Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12

Ngày đăng: Thứ tư 26/11/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tài liệu khảo cổ vùng đồng bằng cho đến nay tuy chưa nhiều lắm nhưng đã thể hiện những đặc điểm rõ rệt. Việc tổng hợp để phát hiện những đặc điểm rõ rệt. Việc tổng hợp để phát hiện những đặc điểm đó giúp nghiên cứu các tài liệu này cũng như rút ra quy luật cho việc phát hiện khảo cổ về sau là điều cần thiết, đặc biệt điều này có quan hệ trực tiếp với vấn đề khảo cổ học thời kỳ Hùng Vương và việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương nói chung.

Ở đây chúng tôi xin sơ bộ góp ý về ba vấn đề:

1. Mấy đặc điểm của tài liệu khảo cổ học ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam và vấn đề phát hiện đồng bằng khảo cổ ở đây.

2. Vùng đồng bằng Bắc Bộ với vấn đề phát hiện khảo cổ.

3. Về khả năng một phương pháp xác định niên đại các địa điểm khảo cổ học đồng bằng miền Bắc Việt Nam.

I. Mấy đặc điểm của tài liệu khảo cổ học ờ đồng bằng miền Bắc Việt Nam và vấn đề phát hiện khảo cổ ở đây.

1. Đặc điểm về mặt tự nhiên – phân bố.

a. Trên bề mặt đồng bằng cấu tạo bằng đất đá bở rời kỷ thứ tư chỉ có vết tích các giai đoạn từ văn hóa Bắc Sơn trở về sau, thuộc các thời đại đá mới và kim khí.

b. Quy luật chung là từ tây sang đông (theo hướng thẳng góc từ rìa núi đồng bằng đến bờ biển) niên đại các địa điểm khảo cổ ngày càng muộn dần.

c. Điều đó dẫn đến sự hình thành trong đồng bằng hai khu vực với đặc điểm khảo cổ học khác nhau:

- Khu vực đồng bằng phía tây gồm từ rìa núi đến dãy các địa điểm văn hóa hậu kỳ đá mới. Tại đây có đủ vết tích các giai đoạn từ văn hóa Bắc Sơn đến ngày nay.

- Khu vực đồng bằng phía đông gồm từ dãy các địa điểm văn hóa hậu kỳ đá mới ra đến biển. Tại đây chỉ có vết tích các giai đoạn văn hóa kim khí mà thôi.

d. Có mặt một loạt các di tích đống rác bếp (kjokhenmodding) ven biển cũ cấu tạo bằng vỏ ốc biển những đã ở rất xa biển, trong đó ở đồng bằng trung bộ các đồng thau loại này có niên đại vào hậu kỳ thời đại đá mới xếp thành một đường song song với đường bờ biển hiện nay nhưng ở xa đường bờ biển hiện nay về phía tây. Điều này chứng tỏ đồng bằng hình thành do bờ biển lùi dần và người xưa cư trú ven theo đường bờ biển lùi dần đó.

e. Tại vùng ven biển và biển nông tỉnh Quảng Ninh vết tích tìm thấy cũng chỉ thuộc các giai đoạn từ cuối văn hóa Hòa Bình – đầu văn hóa Bắc Sơn trở về sau. Trong các hang động ở vùng đảo đá vôi hiện nay tìm thấy các vết tích cư trú của người xưa với tàn tích thức ăn động vật lục địa và những sản phẩm, công cụ lao động nguồn gốc lục địa, chứng tỏ người xưa sống ở đây trong điều kiện lục địa, và vùng biển này mới thành lập về sau do vỏ quả đất vùng này sụt xuống và nước biển mới tràn vào.

2. Đặc điểm về mặt lịch sử.

a. Tài liệu khảo cổ học đồng bằng với những đặc điểm trên chứng tỏ ở miền Bắc Việt Nam con người, nghề bắt động vật nhỏ phát triển mạnh, chủ yếu là bắt đầu từ giai đoạn văn hóa Bắc Sơn. Ở vùng ven biển Quảng Ninh có thể bắt đầu sớm hơn một chút – từ cuối văn hóa Hòa Bình – đầu văn hóa Bắc Sơn.

b. Một bước ngoặc trong lịch sử nguyên thủy: với sự di cư xuống đồng bằng của con người, nghề bắt động vật nhỏ phát triển mạnh, chủ yếu là bắt ốc, rồi nghề đánh cá thực sự ra đời và phát triển mạnh, muộn hơn một chút là nông nghiệp thực sự ra đời và phát triển mạnh.

c. Quá trình phát triển ở đồng bằng xảy ra liên tục, nhanh, tự tại. Nông nghiệp phát triển mạnh từ hậu kỳ thời đại đá mới, từ đây thực sự bắt đầu công cuộc khai phá đồng bằng cho nông nghiệp.

3. Quy luật phát hiện khảo cổ ở đồng bằng.


Những đặc điểm tài liệu khảo cổ học nói trên kết hợp với nhiều tài liệu khác (địa chất, địa mạo v.v…) chứng tỏ rằng các đồng bằng miền Bắc Việt Nam chỉ mới thành lập dần dần từ giai đoạn việt nam Bắc Sơn (ở vùng ven biển Quảng Ninh – từ cuối ch Hòa Bình – đầu văn hóa Bắc Sơn) về sau. Do đó:

a. Trên mặt các đồng bằng chỉ có vết tích của tràng kênh văn hóa Bắc Sơn trở về sau, các địa điểm sẽ có niên đại muộn dần từ tây sang đông (từ núi đến biển).

b. Tồn tại 2 khu vực trong đồng bằng với các đặc điểm khảo cổ học như đã nói trên, ở khu vực phía đông giáp biển chỉ có vết tích giai đoạn kim khí mà thôi.

c. Ở vùng ven biển Quảng Ninh có thể có các vết tích người xưa từ giai đoạn cuối văn hóa Hòa Bình đầu văn hóa Bắc Sơn về sau mà hiện bị biển mới phủ lấp. Chúng ta có thể phát hiện được các vết tích đó ở dưới đáy vùng biển nông hiện nay, từ độ sâu Om đến 25 – 30m.

d. Về vết tích thời kỳ Hùng Vương và ruộng lạc thì ở các đồng bằng có một dải đất khá rộng ven biển không chứa vết tích thời kỳ Hùng Vương và ruộng lạc, vì nó mới hình thành từ lúc thời kỳ Hùng vương kết thúc đến nay, biên giới phía tây của dải này hiện chưa xác định được rõ ràng. Ngược lại ở vùng ven biển Quảng Ninh do có một quá trình biển tiến vào lục địa kéo dài từ khoảng sơ kỳ thời đại đồng đến tận ngày nay, một khu vực đồng bằng ven biển khác rộng với hoàn cảnh tự nhiên rất thuận lợi cho sinh hoạt của người xưa mới bị biển phủ lấp, trong đó sẽ có một khu vực của giai đoạn Hùng Vương và ruộng lạc mới bị biển phú lấp.

Bổ sung.

1. Trên các đồi hình thành trước biển đến Đệ tứ kỷ ở trong các đồng bằng hiện nay trên các hải đảo có thể có vết tích sơ kỳ thời đại đá cũ.

2. Nếu ở Việt Nam đồng bằng đã có mặt từ xưa thì tại đây phải có vết tích của những giai đoạn ít ra là từ hậu kỳ thời đại đá cũ trở về sau với những đào thịnh đống rác bếp điển hình.

II. Vùng đồng bằng Bắc Bộ với vấn đề phát hiện khảo cổ.

1. Đặc điểm tài liệu khảo cổ học hiện có.


Tài liệu khảo cổ học đồng bằng Bắc Bộ hiện nay có mấy đặc điểm nổi bậc sau đây:

a. Nằm trong quy luật chung là chỉ có vết tích các giai đoạn sau văn hóa Bắc Sơn: mặt khác có những đặc điểm riêng nổi bật nữa.

b. Các vết tích đã tìm thấy có niên đại chỉ bắt đầu từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên trở về sau, tức là từ khoảng đầu thời đại đồng trở về sau.

c. Vết tích từ giai đoạn văn hóa sớm nhất trong đồng bằng Bắc Bộ - từ văn hóa Phùng Nguyên – trở về sau là những nhóm cư trú lớn với trình độ văn hóa phát triển rất đối lập với sự vắng mặt một giai đoạn chuyển tiếp trước đó, từ văn hóa Bắc Sơn đến văn hóa Phùng Nguyên.

d. Do đó có thể nghĩ rằng tại vùng đồng bằng này còn có một giai đoạn phát triển chuyển tiếp trước văn hóa Phùng Nguyên mà vết tích đã mất đi nhiều và hiện chưa phát hiện được.

e. Song với sự vắng mặt giai đoạn văn hóa đá mới chuyển tiếp đó là sự vắng mặt của các di tích đống rác bếp mà về nguyên tắc cũng chỉ có thể thành lập vào giai đoạn chuyển tiếp đó. Sự trùng hợp hai đặc điểm này của tài liệu khảo cổ học cho thấy một lần nữa rằng có một giai đoạn văn hóa thời đại đá mới chuyển tiếp trước văn hóa Phùng Nguyên mà vết tích đã bị mất đi nhiều.

f. Trong đồng bằng Bắc Bộ, có một khu vực rất lớn, chỉ có vết tích từ thời kỳ văn hóa đồng thau phát triển và có thể đã có sắt trở đi. Đó là khu vực từ khoảng hà nội về phía đông và đông nam. Điều này có thể phù hợp với tài liệu địa chất mới của chúng tôi về sự có mặt một biển tiến xảy ra vào giai đoạn hiện đại (Q4) xâm chiếm vùng đông, đông nam đồng bằng Bắc Bộ từ khoảng giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên đến khoảng trước thời kỳ An Dương Vương (1).

(1) Theo tài liệu khảo sát mới đây của chúng tôi thì sau thời kỳ diễn biến pleistosen thượng. (Q3) chiếm hết diện tích đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, đồng bằng Việt Nam nói chung, đã rút đi vào thời kỳ đầu Holosen, thì đến quãng giữa Holosen một lần biển tiến mới lại xảy ra, chiếm phần đông nam đồng bằng Bắc Bộ, mà vết tích là một tầng đất sét mịn màu xanh dày 2 – 3m phủ lên một tầng than bùn với những thân cây to.

g. Từ giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên trở đi các nền văn hóa ở đây thể hiện một sự phát triển tự tại, liên tục nhanh của nông nghiệp đồng bằng và một số ngành sản xuất khác (đánh cá v.v…) là biểu hiện của sự hình thành một tộc người mới trên cơ sở sự phát triển của các ngành sản xuất đó, là vết tích văn hóa của tộc người mới đang hình thành nhanh chóng đó.

h. Cho đến lúc kết thúc giai đoạn Hùng Vương, một vùng lớn ở phía đông, đông nam đồng bằng Nam Bộ vẫn thuộc biển: tại đây không có vết tích thời kỳ Hùng Vương.

2. Một hiện tượng cần chú ý và vấn đề phát hiện khảo cổ.

Đối với việc phát hiện khảo cổ vùng đồng bằng và các khu vực ven rìa có thể chia ra làm ba bộ phận với những đặc điểm sau:

a. Bộ phận đồng bằng thấp hiện đại, độ cao tuyệt đối từ +12 - +15m trở xuống, cáu tạo bằng đất đá bở rời kỷ thứ tư, chủ yếu là những tầng đất biển và sông. Trên bề mặt này về nguyên tắc chỉ có vết tích người từ giai đoạn văn hóa Bắc Sơn trở về sau.

b. Bộ phận núi cao, từ độ cao tuyệt đối +50 - +70m trở lên. Ở đây về nguyên tắc có thể có vết tích đủ mọi giai đoạn lịch sử loài người, nhưng vì sườn dốc, các vết tích dễ bị phá hủy, mặt khác vào những giai đoạn sớm của lịch sử loài người, hang động là nơi cư trú chủ yếu mà ở đây hang động ít, nên nhìn chung vết tích người xưa ít và khó phát hiện được. Vết tích những giai đoạn này (từ thời kỳ văn hóa Bắc Sơn về trước) có lẽ chủ yếu sẽ tìm thấy trong các vùng núi đá vôi với hang động phát triển, như kiểu Bắc Sơn, Hòa Bình v.v…

c. Bộ phận đồi thấp nối tiếp giữa đồng bằng và núi cao, từ độ cao tuyệt đối +8 - +10m đến +50 - +70m. Bộ phần này là địa hình thành tạo do bào mòn và bồi đắp thời kỳ Đệ tứ, gồm các bậc chính sau đây:

- Bậc địa hình tích tụ, gồm các bậc thềm tích tụ và hỗn hợp của sông, tiếp giáp với vùng đồng bằng thấp, cấu tạo bởi những lớp cuội dày, thành phần thường là thạch anh, si lích, sa thạch quác-zít và một số đá cứng khác. Độ cao tuyệt đối về mặt từ +8 – +10m đến +10 - +30m. Thời gian hình thành các bề mặt này có lẽ từ khoảng cuối Pleistosen hạ (cuối Q1) trở về sau và về nguyên tắc có thể có vết tích người từ khoảng cuối Pleistosen hạ trở đi.

- Bậc địa hình bào mòn gồm các bề mặt bào mòn hình thành trên các loại đá gốc cứng khác nhau, cũng có đỉnh khá bằng phẳng, sườn không dốc lắm, thường cao hơn các bề mặt thềm tích tụ, độ cao tuyệt đối bề mặt thường từ +10 - +15m đến +50 - +70m. Các bề mặt địa hình này có lẽ hình thành do bào mòn ở thời kỳ Pleitosen hạ (Q1) và như vậy về nguyên tắc thì trên các bề mặt này có thể có vết tích của phần lớn các giai đoạn lịch sử loài người.

Trong đợt khảo sát cuối năm 1970 – đầu năm 1971 ở vùng Lâm Thao (Vĩnh Phú), chúng tôi nhận thấy có hiện tượng sau đây ở vùng đồi trung gian nói trên:

- Trên bề mặt những vùng đồi thấp khá rộng ở độ cao tuyệt đối từ +13 - +15 đến +30 - +50m có nhiều mảnh cuội, đá bị đập vỡ, nhiều cái giống những mảnh trước, nhiều cái có hình dạng giống nhửng công cụ lao động của người xưa.

- Những vật tìm thấy này nói chung khá phổ biến, nhiều nơi rất phổ biến.

- Hầu hết là những “mảnh trước”, các “công cụ hoàn chỉnh” rất hiếm. Cả những “mảnh tước” cũng như “công cụ hoàn chỉnh” chỉ đôi khi bị phủ bởi một lớp bụi mỏng, còn phần nhiều không bị phủ, nhiều cái có vết vỡ rất mới, rất sắc, không có dấu vết sử dụng, trong lúc đó hình thức chế tác rất xưa.

- Những “công cụ hoàn chỉnh” nhìn kỹ thì giống công cụ hơn là thật công cụ vì phần nhiều những vết ghè đẽo vô ý hơn là hữu ý.

- Những hiện vật này phân bố lộn xộn, bừa bãi trong những đám cuội sông cũ còn lại trên các bề mặt tích tụ bào mòn, trong những vùng lộ đá gốc cứng v.v… chứ không tìm thấy trong các tầng văn hóa, tại đây cũng chưa thấy dấu vết cư trú của người xưa với các tầng văn hóa, dấu than tro, cặn thải thức ăn v.v…

- Tại những nơi này còn có nhiều cuội sông cũ xếp thành từng lớp cấu tạo các bậc thềm tích tụ, thềm hỗn hợp của sông, còn sót lại từng đám trên các bề mặt bào mòn hoặc rải lung tung trong đất, không phải do người xưa đem đến để chế tác công cụ.

- Mảnh vỡ gồm nhiều loại đá khác nhau, nhưng những mảnh vỡ mỏng, sắc, có hình dáng giống công cụ hơn cả thường là bằng các loại đá cấu trúc hạt mịn, và cứng, như quác-zít và một số đồ đá khác; tại những nơi có nhiều cuội thạch anh (và các loại đá hạt thô khác như sa thạch hạt thô), đá bị vỡ rất nhiều nhưng thường vỡ lung tung, không có hình dáng nhất định, nhất là không có hình dáng công cụ vì thạch anh có cấu trúc tinh thể lớn vỡ theo mặt tinh thể hoặc nát vụn ra. Điều này cho thấy đá phần nhiều bị vỡ có thể do canh tác.

- Một điều nữa cho thấy rõ đá vỡ theo canh tác là tại những nơi đá cuội và đá lớn là chủ yếu, thành phần đất thịt (cát sét, sét cát), ít, đất không tiện cho sản xuất, ít được sử dụng cho sản xuất thì tuy cuội, đá nhiều mà mảnh vỡ ít, trái lại, tại những nơi thành phần đất thịt nhiều, cuội lẫn trong đó ít hơn, tiện cho sản xuất hơn, đất được sử dụng cho sản xuất tích cực hơn, thì mảnh vỡ nhiều hẳn lên, rải ra khắp nơi trong những vườn sắn.

- Trên những bề mặt này hiện nay, và có lẽ trước đây cũng thế, đất đai được sử dụng khá tích cực cho sản xuất, phương pháp xới đất phổ biến lại là dùng cuốc, làm vỡ cuội và tảng đá lẫn trong đất, trong đám đá vỡ ở đây có rất nhiều mảnh rõ ràng mới bị cuốc vỡ, rất mới, rất sắc.

Kết luận rút ra từ những nhận xét này là:


1. Trên những bề mặt bào mòn và bồi tụ pleistosen ở đồng bằng Bắc Bộ và có thể ở nhiều nơi khác nữa mà về nguyên tắc có thể có vết tích rất nhiều giai đoạn lịch sử loài người. Việc khảo sát phát hiện khảo cổ học ở phần trên của bề mặt cần tiến hành nhưng phải thận trọng, vì ở đây còn sót lại nhiều cuội sông cũ, trong đó có rất nhiều cuội bị vỡ vì canh tác, có thể gây khó khăn ít nhiều cho việc nghiên cứu các giai đoạn văn hóa thời đại đá đẽo.

2. Những hiện vật của giai đoạn văn hóa thời đại đá mài tìm thấy có thể tìm được ngay.

3. Còn những hiện vật đá đẽo thì để xác định được rõ ràng là công cụ lao động của người xưa cần phải được tìm thấy tại những nơi cư trú trong các tầng văn hóa với các vết tích sinh hoạt như than, tro, xương thú v.v… đi kèm.

III. Về khả năng một phương pháp xác định niên đại các địa điểm khảo cổ đồng bằng miền Bắc Việt Nam

Trong bản tham luận ở hội nghị lần thứ hai nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, Trần Quốc Vượng có đưa ra ý kiến về một phương pháp xây dựng niên đại các địa điểm khảo cổ dựa vào sự thay đổi khảo cổ học có niên đại muộn (thường từ thời đại đá giữa về sau) là một vấn đề thực tiễn. Thường thì trên thế giới người ta hay làm ngược lại là dựa vào các địa điểm khảo cổ học để xác định biên độ và thời gian xê dịch của đường bờ biển giúp cho việc giải quyết các mục đích kinh tế - kỹ thuật. Tuy vậy, cũng có trường hợp có thể và cần làm ngược lại để phục vụ khảo cổ học. Riêng ở Việt Nam, tài liệu khảo cổ học giúp rất nhiều cho việc nghiên cứu đồng bằng (cụ thể là nguồn gốc, cấu tạo, niên đại đồng bằng v.v…), chuyển động gần đây của vỏ quả đất (chuyển động tân kiến tạo) v.v… phục vụ rất tốt cho những mục đích thực hiện kinh tế - kỹ thuật. Còn, để phục vụ khảo cổ học thì ngoài việc dựa vào hoạt động biển để xác định đặc điểm quy luật và các khu vực phát hiện khảo cổ, việc liên hệ với hoạt động biển để xác định niên đại các địa điểm khảo cổ cần làm như sau:

1. Bước 1: Ở các đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dựa vào thời gian biển lùi mà xác định rằng các vết tích khảo cổ học ở trên mặt các đồng bằng này chỉ có niên đại thời đại đá mới và thời đại kim khí, tức là thời kỳ văn hóa Bắc Sơn về sau mà thôi.

2. Bước 2: Tiến xa hơn một bước nữa xác định rằng các đồng bằng này đều có 2 phần khác nhau: ở phần phía tây, các vết tích khảo cổ học sẽ có niên đại trong khoảng thời đại đá mới – thời đại kim khí, từ văn hóa Bắc Sơn đến nay; ở phần phía đông giáp biển, các vết tích khảo cổ học chỉ có niên đại nằm trong thời đại kim khí, biên giới 2 phần đất đó là dãy các địa điểm khảo cổ học có niên đại hậu kỳ thời đại đá mới phổ biến xa nhất về phía biển. Trên cả 2 phần đất đó nguyên tắc chung là càng về phía biển, niên đại các địa điểm khảo cổ học càng muộn dần.

3. Bước 3: Kết hợp tài liệu về sự dao động của mực nước biển với tài liệu về sự thay đổi về độ cao bề mặt đồng bằng tại từng địa phương nhỏ do xói mòn – bồi đắp lục địa và do chuyển động không đều của vỏ quả đất tại từng địa phương mà đoán định niên đại các địa điểm khảo cổ học. Việc này có những khó khăn, thuận lợi (hoặc những đặc điểm) sau:

a. Tài liệu về sự dao động cửa mực nước đại dương có một giá trị nhất định nhưng cũng có những sai số về thời gian cũng như trị số tuyệt đối của dao động mực nước.

b. Việc liên hệ dao động mực nước biển với sự thay đổi độ cao địa hình do xối mòn và hồi đắp lục địa là một việc khá phức tạp. Nếu đồng bằng là đồng bằng phù sa do sông bồi đắp thì địa hình bề mặt thường gồ ghề, độ cao xê dịch nhau nhiều là tùy nơi và không có quy luật, làm cho việc liên hệ đó gặp nhiều khó khăn. Nhưng, các đồng bằng Việt Nam là các đồng bằng biển, nhìn chung bề mặt đồng bằng bằng phẳng, đơn điệu, làm cho việc liên hệ này gặp thuận lợi hơn. Một thuận lợi nữa là các đồng bằng này rất thấp và độ dốc về phía biển hết sức bé làm cho những dao động nhỏ của mực nước biển dẫn đến những xê dịch ngang của đường bờ biển thường lớn và do đó sai số khi xác định niên đại sẽ giảm đi. Sự đào xói, bồi đắp của sông suối ở đồng bằng tuy không lớn nhưng cũng phải tính đến khi xác định niên đại khảo cổ từng địa phương.

c. Nếu chỉ có hai biến cố trên thì vấn đề chưa phức tạp lắm. Ở đồng bằng Việt Nam một yếu tố làm thay đổi độ cao địa hình rất mạnh là chuyển động của vỏ quả đất (1). Chuyển động này lại có hai thứ: chuyển động chung của toàn vùng đồng bằng và những xê dịch lẻ tẻ ở từng địa phương nhỏ, hai thứ chuyển động đó kết hợp với nhau làm cho độ cao địa hình phức tạp.

(1) Một ví dụ, nếu mặt đất cứ đứng yên thì vào thời kỳ văn hóa Bắc Sơn (7 – 8 nghìn năm trước) khi mực nước biển hạ thấp hơn mực nước biển ngày nay 10 – 25m thì vùng đồng bằng Việt Nam đáng lẽ phải rất rộng; trái lại thời đó toàn vùng đồng bằng Việt Nam ngập nước biển và không có người ở, tức là thời đại đó vùng đồng bằng sụt xuống thấp hơn ngày nay 20 – 35m (bằng tổng số độ cao mực nước biển thời đó còn giữ lại đến nay trong đồng bằng so với mặt đồng bằng và độ sụt của mực nước biển thời đó so với mực nước biển ngày nay).

Về chuyển động chung thì nhìn chung thì thời kỳ Holosen là thời kỳ cả vùng lớn đang được nâng lên mạnh và biển lùi trên những phạm vi rộng lớn.

Về chuyển động lẻ tẻ địa phương thì sau đây là một vài tài liệu về chuyển động đó ở đồng bằng Bắc Bộ:

- Đồng bằng Bắc Bộ gần đây nghiêng lệch hẳn về phía Đông Nam.
- Vùng Yên Lạc, phía nam thị xã Vĩnh Yên, vùng Đan Tảo ở Hà Bắc v.v… trong giai đoạn hiện đại được nâng cao hẳn lên 5 – 7m so với xung quanh, tại đây tầng đất sét biển ở trên hoàn toàn bị bóc mất đi.
- Vùng Thái Bình ở cửa sông Hồng hiện là một vùng đang được nâng lên mạnh so với xung quanh.
- Vùng Bắc sông Hồng trong giai đoạn văn hóa kim khí sụt xuống mạnh so với khu vực phía Nam làm cho biển tiến vào lục địa v.v…

4. Bổ sung:

Kết hợp với xác định độ cao bề mặt đồng bằng từng thời kỳ là việc sử dụng các dãy cát ven bờ biển cũ, các bậc thềm biển, các di tích đống rác bếp ven bờ biển cũ để định vị trí đường bờ biển từng thời kỳ. Việc này ở Trung Bộ có nhiều thuận lợi: ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa v.v… trong đồng bằng còn rất nhiều dãy cát hình thành ven biển cũ trong thời gian biển lùi trước đây, xếp thành từng dãy song song với nhau và song song với đường bờ biển; tương tự như vậy là ở đây có mặt nhiều di đống rác bếp ven bờ biển cũ, những mảnh thềm biển. Những tài liệu này kết hợp với nhau làm bổ sung cho các bước trên.

5. Về vùng ven biển Quảng Ninh.

Như đã nói ở trên, vùng biển nông Quảng Ninh mới thành lập trong giai đoạn kim khí do đất vùng này mới sụt xuống. Tại đây để xác định niên đại các địa điểm khảo cổ học hiện có hai điều:

a. Về nguyên tắc tại vùng biển và đảo này trong các giai đoạn muộn của lịch sử loài người chỉ có vết tích nguyên thủy từ khoảng cuối văn hóa Hòa Bình trở về sau. Trên cơ sở đó có thể căn cứ vào tốc độ biển lùi thời bấy giờ để xác định niên đại các địa điểm khảo cổ học.

b. Từ khoảng đầu thời kỳ kim khí đến nay biển lại tiến vào, lúc này cũng có thể dựa vào tốc độ biển tiến để xác định niên đại các địa điểm khảo cổ học.

Tóm lại, về nguyên tắc có thể dùng phương pháp đường bờ biển để xác định niên đại khảo cổ nhưng niên đại khảo cổ này (hay là độ cao mặt địa hình so với mực nước biển từng thời kỳ) là một hàm số của ba biến số cùng một lúc, các biến số này lại cùng một lúc biến đổi phức tạp. Giải được hàm số phương trình đó sẽ lập được bản đồ vị trí đường bờ biển từng thời kỳ và trên cơ sở đó lập được một bản ba-rem niên đại khảo cổ học. Kết quả và độ chính xác của nó phụ thuộc nhiều vào tình hình thực tế. Vấn đề này trực tiếp giúp cho việc nghiên cứu khảo cổ học thời kỳ Hùng Vương.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố “lạc” Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc Ít lâu nay, một câu hỏi ám ảnh chúng tôi: nguồn gốc ngữ nghĩa của từ ...

Tô Lịch - Nùng Sơn theo phong thủy xưa là hai biểu tượng của nước non Thăng Long - Hà Nội. Ảnh bên: Cột Cờ khi thực dân Pháp bắt đầu xây khu phố Tây.

Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Theo mục đích, có ...

Đất nước và con người thời Hùng Vương: Dựa trên thành tự của khoa học lịch sử (khảo cổ học, cổ sử, nhân học, dân tộc học, ngôn ngữ học lịch ...

Ngày càng có nhiều người ao ước một lần được đến dầm lòng ở Lệ Chi Viên để… khóc. Đó là một sự thật không cần giải thích, là những xúc cảm ...

Bài 2: Giải ảo nghi án “quan Thái sư hóa hổ, giết vua”! Người ta bảo, các nhà khảo cổ, các nhà địa chất và mấy bác làm sử là những người tiêu thời ...

Sông Đuống kỳ tích và kỳ ảo cả đôi bờ, cả trong trận mạc xưa lẫn trong ngun ngút thơ văn. Nếu thi sỹ Hoàng Cầm tiếp tục “anh đưa em về Sông ...

Góp bàn về văn hóa Đông Sơn: Văn hóa Đông Sơn nói chung và di chỉ Đông Sơn nói riêng, từ lâu đã trở thành đề tài được các nhà khảo cổ học, sử ...

Các giai đọan phát triển của văn hóa Phùng Nguyên qua hoa văn đồ gốm. Một trong những vấn đề khảo cổ học có tầm quan trọng đáng kể hiện nay là việc ...

Về khái niệm thời Hùng Vương: Thế nào và lúc nào là thời Hùng Vương? Thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều suy nghĩ, nhưng chưa có dịp ...