Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2

Ngày đăng: Thứ sáu 08/08/2008 12:00:00 (GMT +7)

Cách đây 3 năm, chúng ta đã đề ra cho 3 năm qua những mục tiêu phấn đấu nhất định; nếu chúng ta thấy còn nên đề ra cho 3 năm tới, trong khung khổ của kế hoạch Nhà nước 3 năm 1971 – 1973, một số những mục tiêu phấn đấu khác, thì chúng ta phải kiểm điểm nghiêm túc việc đã làm được và việc chưa làm được trong 3 năm qua. Đã đánh giá những phương châm nói trên là tốt, cụ thể trong giờ phút này là phương châm “dứt điểm”, thì chúng ta phải quyết tâm theo đó mà làm, quyết tâm thật sự.

Tới nay, chúng ta đã phải đấu tranh, đấu tranh với nhau, ở mỗi bước đường đi lên. Đấu tranh thường xuyên để thành tâm đoàn kết hợp tác, để nghiên cứu khoa học nghiêm túc và kiên trì; đấu tranh để tập trung sức lực, thì giờ, nghiên cứu vấn đề Hùng Vương dựng nước là chính, suốt 3 năm qua; đấu tranh để làm việc theo kế hoạch, để dứt điểm, ngày nay. Chính vì phải đấu tranh, chứ không phải bằng phẳng, trơn tru mà chúng ta càng thấy rõ phải khắc phục cho được lối làm ăn tản mạn, tùy tiện, ít kết quả trước đây. Qua tranh luận và thực nghiệm, chúng ta ngày càng thấy rõ: không thể có cống hiến khoa học đáng kể nếu còn giữ nếp làm việc cũ, phản ánh của nếp sản xuất cá thể trong lĩnh vực khoa học…

*
*     *

Cách đây 3 năm, chúng ta đã chọn “thời kỳ Hùng Vương”, hay nói đúng hơn, “thời kỳ Hùng Vương”“thời kỳ An Dương Vương”, tức thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên, làm đề tài trọng tâm nghiên cứu khoa học trong kế hoạch 3 năm 1968 – 1970 của chúng ta. Khi đó, chúng ta không phải chỉ đã chọn một đề tài; chúng ta, thật ra đã chọn giữa hai chủ trương: đem khảo cổ học phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, hay tiếp tục khai quật và thảo báo cáo khai quật khảo cổ học, như vẫn làm trước đó một thời gian dài.

Trước đó, chưa nghĩ đúng về ngay nhiệm vụ, chức năng và lẽ tồn tại của khảo cổ học, chúng ta còn mắc cả một loạt lệch lạc khác. Thái độ đối với di vật lịch sử và văn hóa, về đánh giá chất lượng công tác và phẩm chất cán bộ, về nhận thức cái đúng cái sai, về tất cả những điều ấy, chúng ta đều chưa nhất trí. Tôi không nhắc lại đây những cái không hay đã xảy ra trên cơ sở một tình hình như vậy, những công sức bỏ ra không mang về kết quả tương xứng, những mâu thuẫn cá nhân cá nhân, cơ quan cơ quan, trên dưới dưới trên, những cái mà Thủ tướng đến với chúng ta trong một lúc đã có biến chuyển, đã vẫn phê phán nghiêm khắc để giúp chúng ta biến chuyển mạnh hơn.

Xuất phát từ một tình hình như thế, việc định đề tài nghiên cứu khoa học 3 năm trước đây của chúng ta đã có ý nghĩa của một cuộc vận động chấn chỉnh ngành.

1. Chúng ta đã chọn vấn đề Hùng Vương dựng nước, là để vận dụng tư liệu khảo cổ học góp phần khôi phục một giai đoạn quan trọng bậc nhất trong lịch sử nước nhà. Chúng ta lại đã chủ trương như thế giữa lúc chiến tranh chống Mỹ đang hết sức ác liệt. Chúng ta đã nêu cao, để động viên mạnh mẽ tinh thần nghiên cứu khoa học phục vụ cách mạng, những lời đậm đà tình cảm của dân tộc và nồng cháy tinh thần phục vụ cách mạng của Hổ Chủ tịch kính yêu trên đền Hùng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”.

Việc chọn đề tài khoa học của chúng ta cuối năm 1967 đầu năm 1968 như thế là mang tính chất một tuyên ngôn hành động; tuyên ngôn đó vạch ra một lối đi, không mới, nhưng quan trọng hơn là mới: đúng, và vì thế đầy hứa hẹn. Đó là đường lối khoa học phục vụ cách mạng, đường lối của Đảng trong khoa học, đáng lẽ không bao giờ được sao lãng, nhưng, trong thực tế, mải mê theo đuổi những giấc mộng khoa học hào hoa nào đó, chúng ta mới tới đó đã bẵng quên.

Được giác ngộ - hay, nói đúng hơn, được giác ngộ trở lại - nhiệm vụ và chỗ đứng của mình trước Đảng, trong cuộc sống, chúng ta cũng đồng thời, do một mối dây liên quan hệ quả rất tự nhiên, nhận thức được sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc.

Đã coi văn hóa, khoa học là một mặt trận, người chiến sĩ trên mặt trận này làm sao mà có được chiến thắng, có được thành tựu, nếu vũ khí không sắc bén? Luận điểm khoa học làm sao mà có được sức lôi cuốn, thuyết phục, nếu cơ sở khoa học không được xây dựng vững vàng? Khoa học có phục vụ được chính trị hay không, thiết thực phục vụ, nhất là khoa học xã hội, là ở chỗ nó có thật sự khoa học hay không.

Với ý đồ chính trị và khoa học đó, chúng ta vui mừng nhận định thấy đề tài Hùng Vương dựng nước đã chọn có khả năng vừa bồi dưỡng cho chúng ta quyết tâm phục vụ chính trị, vừa luyện chúng ta trong ý chí kiên trì lao động khoa học.

2. Chính vì thế mà chúng ta, hăm hở nghiên cứu tốt để phục vụ tốt, đã đồng thời mau chóng thấy được rõ những trở ngại phải khắc phục:

a) Trước hết, chúng ta buồn cười với cái vô duyên trước đó của những công trình nghiên cứu khoa học vội vàng, cẩu thả, tán rộng trên cơ sở của những cứ liệu cầu may, hầu như không sàng lọc, chỉnh lý, đối chiếu, phê phán. Chúng ta bất bình trước những thái độ ăn thua, giành giật nhau, găm tài liệu, giữ tủ, muốn hơn nhau không phải vì lao động trí tuệ cần cù hơn nhau, sáng tạo hơn nhau, có phương pháp hơn nhau, mà vì mau chân một bước trong khai quật, trong phát biểu, vì vớ được một di vật, một hiện tượng, một ý kiến cho là độc đáo…

b) Không tán thành những thái độ không đúng đó, chúng ta cũng không đành lòng trước tình trạng những di tích, di chỉ và di vật chưa được quý trọng đúng mức. Đặc biệt là chúng ta băn khoăn về tình trạng tài liệu khảo cổ học cũng là những di sản văn hóa và lịch sử của dân tộc bị phân tán, dễ mất mát, lẫn lộn, không gần gũi được… Khai quật phải thế nào, bảo tàng là thế nào, quy cách của báo cáo khảo cổ học, chế độ của nhà bảo tàng, những điều đó, không phải là tới đó chúng ta đã cho là ổn, nhưng tới đó chúng ta mới thật sự thấy là có vấn đề đáng suy nghĩ.

c) Đồng thời, tới đó chúng ta mới thấy rõ sự hạn chế của việc nghiên cứu khoa học riêng lẻ. Không hợp công sức lại, dễ gì làm chủ khối tài liệu khảo cổ học to lớn mỗi năm một ùn chất lên! Nói gì đến nghiên cứu khoa học tổng hợp, mang ánh sáng từ nhiều nguồn, từ nhiều ngành khoa học khác, kể cả những ngành kỹ thuật hiện đại, kể cả công việc khảo biện từng lời văn, từng nét chữ, đến soi rọi và trả lại sức sống cho những mảnh gốm, mảnh đồng vương vãi lại từ nghìn xưa! Đoàn kết, hợp tác, muốn thành công không có con đường nào khác.

Như vậy là, bắt tay vào nghiên cứu vấn đề Hùng Vương, chúng ta nhận định rất rõ rằng việc này thành công, thì cũng đồng thời là một bước xây dựng ngành tiến lên. Nghiên cứu có kết quả, tức là chứng minh rằng những yêu cầu chính trị và những yêu cầu khoa học đã đặt ra là chính đáng, là cần thiết, cùng lúc lại chứng minh rằng những biện pháp đã đề ra là đúng đắn, là hiệu nghiệm: giáo dục tư tưởng, sử dụng tư liệu, hợp tác khoa học.

*
*     *

Từ đó, chúng ta đã làm gì?

1. Chúng ta đã không ngại tốn công sức tranh luận nhau, trước hết, về khả năng nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương dựng nước như một thời ky lịch sử, để từ nay dứt khoát ghi vào chính sử nước nhà. Đây là dịp để chúng ta kiểm tra kỹ càng lại, không những hiện vật khảo cổ và một loạt những cứ liệu sử khác, mà cả những quan niệm tới đó mặc nhiên coi như không thể sai, về chức năng, nhiệm vụ, thậm chí ý nghĩa của công tác khảo cổ. Những cuộc bàn cãi đó được diễn ra dưới nhiều hình thức: hội họp, mạn đàm, nói chuyện tay đôi, thư từ riêng, gợi được ý thức về sức mạnh của hoạt động khoa học tập thể, về tinh thần phục vụ nhân dân, thật sự là một trường rèn luyện về nhận thức đối với bản thân khảo cổ học và thực chất của khoa học, cũng như về phẩm chất của con người trong hoạt động khoa học.

Cuộc đấu tranh này phải nói rằng rất gay go, gian khổ. Nếp quen. Quyền lợi... Thêm vào đó, là đã từ một thời gian, không mở rộng thư viện và đầu óc đón những luồng gió mới của khoa học hiện đại. Song cuộc đấu tranh không thiếu những giờ phút căng thẳng đó cuối cùng đã đưa đến một thắng lợi chung: sự nhất trí trong chủ trương tập hợp sức nghiên cứu vần đề Hùng Vương, lấy khảo cổ học làm chỗ dựa chính, nhưng vận dụng mọi cứ liệu chân xác có thể phát hiện và liên hệ. Dĩ nhiên chúng ta không tuần tự chờ mọi người được giải quyết xong xuôi tất cả các mắc mứu trong tư tưởng, trong quan niệm, mới khởi đầu công việc; chính việc làm cụ thể đầu tiên của số nhỏ người sớm có quyết tâm đi trước đã thôi thúc quá trình tiến đến nhất trí.

2. Một yếu tố đã thúc đẩy một cách quyết định tiến bộ của chúng ta, là sự khuyến khích của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Gần một năm trời phấn đấu dưới sự chỉ đạo của Đảng đoàn Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam đang đưa chúng ta nhích lại gần nhau từ những chân trời khá xa, thì, do đâu chúng ta không hay, Thủ tướng biết được những cố gắng của chúng ta và đã ngỏ ý muốn trực tiếp nhận xét, như lời Thủ tướng nói, chúng ta “làm ăn” ra sao. Dự hội nghị khoa học lần đầu tiên của chúng ta về vấn đề Hùng Vương, tháng 12-1968, Thủ tướng đã nói chung là tán thành việc làm và cách làm việc của chúng ta. Thủ tướng còn lên thăm đền Hùng và đến thăm đi chỉ Đồng Đậu đang trong quá trình khai quật. Khi chúng ta tiến hành hội nghị lần thứ 2 gần đền Hùng nhằm giỗ Tổ năm 1969, Thủ tướng đã viết một bài trên báo Nhân Dân biểu dương những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta và biểu dương những cố gắng của giới khảo cổ học đã chứng minh được nội dung lịch sử đáng tự hào của những truyền thống đó.

Những kết quả đầu tiên chúng ta đã thu được qua 2 lần hội nghị đầu tiên đã gây một niềm phấn khởi và tin tưởng lớn cho chúng ta. Chúng ta càng hết sức vui mừng, sau đó, thấy những luận điểm của chúng ta được các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đánh giá là có cơ sở vững vàng, được quần chúng hoan nghênh và do đó một phần nâng cao thêm lòng tự hào dân tộc, được đồng bào miền Nam quan tâm theo dõi, và được cả dư luận của giới khoa học nước ngoài cũng chú ý.

3. Chính với sự cổ vũ mạnh mẽ đó, chúng ta bước vào một giai đoạn sâu vào chuyên đề, nắm cụ thể lịch sử. Công việc này đòi hỏi nhiều nhẫn nại, kiên trì, nhiều ngày và nhiều đêm lao động không phải lúc nào cũng có những kết quả ngay, nhiều buổi tranh cãi có khi gần như chất vấn, bắt bẻ… Lại phải khép mình vào kỷ luật, tuy là tự nguyện nhưng cũng không thể không nghiêm ngặt, trong khi công việc thường ngày vẫn phải được đảm bảo đầy đủ. Được Viện Khảo cổ học bảo đảm công tác thường trực, chúng ta phân bổ nhau, cán bộ thuộc nhiều ngành khác nhau, vào 6 nhóm nghiên cứu, không kể nhóm tư liệu, 6 nhóm nghiên cứu là: Niên đại, Đất nước và con người, Kinh tế, Xã hội, Đời sống vật chất và tinh thần, Thời kỳ An Dương Vương trong quan hệ với thời kỳ Hùng Vương. Như vậy là chúng ta đã gộp làm một hai đề tài thuộc thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên, “Hùng Vương” “An Dương Vương”, quyết tập trung sức thêm một bước, hãy chỉ nghiên cứu vần đề chủ chốt, vấn đề “Hùng Vương”.

Một thời gian dài, từ đầu năm 1969 đến giữa năm 1970, chúng ta đã làm việc khẩn trương, phối hợp công lao nghiên cứu cá nhân, nghiên cứu nhóm, với mạn đàm nhóm, thảo luận rộng rãi. Hầu như cả năm trời không có tuần nào là không có sinh hoạt khoa học tập thể lớn nhỏ. Về từng điểm, chúng ta đã từng bước, tiếp cận chân lý. Song song với đi sâu suy nghĩ, chúng ta đã tìm tòi những phương pháp mới, dù chỉ mới đối với ta, vì chưa dùng đến, như C14, bào tử phấn hoa, quang phổ… Chúng ta khai quật thêm, đặc biệt là trở lại kiểm tra những nơi cư trú lâu đời, ở đó các tầng vết tích sớm muộn chồng chất, nghiên cứu thuận lợi, như ở Đồng Đậu, ở Vinh Quang, hoặc trở lại những địa điểm điển hình, hư Gò Mun, Đường Cồ, và cả Đông Sơn nổi tiếng.

Không phải là trong quá trình nghiên cứu khoa học tập thể dài hơi đó, không còn cơn sóng gió nào nổi lên nữa. Song ý thức tham gia xây đắp một sự nghiệp cao đẹp, lòng ham mê đạt được thành tựu khoa học, cống hiến chính trị, đã giúp chúng ta mau vượt những quãng đường trơn lầy. Chúng ta tự hào nhận thấy khoa học của nước nhà trưởng thành – không phải chỉ khảo cổ học mà đồng thời nhiều ngành bạn, cảm thấy bản thân mình lớn lên. Một trong những thử thách đáng kể nhất, là đấu tranh chống tự ái hão, xây dựng tinh thần thực sự cầu thị trước chân lý khoa học. Một thử thách khác cũng đáng kể, là đấu tranh nhằm làm việc có tính toán, trong kế hoạch. Chính vì những cuộc đấu tranh đó đều tiến đến thắng lợi, mà giữa năm ngoái chúng ta đã tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 3 nhằm chuẩn bị cho tổng kết hiện nay.

4. Ở hội nghị đó cũng như hiện nay, chúng ta không chủ trương khuyến khích nữa, như trước kia, ai có gì muốn nói cứ nói, để cùng nghe, cùng biết, cùng nghĩ. Quanh 6 vấn đề đã được đi sâu nghiên cứu và tranh luận, 6 bản báo cáo chuyên đề đã trình bày: cách đặt vấn đề, những điểm đã được soi sáng, nên làm gì tiếp? Yêu cầu chủ yếu không phải là nghe, không phải là phát biểu thêm, mà là trao đổi, bình luận, góp ý, có thể phê phán, bổ khuyết. Những cuộc tọa đàm phong phú, sôi nổi, bổ ích, như vậy là đã diễn ra, nhờ đó từng nhóm đã tranh thủ được nhiều nhận xét để thấy rõ hơn, trước hết, những phương hướng phải theo đó phấn đấu, để có được mà trình bày, bắt đầu từ hôm nay những bản báo cáo sâu sắc hơn, chính xác hơn, toàn diện hơn.

Chủ trương là như vậy: lần trước là chuẩn bị tổng kết và lần này là tổng kết. Thế nhưng, lần trước cũng như hiện nay, nhiều bạn cứ muốn phát biểu thêm… Chúng tôi đã phải đấu tranh khá găng - để khỏi lạc mục đích chủ yếu, là tổng kết. Cuối cùng, chúng ta đã đạt được mục đích.

Nhưng không phải là lần trước chúng ta không phần nào nhân nhượng đối với chiều hướng muốn phát biểu thêm đó. 4 – 5 chục bản tham luận thế là đã được trình bày thêm; riêng phần “nói thêm” này có thể là nội dung của một số hội nghị! Chúng ta lúc bấy giờ đã nhận nghe, theo tôi nghĩ, là đúng. Như thế, không phải chỉ là vì chúng ta chiếu cố một thói quen: cứ có hội nghị thì phải có tham luận, và kết quả hội nghị hay đo bằng số tham luận! Cũng không phải chỉ là vì chúng ta nể và kính nhiệt tình… Sự thật là lịch sử thời bình minh của dân tộc ta là một đề tài vô cùng phong phú; còn nhiều vấn đề phải được xới ra, đáng được xới ra, để 15, 20 năm tới chúng ta tìm soi sáng… Nguyện vọng của các bạn là chính đáng, và hội nghị cũng muốn được biết chúng ta, rất tiếc, nhưng không thể thỏa mãn nguyện vọng đó. Vì sao lần này? Đó là vì những chuyên đề được trình bày trên dưới một tiếng đồng hồ như trước, mà lần này mỗi chuyên đề gồm một hệ thống bài, cho nên 5 buổi dự tính cho hội nghị là chỉ vừa để các chuyên đề được trình bày, không có trao đổi ý kiến.

Như thế không có nghĩa là chúng ta coi như vấn đề đã được giải quyết suôn sẻ, nay chỉ còn cần giới thiệu. Chúng ta giới thiệu thôi ở hội nghị này; đúng. Nhưng chúng ta sẽ còn dành 3 năm tới cho việc hoàn chỉnh thêm một bước công trình nghiên cứu 3 năm qua mà chúng ta đang tổng kết. Tổng kết là để đánh dấu, không phải là để đóng cửa. Hàng chục công trình mà hội nghị đã nhận được, hay đã được hứa viết (nhiều công trình đó viết rất công phu, một số gồm đến 60 – 70 chục trang viết sát), là những bản gợi ý mới đâu tiên, rất quý báu, cho bước tiến mới sau đây của chúng ta.

*
*     *

Kết quả việc làm 3 năm qua của chúng ta nên đánh giá ra sao?

1. Nhìn trở lại 3 năm qua, chúng ta có thể hài lòng về việc đã làm. Chúng ta hãy không ngại thiếu khiêm tốn mà nhận định rằng đã hoàn thành được như mong muốn kế hoạch hoạt động khoa học: khẳng định thời kỳ Hùng Vương là có thật trong lịch sử và bước đầu đi sâu tìm hiểu những vấn đề mấu chốt nhất của thời kỳ. Do đó mà chúng ta đã góp phần bồi dưỡng niềm tự hào của dân tộc trong nhân dân, trong Nam ngoài Bắc, có thể tự coi như đã có ít nhiều đóng góp trong sự nghiệp cách mạng chung. Đồng thời cũng do đó mà chúng ta đã góp phần chứng minh đường lối của Đảng trong khoa học là đúng đắn, đã xây dựng ngành vững mạnh và đã khẳng định tác dụng của khoa học, đặc biệt khoa học xã hội, trong cuộc sống ngày nay.

2. Phấn khởi về việc đã làm được, chúng ta càng phấn khởi nhìn về tương lai. Phấn khởi vì 3 năm trước mắt, trên đà tiến lên hiện nay, chúng ta chắc chắn sẽ đánh dấu được một cách vững chắc, bằng một hệ thống những cuốn sách mà chúng ta đã có dự kiến biên soạn, bước tiến lên của chúng ta hiện nay trong việc  nghiên cứu xã hội Việt cổ, nghiên cứu thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Phấn khởi vì, với đội ngũ chúng ta hiện nay, gắn bó với nhau, được xác định ý thức và quan niệm về công tác khoa học, được rèn dũa phương pháp nghiên cứu và được nâng cao trình độ chuyên môn trong những ngày phấn đấu và lao động vừa qua, chúng ta tin chắc sẽ đáp ứng được mọi nhiệm vụ nghiên cứu nào khá sẽ được cáng đáng trong phạm vi lĩnh vực của chúng ta.

3. Thật ra, mọi điều kiện công tác chưa phải là đã hoàn toàn thuận lợi. Quy chế bảo vệ, sắp xếp, khai thác, sử dụng di sản vật chất của những thời đại đã qua – là đối tượng hoạt động của khảo cổ học, đòi hỏi phải được cải tiến, để tránh những tổn thất như vẫn xảy ra và để được tận dụng trong nghiên cứu khoa học. Yêu cầu phối hợp công tác đã được đề ra, nhưng chưa có quy định cụ thể, chưa có tổ chức rõ ràng bảo đảm cho sự hợp tác giữa các ngành, giữa các cơ quan, được tiến hành nghiêm túc. Chúng ta cũng còn mong mỏi được xây dựng những cơ sở xét nghiệm hiện đại mà những nhà khoa học thế giới ngày càng nhận thức được tác dụng trong khảo cổ học. Việc mở rộng nguồn tư liệu, trao đổi với nước ngoài, đặc biệt với các nước láng giềng và các nước vùng Đông Nam Á, nay được thấy rõ là cần thiết qua sự nhận định về vị trí của dân tộc ta ở vùng này ngay từ những ngày dựng nước xa xưa.

4. Mà về việc nghiên cứu thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của chúng ta, tuy chúng ta sung sướng thấy được chú ý, hay cũng có thể nói ngợi khen, thật ra chúng ta chưa có lý do để tự mãn. Rồi đây hội nghị sẽ vạch rõ, bên số điểm đã được soi sáng, còn bao nhiêu điểm khác còn phải được bước đầu soi sáng. Sở dĩ những kết quả bước đầu của chúng ta có gây ra đôi chút tiếng vang, đó là vì lòng nhân dân ta chung thủy, “uống nước nhớ nguồn”, là vì Đảng ta muốn dân tộc ta tiến lên chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ, cứu nước, với khoa học Mác – Lê-nin, mà cũng cả với 4000 năm văn hiến, là vì “đi tìm gia phả của dân tộc”, chúng ta đã cùng một dịp khám phá ra được nguồn gốc của “văn hóa Đông Sơn”, mà không thiếu những nhà bác học các nước coi là một điều bí ẩn của khảo cổ học và sử học thế giới.

Công lao của anh chị em chúng ta là lớn. Cũng không nên phủ nhận hay hạ thấp tài năng của anh chị em chúng ta, những con người thuộc một dân tộc thông minh và anh hùng. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thấy rõ thành công bước đầu của chúng ta có được tác dụng chính trị và tinh thần đáng kể như ngày nay, có do nhưng không phải chỉ do công sức và trí tuệ chúng ta. Muốn tiếp tục có cống hiến, tiếp tục nghiên cứu những thế kỷ dân tộc chuyển mình xây dựng nước, hay bước sang tìm hiểu một giai đoạn nào khác, một mặt nào khác của lịch sử nước nhà, chúng ta còn phải ra sức xây dựng ngành hơn nữa, bồi dưỡng bản thân hơn nữa.

 

Mời xem các phần khác:

 

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

 

Bài viết cùng chuyên mục

Lời mở đầu: Trong 3 năm 1968-1970 vừa qua, đề tài thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương là thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc ta, mà nhân ...

Tiểu dẫn: Các tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước lần lượt công bố đại bộ phận văn kiện của những hội nghị khoa học được tổ chức liên tiếp trong ...

Lời giới thiệu: Với quan điểm nước Việt ta đã trải gần 5000 năm văn hiến, Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương chúng tôi đã không ngừng tìm tòi ...

Thành tựu mỹ thuật của người Việt cổ thời đại dựng nước qua những tác phẩm đồ gốm, đồ trang sức, đồ đồng, qua những hoạt động về tạo dáng, ...

Cuộc chiến tranh phù Lê diệt Mạc chấm dứt cuối năm 1592 sau khi con cháu triều Mạc chạy lên ẩn náu tại Cao Bằng. Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, cai trị ...

Chung quanh ngôi nhà làng mái cong đồ sộ trang trí hình chim, hình gà, hình sừng trâu...gái trai già trẻ tụ họp đông đảo, tiếng trống đồng vang lên. Những âm ...

Qua những truyền thuyết đã phân tích và trình bày với bạn đọc, chứng tỏ rằng: Xã hội Văn Lang thời các vua Hùng có một nền văn minh đạt đến đỉnh cao ...

Voi chín ngà – Gà chín cựa - Ngựa chín hồng mao. Và cột đá thề của An Dương vương: Điều kiện mà vị hoàng đế cuối cùng của dòng họ Hồng Bàng – ...

Mở đầu cho truyền thuyết “Sơn Tinh Thuỷ Tinh” là một câu chuyện quen thuộc, đặt ra một mệnh đề lịch sử tiếp theo đó: ”Vào thời Hùng Vương thứ ...

Chuyện tình “Mỵ Châu – Trọng Thuỷ“ tác phẩm văn học bi tráng, phủ nhận chiến tranh, ca ngợi tình yêu con người.“Lịch sử là gì? Đó chỉ là những cái ...