, đầu giai đoạn Đồng Đậu, chúng ta ước đoán có thể cách ngày nay 3500 năm tính theo con số tròn, thì chúng ta được trả lời: Đồng Đậu (Vĩnh Phu 3328 năm và Tràng Kênh (Hải Phòng) 3405 năm, cả hai, đều tính so với năm 1950, với hai số trước sau 100 năm. Vườn Chuối (Hà Tây) được coi là cuối giai đoạn Đồng Đậu, cuối thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, thì có chất hữu cơ được định niên đại hủy diệt 3070 năm trước năm 1950, tức thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên, với sai số trước sau 100 năm, trong khi Vinh Quang (Hà Tây) được coi là đầu giai đoạn Gò Mum thì có niên đại khoảng cùng thời, tức là cũng phù hợp: 3046 năm trước năm 1950, với sai số trước sau 120 năm. Cuối cùng, mẫu Chiền Vậy (Hà Tây) mà chúng ta cho rằng thuộc giai đoạn Đông Sơn, trước khi chấm dứt thời kỳ các vua Hùng, tức phải có niên đại trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, thì được trả lời về niên đại là thế kỷ thứ 4 hay thứ 5: 400 năm trước Công Nguyên, với sai số trước sau 100 năm (2350 năm trước năm 1950).

Thế là phù hợp. Cuộc diễn biến văn hóa qua 4 giai đoạn, trình tự như thế: giai đoạn Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậum giai đoạn Gò Mun, giai đoạn Đông Sơn, trong khoảng 2 thiên niên kỷ về trước Công nguyên, mà chúng ta, qua sự quan sát di chỉ và di vật khảo cổ, đã nhận định được, nay đem kiểm tra bằng sự đối chiếu với thực tế của các lớp đất văn hóa ở một số di chỉ còn mang dấu vết của những thời gian chuyển tiếp và bằng sự phân tích C14 trên quá trình bán hủy theo chu kỳ, được xác định là chính xác về cơ bản.

Xét về thời gian, thế là phù hợp: dấu vết này là của thời các vua Hùng. Có thể nói thêm, rất nhanh chóng, rằng: xét về không gian, cũng là phù hợp. Địa bàn của văn hóa Đông Sơn chính là địa bàn mà sử sách nói về 15 bộ (hay bộ lạc) của nước Văn Lang và trung tâm xuất phát của văn hóa Đông Sơn, chính là vùng hợp lưu các sông Thao – sông Hồng, sông Đà, sông Lô, nơi văn hóa Phùng Nguyên đậm nét, nơi sử sách và truyền thuyết nhớ là đất tổ Phong Châu, trung tâm nước Văn Lang của các vua Hùng.

*
*     *

Thời kỳ Hùng Vương là có thật trong lịch sử: đó vẫn là thành tựu chính của chúng ta tới nay. Giả thiết công tác trong những năm từ 1967 đến 1969 đã có thể coi như trở nên chân lý lịch sử. Song trong 3 năm qua, chúng ta cũng đã vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học tổng hợp và rọi ánh sáng từ nhiều nguồn lên tài liệu khảo cổ học, chúng ta đã cố gắng giải quyết được một số vấn đề mấu chốt khác, đi sâu được một bước vào công cuộc tìm hiểu nội dung lịch sử, từng mặt cuộc sống thời các vua Hùng. Rõ ràng là khảo cổ học, giai quyết được vấn đề cơ bản: thời kỳ Hùng Vương là có thật, đã trả lai sức sống cho các nguồn sử liệu khác và tăng khả năng soi rọi lịch sử cho cả bản thân mình.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng :Vua Hùng đã già bèn nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua bèn ra lệnh cho các hoàng tử (các Lang) ...

Dịch học họ Hùng ( 11/08/2008)

Dịch học hình tượng.Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính:Hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ...

Trên mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm ...

Tổng kết 3 năm: 3 năm nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương. 3 năm xây dựng ngành khảo cổ học. Chúng ta quyết tâm mở hội nghị tổng kết sau 3 năm, vì nhận thức ...

Phát biểu khai mạc. Thưa các đồng chí,Như cái tên của nó: Hội nghị lần thứ 4 nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương nói lên, đây là hội nghị lần thứ 4 của ...

Lời mở đầu: Trong 3 năm 1968-1970 vừa qua, đề tài thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương là thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc ta, mà nhân ...

Tiểu dẫn: Các tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước lần lượt công bố đại bộ phận văn kiện của những hội nghị khoa học được tổ chức liên tiếp trong ...

Lời giới thiệu: Với quan điểm nước Việt ta đã trải gần 5000 năm văn hiến, Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương chúng tôi đã không ngừng tìm tòi ...

Thành tựu mỹ thuật của người Việt cổ thời đại dựng nước qua những tác phẩm đồ gốm, đồ trang sức, đồ đồng, qua những hoạt động về tạo dáng, ...

Cuộc chiến tranh phù Lê diệt Mạc chấm dứt cuối năm 1592 sau khi con cháu triều Mạc chạy lên ẩn náu tại Cao Bằng. Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, cai trị ...