Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11

Ngày đăng: Thứ ba 25/11/2008 12:00:00 (GMT +7)

Giả thiết I: “lạc” là từ tố Việt

Như mọi người đã rõ, trong các tài liệu hiện còn, Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên (đầu thế kỷ thứ 6) là tài liệu cổ nhất có dẫn một đoạn trong Giao Châu ngoại vực ký (sách chữ Hán viết vài khoảng thế kỷ thứ 4 – thứ 5) như sau:

“Xưa, khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, ruộng đất có lạc điền, ruộng ấy theo nước triều lên xuống. Dân khẩn ruộng ấy mà ăn, vì thế gọi là lạc dân. Đặc lạc vương, lạc hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện, phần nhiều là lạc tướng. Lạc tướng (có) ấn đồng, dải xanh” (1).

(1) Lịch Đạo Nguyên: Thủy kinh chú, Bắc Kinh, 1958, quyển 37, tr.62.

Từ đoạn văn trên, dễ dàng thấy rằng lạc điền, lạc dân, lạc vương, lạc hầu, lạc tướng là những từ ghép. Theo quy luật chung của tiếng Hán cũng như của bất kỳ tiếng nào trên thế gới, từ ghép là những từ “có lý do” (motivé), tức là những từ mà ý nghĩa có thể được giải thích trực tiếp bằng hình thức, bằng kết cấu, từ mà ý nghĩa có thể được giải thích trực tiếp bằng hình thức, bằng kết cấu, bằng thành tố của chúng. Trong những từ trên, những từ tố điền, dân, vương, hầu, tướng đã giải thích được nghĩa của một nửa từ rồi. Còn lại từ tố lạc, vá nếu giải thích được từ lạc điền thì có thể tìm ra được đầu mối để giải thích những từ khác.

Đáng để ý là trong Thủy kinh chú, chữ “lạc” viết ( ). Vậy “lạc” là gì?

Sách Quảng vận (sách chữa Hán đời Tống; bản chữ của Trạch Tồn Đường) thích nghĩa “lạc” là “chim kỵ kỳ” ( ) (1) còn “kỵ kỳ” thì Từ hải dẫn Nhĩ Nhã (2) giải thích rằng đó là “chim hưu lưu” ( ), mà chim “hưu lưu” thì Từ hải giải thích là con cú mèo, và chua thêm thuật ngữ là tinh Otus sunia japonicuc (3).

(1) Tống bản quảng vận, trong Chu Tổ Mộ, Quảng vận hiệu bản, Bắc Kinh, 1960, tập 1, tr. 507.
(2) Tự điển sớm nhất của Trung Quốc, ra đời khoảng thế kỷ 3 – thế kỷ 1 trước Công nguyên.
(3) Từ Hải, Thượng Hải, 1947, tr. 1539, 1540.


Như vậy, nếu theo đúng mặt chữ và nghĩa của nó thì “lạc điền” phải là “ruộng cú mèo”. Điều đó, rõ ràng là vô nghĩa, thậm chí phi lý, bởi vì “cú mèo” không hề có địa vị gì trong đời sống văn hóa tinh thần, vật chất của xã hội nước ta từ xưa tới nay; do đó, giữa “ruộng” và “cú mèo” không thể có một mối liên hệ nào cả. Và nếu ngôn ngữ học có thấy từ “cú” được dùng trong thành ngữ, thì những đơn vị ấy chỉ mang theo nghĩa xấu (hôi như cú, dòm như cú dòm nhà bệnh, cú có vọ mừng, cú kêu cho ma ăn, đôi mắt cú vọ,…). Nếu cho rằng cú mèo có thể là tô tem thì cũng hoàn toàn không có căn cứ.

Trong một số sách cổ của Trung Quốc, chứ “lạc” nói trên còn có nghĩa là “ngựa sắc trắng, bờm đen” (1). Cũng như trên, ta thấy không có mối liên hệ nào giữa “ngựa trắng” với “ruộng”, “dân”… cả.

(1) Từ Hải, tr.1440

Trước Thủy kinh chú 4, 5 thế kỷ, Hán thư (thế kỷ thứ 1, thứ 2) đã dùng chữ ( ) khi viết về người Lạc Việt (1). Chữ ấy Quảng Vận cũng thích nghĩa là “ngựa sắc trắng, bờm đen” (2). Ta vẫn chưa có thêm điều gì có thể giải thích được từ lạc điền, lạc dân… Có chăng thì ta chỉ thấy thêm một điều là, các phần tử trí thức phong kiến đã lộ rõ đầu óc khinh miệt các dân tộc khác bằng cách dùng chữ “lạc” với bộ “mã” (cũng như họ đã dùng những chữ có bộ “khuyển” để ghi tên gọi một số tộc người mà họ cho là man, di, nhung, địch).

(1) Từ Hải, tr. 1506
(2) Tống bản quảng vận – Sách đã dẫn, tr.507


Ở nước ta, có người dùng chữ ( ) để ghi từ tố lạc. Chữ này, đúng ra, phải đọc là “mạch” hoặc là “hạc”. Với ân “mạch”, chữ này đã thấy trong sách Chu Lễ (1) và dùng để chỉ tên một tộc người ở Đông Bắc Trung Quốc, nay là người Triều Tiên. Với âm “hạc” chữ này dùng để chỉ một loài chồn đầu thon, mũi nhọn, lông dày, da có thể dùng làm áo (2). Như vậy, xét về bất kỳ nghĩa nào, cũng không thấy mối liên hệ giữa “mạch” hoặc “hạc” với các từ tố “điền”, “dân”… Nhưng vì sao các nhà nho ta lại dùng chữ ( )? Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ các cụ đã không chấp nhận chữ “lạc” có bộ “mã” vì cho rằng chữ ấy biểu thị thái độ khinh miệt dân tộc (điều này, ta vẫn còn nói “thân trâu ngựa” để chỉ sự khổ nhục), và có lẽ các cụ cho rằng chính chữ Lạc có bộ “trãi” mới là chữ chỉ một giống người.

(1) Truyền rằng Chu lễ là do Chu Công soạn. Hiện nay có người cho rằng sách này soạn vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 – thứ 3 trước Công nguyên. (Từ điển trí thức mới (chữ Trung Quốc), Thượng Hải, 1958, tr.491).
(2) Từ Hải – Khanh Hi tự điển – tập Dậu trung, tr.1266.


Chữ “lạc” có phải là ( ) không? Nhĩ nhã cho biết chữ này chỉ 2 nghĩa: - chim “ô bạo” (một loài chim nước, đọc là “lạc”); - cú vọ (đọc là “lạc” hoặc “cách”). Cái nghĩa và cái âm thứ nhất tưởng chừng như đã mở nút cho chúng tôi những sự thật vẫn không giải quyết được vấn đề: một là, vì chúng tôi chưa thấy chữ này xuất hiện ở đâu để chỉ về người Lạc Việt; hai là, chưa có gì chắc chắn để nói rằng hình con chim trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh chính là chim “ô bạn” vì trên hai vật đó, có nhiều hình chim khác nhau) và cũng chưa có gì chắc chắn để nói rằng chim “ô bạo” là tô-lem của người Lạc Việt thời cổ.

Phải chăng “lạc” là danh từ riêng chỉ tên gọi tổ tiên trên chúng ta thời cổ, do đó không thể giải nghĩa được? Tạm thời chưa trình bày ý kiến của chúng tôi về vấn đề này, chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng: nếu tán thành quan điểm này thì chúng tôi tin rằng “lạc” là từ tố Việt và các chữ Hán đã dùng để ghi từ tố này chì là những chữ dùng để phiên âm.

Giả thiết 2: “lạc” là từ tố có nghĩa thật.

Theo một quy luật ngôn ngữ khá phổ biến, tên tự xưng của các tộc người cũng như tên mà tộc người này dùng để gọi các tộc khác, thường có thể được giải thích về nguồn gốc ngữ nghĩa. Tộc danh học cho chúng ta biết rằng tên gọi của rất nhiều tộc người có nghĩa là “người”. Ở nước ta, đồng bào Mường tự xưng là “Moi”, đồng bào Mèo tự xưng là “Hmông”, đồng bào Tày – Nùng, Thái tự xưng là “Tày”; người Đức tự xưng là “Đót-sơ” (Deutsch), người Cô-mi (ở Liên Xô) tự xưng là “Mua” (Murt), người E-xki-mô (ở Liên Xô) tự xưng là “Côi-cô-in”, người Ca-ren ở Miến Điện tự xưng là “Pơ-ga-nô),… ; tất cả những tên tự xưng ấy đều có nghĩa là “người”, “tộc người”. Những tên tự xưng của người Đay-ác “người ở cạn” (đảo Ca-li-man-tan), của người Thổ Nhĩ Kỳ “Tuyếc”,… cũng có nguồn gốc ngữ nghĩa như trên. Nhiều tộc người tự xưng là “chúng ta”; ví dụ Xéc-bơ, Xlao vốn do seb, sob (từ căn Ấn-Âu, có nghĩa là “mình”) mà ra. Chúng ta cũng thường tự xưng là “ta”, như trước đây, ta thường phân biệt “lính ta” “lính tây”; v.v… Tên gọi hay tên tự xưng của nhiều tộc người có khi trùng với tên tô-tem, ví dụ: ở Miến Điện, người Na-ga lấy tên rắn na-ga để tự xưng, các bộ lạc Bê-su-an ở Nam Phi mang các tên như cá sấu, khỉ,…; có khi tên ấy có quan hệ với những đặc điểm về sinh hoạt kinh tế, ví dụ: tên gọi người Bhil (Ấn Độ) vốn có nghĩa là “người bắn tên”, tên gọi người Ma-ô-ken ở Thái Lan vốn có nghĩa là “lặn biển”…; có khi có quan hệ với những đặc điểm về địa điểm cư trú hoặc điều kiện cư trú, ví dụ: (người) Kinh = từ kinh đô tới, (đồng bào) Thượng = “ở trên cao”; trong 3 tên tự xưng của người Dao, có 1 tên là “Kiềm Miền” nghĩa là “người ở rừng”, tên gọi người Gia-rai vốn có nghĩa là “nguồn, thác”, tên gọi người Ra-glai vốn có nghĩa là “người (ở) rừng”, tên gọi người Sán Chỉ, người Pnông vốn có nghĩa là “người (ở) núi”, của người U-cren vốn có nghĩa là “người (ở) biên giới”; có khi tên gọi có quan hệ với tên một con sông, một ngọn núi, hay một địa điểm nào đó, ví dụ: người Vân Kiều (Bru) ở tổng Vân Kiều, người Rê ở bên sông Rê; ta gọi chung người Châu Âu là “Tây” v.v… Tên gọi có khi theo quan hệ xã hội, ví dụ: xưa, ta gọi Hoa kiều là “khách”, đồng bào Thượng gọi người Việt là Gio-an, từ này cũng có nghĩa là “khách”, người Gia-rai gọi người Ê-đê là “Đe” nghĩa là “người mới đến”, tên gọi người Mun-tê-phích (A-ráp) có nghĩa là “liên minh”, tên gọi người Đa-cô-ta (Mỹ) vốn có nghĩa là “người cùng bầy”. Có khi tên gọi có quan hệ với tên của tù trưởng, ví dụ: tên tự xưng của người Ba-na ở nước ta, của người U-dơ-bếch (lấy tên một ông vua ở thế kỷ 14), hay có quan hệ với tên gọi của triều đại, ví dụ: người Hán, người Quảng Đông ngày trước tự xưng là “Thoòng Nhằn” – “Người Đường” v.v… (1). Tất nhiên, hiện nay còn có những tên gọi mà các nhà tộc danh học chưa giải thích được, hoặc giải thích theo nhiều cách khác nhau; nhưng, những trường hợp này không nhiều lắm và trong tương lai, chắc có thể giải thích được.

(1) Về nguồn gốc của một số tộc danh ở nước ngoài dẫn trong đoạn này, chúng tôi tham khảo Tộc danh (chữ Nga), Ma-xcơ-va, 1970.

Ta trở về từ tố “lạc”. Nếu cho rằng từ tố ấy là tên riêng làm thành một từ độc lập “vô lý do” (immotivé), thì chúng tôi e rằng nghĩ như vậy là đã hiện đại hóa cách hiểu nó và cách ghép những từ lạc điền, lạc dân, v.v… Vả lại, ta có thể hỏi: vì sao người ghi Giao Châu ngoại vực ký lại phải ghi rằng: “(Ở) Giao Chỉ… ruộng đất có ruộng (của tộc người) Lạc (Lạc điền)”? Viết như thế có khác gì viết: “ở Trung Quốc xưa, có ruộng (của tộc người) Hạ”?

Vì vậy xuất phát từ hoàn cảnh câu văn, chú ý đến quy luật khá phổ biến về đặc điểm ngữ nghĩa của các tộc danh, chúng tôi nghĩ rằng “lạc” là từ tố có thể được giải thích về mặt ngữ nghĩa.

Giả thiết 3: “lạc” có nghĩa là “nước”


Chúng tôi đi đến giả thiết này trước hết là vì căn cứ vào hoàn cảnh xuất hiện từ “lạc điền”. Đoạn văn dẫn trên đã nói rõ: “Ruộng đất có lạc điền, ruộng ấy theo nước triều lên xuống” (1). Chúng tôi cho rằng từ ghép “ruộng đất” và vế thứ 2 (“ruộng ấy theo nước triều lên xuống”) có tác dụng giải thích thêm từ “lạc điền”.

(1) Xin chú ý là dấu phẩy ở đây và những dấu chấm trong đoạn văn dẫn trên là do chúng tôi thêm vào vì trong sách cổ viết bằng chữ Hán không có dấu câu.


Tìm trong tiếng địa phương ở một số vùng Phú Thọ cũ và ở một số nơi khác, chúng tôi thấy có từ tố “rặc” (như nước rặc, cạn rặc,…) nghĩa là (nước) xuống (nước) lụi. Từ này đã thấy trong các từ điển của P. Của, của Giê-ni-bren, của G. Huê, của Khai trí tiến đức và cả trong Từ điển tiếng Việt mới đây do Văn Tân chủ biên.

Ai cũng biết rằng những ruộng dựa vào nước triều lên xuống chỉ có thể cày cấy vào dịp nước xuống. Lạc điền, vì thế, rất có thể là “ruộng (làm được khi có nước) rặc”. Và rất có thể là người ghi Giao Châu ngoại vực ký đã tạo ra một từ ghép gồm có một từ tố Việt (rặc) với một từ tố Hán (điền) xếp đặt theo trật tự cú pháp của tiếng Hán (“rặc điền”) và kèm theo lời giải thích về nội dung từ đó.

Cách ghép từ này, thoạt nghe, tưởng chừng như vụng về nhưng lại rất tự nhiên khi một người bản ngữ muốn đặt một từ mới để biểu thị một khái niệm mới mả từ vốn có trong bản ngữ không biểu thị đầy đủ. Người Trung Quốc thường gọi ruộng nước do con người tưới tất là “thủy điền” (1). Chắc rằng thuật ngữ này không phản ánh đúng “ruộng rặc” của ta, cho nên tác giả của Giao Châu ngoại vực ký đã đặt ra một từ mới. Cách đặt từ mới, gồm có một từ tố Hán và một từ tố ngoại lai, xưa nay vẫn thường thấy trong tiếng Hán. Ví dụ: đã thụ (Việt + Hán) ( ) = cây dừa; bồ đào thụ (Phạn + Hán) ( ) = cây nho ; “phi” tửu (Anh + Hán) ( ) – rượu bia, v.v… Chúng tôi được biết ở Phú Thọ cũ, có nơi đồng bào vẫn còn gọi những thửa ruộng chằm là “ruộng rặc” (chúng tôi chưa có dịp thẩm tra lại). Nếu quả là có cách gọi đó thì đây là một chứng cớ quý giá vô cùng.

(1) Vấn đề này cần được thẩm tra lại để xem vào thế kỷ IV thuật ngữ “thủy điền” đã có trong tiếng Hán chưa.


Hiện nay, ở nhiều vùng trung du, có một loại ruộng ở giữa những ngọn đồi thấp, gọi là “ruộng rộc”. Những ruộng này, khi nền nông nghiệp của ta còn dựa nhiều vào tự nhiên, chỉ có thể làm được khi nước xuống. Chúng tôi cho rằng đây cũng là một bằng chứng đáng quý để thấy mối liên hệ với “ruộng rặc” nói trên.

“Rặc” (xưa kia, có thể là “rạc”), “rộc”, theo sự suy nghĩ bước đầu của chúng tôi, là những từ cùng gốc hoặc cùng họ) và bắt nguồn từ “rac” là từ chung của hai thứ tiếng Việt – Mường, có nghĩa là “nước”.

Ta có thể thấy quy luật biến đổi a → ươ:

- Qua tiếng địa phương Bắc Bộ và bắc Trung Bộ nước ta;
- Qua hiện tượng song song về ngữ âm của một số từ trong tiếng nói cả nước;
- Qua sự so sánh 2 thứ tiếng Việt và Mường.

a) Tiếng địa phương Bắc Bộ: nước; nướng; ngửa; ngứa.
Tiếng địa phương Bắc Trung Bộ: nác; náng; ngả; ngá.
b) đang = dương; đàng = đường; chàng = chường; cang = cương (gang).
c) Việt: rượu; nước; lưới; đường sá:
Mường: rạo; rác; lái; tàng khá.

Có thể thấy một vài bằng chứng về sự biến đổi giữa a và ă. Và từ a sang ô trong tiếng ta:

a = ă: hàng (ngày) = hằng (ngày), ham mốt = hăm mốt,
đàng (này) = đằng (này).
Giác = cắc (một hào; tiếng địa phương Nam Bộ).
a = ô: (gầy) rạc – (gầy) rộc; ngạt = ngột; hạt = hột; nam = nôm; nam = nồm;
nạp = nộp, mai = mối.     
Qua luật biến âm của tiếng Hán cũng có hiện tượng tượng tự. Theo Vương Lực, lạc thời thượng cổ có vần [ăk], thời trung cổ mới có vần [ak] (1).

(1) Vương Lực: Phác thảo lịch sử tiếng Trung Quốc (chữ Trung Quốc) Bắc Kinh, 1957, tập 1, tr. 83.


Quy luật biến đổi phụ âm đầu trong tiếng Việt và quy luật đối ứng ngữ âm giữa tiếng Việt và tiếng Mường cho phép chúng tôi tin rằng nước vốn có hình thức ngữ âm là rác, tức là n ← r. So sánh:

+ Rằm: năm (số 5), rẻo: nẻo;
+ Việt: no, nở, nẻ, nắng, con nít, nước…
Mường: ro, rở, rẻ, rắng, con rét, rác. (1)

(1) Ở một số vùng Mường, [n] Việt tương ứng với [d] Mường. Ngữ âm học lịch sử tiếng Mường cho phép kết luận rằng âm [d] và tất cả các âm kêu đều là âm mới phát triển gần đây.

Trong hệ thống âm vị tiếng Hán, từ trước đến giờ, không hề có âm rung [r]. Xưa nay, để phiên âm những từ ngoại lai có âm [r], người Hán đều thay thế âm ấy bằng [I]. Ví dụ:

Phạn: Brahman → Hán: bà-la-môn,
Pháp: Paris → Hán: Ba-lê, v.v…

Chính vì thế, dùng lạc để ghi rac (nước) là điều rất hợp quy luật.

Chữ Hán là thứ chữ ghi ý; vậy tại sao dùng chữ “lạc” để biểu thị “nước” mà lại không có bộ thủy? Có một chứng cớ khiến chúng tôi tin rằng chữ lạc, tuy không có 3 chấm thủy vẫn dùng để ghi rac là nước: đó là đời Hán, có lệ dùng chữ ( ) để thay chữ ( ). Địa lý chí trong Hán thư viết: “Đời Hán thịnh hỏa, kỵ thủy, do đó bỏ (bộ) thủy ở (chữ) ( ) mà thêm (bộ) duy” (1). Quảng vận cũng viết ( ) đời Hán viết là ( ). Chính tự thông đời Minh cũng chép như vậy (2).

(1) Từ Hải, tr. 1440.
(2) Khang Hy tự điển, Thượng Hải, 1949, tập Tuất trung, tr.174.


Tóm lại, giả thiết của chúng tôi là: “Lạc điền” là một từ ghép, gồm 2 từ tố, 1 từ tố Việt rac: nước, 1 từ tố Hán điền, dùng để biểu thị “ruộng rặc”, “ruộng rộc” hoặc “ruộng nước” (đặc biệt) của tổ tiên ta thời cổ.

Khi đó, có phải chúng ta chỉ có loại ruộng ấy không, đó là vấn đề người ghi chép có đầy đủ tính khách quan hay không. Vấn đề ấy ra ngoài phạm vi bàn luận của bài này.

*
*     *

Nếu “lac” là rac tức là “nước” thì sẽ giải thích nguồn gốc ngữ nghĩa của từ “Lạc dân” (người nước), và cả của những từ “lạc vương”, “lạc hầu”, “lạc tướng” (vua, quan, tướng của “người nước”) như thế nào?

Hiện nay, chúng tôi chưa có chứng cớ để xác minh rằng “người nước” (lạc dân) là tên tự xưng của ta hay là tên mà người Hán hoặc các tộc người khác dùng để gọi tổ tiên ta. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì vẫn có thể thấy mối qua hệ ngữ nghĩa giữa “lạc” và “dân”, vẫn có thể thấy nhiều chứng cớ nói lên rằng lạc ở đây vẫn là “nước”.

Nhiều tài liệu đã chứng minh rằng bán đảo Đông Dương là quê hương của lúa mà lúa là loại cây trồng ưa nước. Vì Vậy, đối với các tộc người cổ biết trồng lúa, vấn đề đất và nước là vấn đề sống còn về mặt kinh tế. Sớm biết trồng lúa, tổ tiên chúng ta đã di cư theo những triền sông, lợi dụng mọi nguồn nước để cầy cấy, đúc kết kinh nghiệm trồng lúa của mình qua câu tục ngữ: “Nhất nước, nhì phân…”.

Nhiều tài liệu cổ cho biết rằng tổ tiên chúng ta còn sống về “sông nước”, giỏi nghề đi biển. Truyền thuyết Lạc Long Quân là giống rồng (xin chú ý rằng “Long Quân” hay “Long Vương” đều có nghĩa là vị vua thống trị miền nước) và truyền thuyết 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển, đã nói lên việc tôn sùng nước, sự phân hóa giữa một bộ lạc sống về rừng núi và một bộ lạc sống về nước. Tôn giáo nguyên thủy của ta (“tam phủ”) cũng phản ánh ba yếu tố thiên nhiên có quan hệ đến đời sống con người thời đó là trời, rừng núi và nước (thủy cung hay “thoải” cung). Việc coi trọng đất và nước của tổ tiên chúng ta còn được phản ánh trong nghi thức tổ chức lễ hạ điền ngày trước. Đến khải niệm “Tổ quốc” của ta thì từ bao đời nay đã gắn liền với đấ và nước, nhất là nước:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.


Như đã trình bày ở điểm 3, tên gọi của một tộc người có thể có quan hệ  với đặc điểm về sinh hoạt kinh tế của tộc người ấy. Với đặc điểm kinh tế sống về ruộng nước, sống về sông biển như đã nói ở trên, tổ tiên chúng ta tự xưng hay được gọi là “người (sống về) nước”, điều đó là hình hoàn toàn dễ hiểu. Vả lại, như chúng ta đã thấy, có tộc danh “người núi”, “người rừng” thì rất có thể có tộc danh “người nước”. Điều đó hoàn toàn hợp với quy luật gọi tên của các tộc người trên đất nước ta và trên thế giới: Hơn nữa, đoạn văn dẫn ra ở trên “Dân khẩn ruộng ấy mà ăn, vì thế gọi là lạc dân” đã nói lên rất rõ quan hệ nhân quả giữa hai tên gọi “ruộng nước” và “người nước”. Và như thế thì “Lạc Việt” có nghĩa là bộ phân Bách Việt “sống về nước” (1). Đã gọi “người nước” thì người ghi chép gọi “vua của người nước”, “quan của người nước”, “tướng của người nước” cũng là điều rất tự nhiên (vua, quan, tướng trong thời này chắc chắn không giống vua quan của Trung Quốc thời đó; vấn đề ấy không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài này). Rồi qua mấy nghìn năm lịch sử - rất có thể hàng vạn năm nghĩa của từ “lạc” là “nước” đã bị quên đi và từ chung ấy đã trở thành danh từ riêng, như trong “con Hồng cháu Lạc mà từ bao đời nay, mỗi khi nói đến, chúng ta rất đỗi tự hào!.

(1) Nhân đây, chúng tôi xin lưu ý bạn đọc về mấy tộc danh trong Bách Việt: tộc danh Âu Việt có quan hệ với tên sông Âu (vùng Triết Giang), tộc danh Mân Việt có quan hệ với tên sông Mân (vùng Phúc Kiến), tục danh Tây Việt có quan hệ với tên sông Tây là nhánh sông Ly – Tương, chảy từ miền đông huyện Hưng An (Quảng Tây), sang phía tây, qua Quế Lâm.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Tô Lịch - Nùng Sơn theo phong thủy xưa là hai biểu tượng của nước non Thăng Long - Hà Nội. Ảnh bên: Cột Cờ khi thực dân Pháp bắt đầu xây khu phố Tây.

Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Theo mục đích, có ...

Đất nước và con người thời Hùng Vương: Dựa trên thành tự của khoa học lịch sử (khảo cổ học, cổ sử, nhân học, dân tộc học, ngôn ngữ học lịch ...

Ngày càng có nhiều người ao ước một lần được đến dầm lòng ở Lệ Chi Viên để… khóc. Đó là một sự thật không cần giải thích, là những xúc cảm ...

Bài 2: Giải ảo nghi án “quan Thái sư hóa hổ, giết vua”! Người ta bảo, các nhà khảo cổ, các nhà địa chất và mấy bác làm sử là những người tiêu thời ...

Sông Đuống kỳ tích và kỳ ảo cả đôi bờ, cả trong trận mạc xưa lẫn trong ngun ngút thơ văn. Nếu thi sỹ Hoàng Cầm tiếp tục “anh đưa em về Sông ...

Góp bàn về văn hóa Đông Sơn: Văn hóa Đông Sơn nói chung và di chỉ Đông Sơn nói riêng, từ lâu đã trở thành đề tài được các nhà khảo cổ học, sử ...

Các giai đọan phát triển của văn hóa Phùng Nguyên qua hoa văn đồ gốm. Một trong những vấn đề khảo cổ học có tầm quan trọng đáng kể hiện nay là việc ...

Về khái niệm thời Hùng Vương: Thế nào và lúc nào là thời Hùng Vương? Thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều suy nghĩ, nhưng chưa có dịp ...

Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên qua tài liệu khảo cổ học Tới nay, trong khi nghiên cứu vết tích vật chất của thời kỳ Hùng Vương, ta thường ...