Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10

Ngày đăng: Chủ nhật 02/11/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nhóm nghiên cứu đất nước và con người thời Hùng Vương được thành lập để tập hợp mọi cố gắng của các anh chị em làm việc trong nhiều ngành có liên quan, thu thập tư liệu, với phương châm tập trung và dứt điểm, giải quyết trong chừng mực có thể, một số vấn đề do đề tài này nêu ra.

*
*     *

Bản thân đề tài “Đất nước và con người thời Hùng Vương” rất phức tạp, khó khăn. Trong 3 năm 1968 – 1970, nhóm có nhiệm vụ dựa trên cơ sở tư liệu hiện có, phác họa những nét đại cương của vùng đất cư trú gốc – quê hương buổi đầu của dân tộc ta – về điều kiện thiên nhiên và những t65p đoàn người đã cư trú ở đó. Không xác định khoảng không gian đó thì không thể nào hiểu được những quá trình lịch sử đã diễn ra trong thời Hùng Vương. Lịch sử diễn ra với những con người cụ thể trong một thời gian cụ thể trên một khoảng không gian cụ thể.

Ngoài một số điểm chung về phương pháp luận đã được giải quyết, công tác của nhóm đã dựa vào những điểm cụ thể như sau:

1. Quan niệm về sử liệu.

Những công trình vê lịch sử nghiên cứu về đề tài này đã chỉ rõ: sở dĩ trước đây việc nghiên cứu thời Hùng Vương bị bế tắc là vì chỉ dựa vào khối tư liệu thành văn, coi thường các loại tư liệu khác, nhất là tư liệu văn học dân gian. Mê tín sách vở cổ nước ngoài, không ít người đã cho rằng cái gì không thấy nói đến trong thư tịch cổ nước ngoài thì không đủ tin, không nên dùng. Thái độ của chủ nghĩa phê phán cực đoan đó đưa đến chỗ xếp thời Hùng Vương vào thời kỳ truyền thuyết, bỏ không gạn lọc sử liệu trong văn học dân gian, do đó thổi phồng một cách quá đáng khó khăn của việc nghiên cứu thời Hùng Vương, làm cho việc đó bị đình trệ. Ngày nay, chúng ta đã quan niệm khác. Sự thật lịch sử được phản ánh trong bất cứ loại tài liệu trực tiếp hay gián tiếp nào có liên quan tới nó: không kể đó là lịch sử hay truyền thuyết, tài liệu thành văn hay không thành văn, ghi trên bìa hay chép trên giấy, là di tích khảo cổ học hay là những tàn tích còn lại trong sinh hoạt xã hội ngày nau, mà dân tộc học, ngôn ngữ học có thể thu lượm được. Cách nhìn nhận tài liệu sử như thế, trên thực tế đã mở rộng nhãn quan trong công tác tư liệu, cụ thể nó đã giúp chúng ta phương hướng và đã đưa lại những tài liệu vô cùng phong phú về thời Hùng Vương, mà kinh nghiệm làm việc những năm qua đã chứng tỏ. Góp phần làm sáng tỏ quan điểm này, trước hết chúng ta phải kể bài luận văn có tính chất phương pháp luận Nhân ngày giổ tổ Hùng Vương (1). Lẽ tất nhiên đối với chúng tôi vấn đề còn ở chỗ cách đánh giá, cách dùng những tài liệu đó nữa, làm sao cho nghiêm túc, cho khách quan vì “khoa học là khoa học”.

(1) Phạm Văn Đồng: Nhân ngày giổ tổ Hùng Vương – Báo Nhân dân, ngày 29 – 4 – 1969.

2. Quan niệm về phương pháp nghiên cứu tổng hợp.

Vấn đề này đã được nêu ra ngay từ khi bắt tay nghiên cứu đề tài. Đối với sử học, nó không mới, nhưng đối với chúng ta nó là mới vì chúng ta chưa áp dụng được nhiều. Trong trình độ phát triển của các ngành khoa học xã hội ngày nay, có thể nói: bất cứ một ngành nào đối với ngành khác cũng là khoa học phụ trợ, chúng bổ sung tài liệu, phương pháp cho nhau trong quá trình nghiên cứu con người, xã hội và dân tộc.

Vấn đề là ở chỗ phải biết tính toán, so sánh, phối hợp một cách đúng đắn những kết quả của những bộ môn khoa học có liên quan với nhau, dựa theo những phương pháp khác nhau để - nghiên cứu cùng một vấn đề. Cho nên, nếu những kết luận này một khi đã thống nhất thì đó là những kết luận đáng tin cậy, gần với thực tế khách quan hơn cả.

Chính là dựa vào những quan niệm như thế, mà nhóm chúng tôi tiến hành công tác.

*
*     *

Sau 3 năm nghiên cứu, chúng ta đã đạt được những gì? Chúng tôi chỉ nêu lên tóm tắt những kết quả chủ yếu, không đi tỉ mỉ vào phần chứng minh đã công bố dưới hình thức này hay hình thức khác, và đã có những bản tham luận làm rõ thêm.

1. Bờ cõi nước Văn Lang, quê hương buổi đầu của dân tộc.

Tài liệu khảo cổ học, sử học, ngôn ngữ học, dân tộc học, truyền thuyết dân gian đều hoàn toàn nhất trí cho biết: nơi sinh tụ chủ yếu của tổ tiên ta thời Hùng Vương là miền đất bao gồm đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Cương vực nước ta thời Hùng Vương, trong giai đoạn cực thịnh, về phía Bắc vươn lên tới những vùng đất giáp ranh với bộ phận phía nam Quảng Đông, Quảng Tấy, Vân Nam (Trung Quốc); phía nam tới dãy Hoành Sơn; phía tây bao gồm cả vùng tây bắc hiện nay dọc xuống miền tây đồng bằng Thanh – Nghệ - Tĩnh và Quảng Bình hiện nay; phía đông giáp biển Đông (bao gồm những hải đảo). Quá trình hình thành bờ cõi nước Văn Lang gắn liền với quá trình phát triển nội tại của nước này. Có thể hình dung quá trình đó như sau: thoạt đầu nhóm bộ lạc Văn Lang (bộ Văn Lang của truyền thuyết) sinh tụ ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng này hồi đó mới kiến tạo xong. Bộ Văn Lang này do có trình độ phát triển văn hóa và kinh tế cao (làm ruộng nước, định cư, sớm đạt đến trình độ dùng kim loại…) hưng khởi lên, trở thành hạt nhân cho quá trình hình thành một bộ tộc Văn Lang, thu hút tất cả những bộ lạc sống ở miền đất vừa miêu tả ở trên, họp lại thành nước Văn Lang.

Ngôn ngữ học cho biết phải tìm khu vực cư trú của người thời Hùng Vương trong phạm vi địa vực hình thành các nhóm ngôn ngữ cùng họ hàng Đông Nam Á, cụ thể là trên phần lục địa giới hạn từ sông Dương Tử ở phía Bắc và sông Cửu Long ở phía Tây. Trong khu vực này, địa bàn có hệ thống tộc danh Lang, hệ thống địa danh Kẻ, Cổ… bao gồm phần phía nam Quảng Đông, Quảng Tây trải xuống khắp miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bắc Trung Bộ và vùng đất tương ứng với bờ cõi nước Văn Lang trong thư tịch truyền thuyết… Mạng lưới thổ ngữ ở các xã thôn là bằng chứng sự tồn tại những công xã kiểu phương Đông ở đây.

Tài liệu ngôn ngũ học cho biết đặc trưng ngôn ngữ, một dấu hiệu quan trọng về tộc người, cho phép ta quy được một vùng cư trú, nhưng chưa cho phép xác định quá trình phân bố dân cư. Ở đây, cần đến tài liệu khảo cổ học có khả năng chứng minh chắc chắn tính liên tục của những nền văn hóa phân bố trong phạm vi vùng đất có những địa danh là để để xác minh ranh giới nước Văn Lang. Nhưng có thể biết chắc chắn rằng ngôn ngữ ở vùng đất chúng ta nghiên cứu đã phát triển một cách liên tục, không xảy ra việc thay thế những ngôn ngữ khác nhau về quan hệ thân tộc. Điều này cho phép chúng ta xác định được các nền văn hóa khảo cổ diễn biến tiếp nối trng phạm vi cương vực nước Văn Lang cũng chỉ là những giai đoạn phát triển mà thôi. Bản thân sự phân tích các dầu hiệu về tộc người chứa đựng trong các “văn hóa” mà chúng ta phát hiện được ở đây không có mâu thuẫn, có thể nói là phù hợp với chứng cứ ngôn ngữ học.

Việc phân tích các truyền thuyết thời Hùng Vương, trước hết là truyền thuyết Trăm trứng, đã gạt bỏ phần vô lý, hoang đường về Đế Minh – Thần Nông, giúp ta hình dung được cương vực nước Văn Lang một cách chân thật hơn. Đó là miền đất gồm một phần phía nam của tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ ngày nay. Trên khu vực đó, có những nhóm tộc khác nhau ở thành những vùng gọi là “bộ”. Những tộc người này có thể có quan hệ gần gũi với nhau về nguồn gốc, ngôn ngữ và có thể cả về văn hóa nữa. Về mặt chính trị, những bộ này lại phụ thuộc vào quyền cai quản của Hùng Vương, người đứng đầu bộ trung tâm – bộ Văn Lang. Đất đai của bộ Văn Lang đại khái ở trong phạm vi tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Nội, một phần Hà Bắc ngày nay.

Những tục lệ thờ cúng, những di tích lịch sử có liên quan đến thời kỳ Hùng Vương đều tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Ngoài địa bàn trên, không thấy những nơi thờ, những truyền thuyết về Hùng Vương (ở Hoa Nam cũng như ở vùng đất của người Chàm, người Phù Nam, Chân Lạp cũ).

Toàn bộ những phát hiện về khảo cổ học trong thời gian gần đây cũng chứng minh một cách cụ thể, phù hợp với những kết luận của các bộ môn khoa học nêu trên. Trong vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, thấy có di tích của giai đoạn phát triển. Văn hóa Phùng Nguyên, có nhiều ý kiến cho đó là di tích văn hóa của bộ Văn Lang. Đó là những di tích khảo cổ thuộc hậu thời đại đá mới và sơ kỳ thời đại đồng. Chúng chủ yếu quy tụ tại địa bàn của bộ Văn Lang trong truyền thuyết và thư tịch. Tiếp sau đó là thời đại đồng với những giai đoạn sớm muộn khác nhau. Đến nay, danh từ và di tích giai đoạn đồ đồng sớm đã là một cái gì hiển nhiên được mọi người công nhận, nhưng, khoảng 6 – 7 năm trước đây nó là mối nghi ngờ của các nhà khảo cổ học. Những giai đoạn phát triển của đồ đồng được đánh dấu bằng những mốc lớn như Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Sự liên tục, tính kế thừa đã được mọi người ngày nay công nhận. Đó là những di tích của những tập đoàn người họp thành bộ tộc Văn Lang, là chủ nhân của những di tích văn hóa vật chất của nước Văn Lang, tức là thời các vua Hùng. Phạm vi phân bố của tất cả những chứng tích vật chất về đời sống người dân Văn Lang, tính biến động về ranh giới của các di tích thuộc các giai đoạn, đều phù hợp với những dữ kiện của ngôn ngữ, thư tịch, truyền thuyết nói trên. Một lần nữa, tài liệu khảo cổ học xác minh những điều nói trong các loại tài liệu ở trên là đúng. Nó xác định sự tồn tại của nước Văn Lang với cương vực mà chúng ta đã biết.

Nêu lên ranh giới đại cương của khu vực cư trú của người thời Hùng Vương, chúng ta cần nhấn mạnh đến tính chất tương đối của cái ranh giới này. Là vì trong một thời gian xa xưa cách ta 3000 – 4000 năm, trong xã hội có giai cấp đầu tiên cũng như trong cả thời phong kiến về sau, ranh giới của một nước không thể nào được xác định rạch ròi như ngày nay. Việc di cư và phạm vi cư trú của những tộc người trong lịch sử nước ta là một bằng chứng. Do đó, chúng ta chỉ căn cứ vào những công trình nghiên cứu sau này mà dần dần bổ sung thêm, nhưng có thể nói trước rằng: những điều có thể bổ sung thêm sẽ không làm đảo lộn những hiểu biết chung của chúng ta hiện nay.

2. Thiên nhiên ở vùng quê hương buổi đầu của dân tộc.

Nước Văn Lang ở vào vị trí tiếp xúc giữa miền hệ thống địa lý, nằm trong vòng đai nhiệt đới mà lại không đơn thuần là một nước nhiệt đới, gió mùa đã ảnh hưởng sâu sắc đến thiên nhiên nước ta. Nước Văn Lang có nhiều rừng rậm núi cao, nhiều sông ngòi và được biển cả bao quanh đường ranh giới phía đông.

Ngày nay, qua quá trình đấu tranh của con người với thiên nhiên, rừng rậm đã lùi dần về phía tây, nhưng ở thời Hùng Vương thì rừng còn lan khắp vùng trung du và có thể cả một phần đồng bằng. Tài liệu địa danh cho thấy nhiều vùng gò đồi trọc hiện nay, xưa kia đã phủ rừng dầy đặc. Ngay tại đồng bằng còn giữ được nhiều di tích của rừng: mỏ than bùn tìm thấy ở nhiều nơi như Lỗ Khê (Hà Nội), Thạch Thất (Hà Tây), rừng gỗ tứ thiết ở Sặt (Tráng Liệt, Hà Bắc), rừng Bảng (Đình Bảng, Hà Bắc)…

Những xương thú trong các di tích khảo cổ ở đồng bằng cho thấy thời Hùng Vương ở đây còn có những loài thú rừng như hươu, nai, lợn lòi, hổ, voi, tê giác sinh sống. Cư dân nước Văn Lang phân bổ trên những vùng đồng bằng rộng lớn ở Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. Về mặt địa hình, thổ nhưỡng, đồng bằng Bắc Bộ là một đồng bằng mới kiến tạo (vào khoảng thời đại đá mới), quá trình này chưa hoàn thành thì bàn tay con người đã dựng nên những công trình thủy lợi để khai thác trồng trọt sớm hơn đồng bằng sông Mã. Điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp với nghề trồng lúa nước, và cũng không có gì ngạc nhiên khi những chứng tích khảo cổ cho phép dựng nên cái cột mốc đánh dấu nghề này đã có ít nhất là vào giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

Chính trong quá trình nghiên cứu địa bàn sinh tụ của người thời Hùng Vương mà mới đây được đưa ra một luận thuyết địa chất học mới, có thể nói là táo bạo, về nguồn gốc đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu là do tác động của biển, về sự tồn tại của một thời kỳ băng hà ở Việt Nam, về một trận lũ lụt đã xảy ra trong hoặc ngay trước thời kỳ các vua Hùng, do đó mà có chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh. Song, qua thảo luận giữa cán bộ địa chất học và khảo cổ học, cổ sinh vật học đệ tứ kỷ, thì giả thuyết này phải được củng cố thêm nhiều về mặt tư liệu nữa mới có thể được coi là một giả thuyết khoa học.

Nhìn chung, mọi người đều nhất trí là ông cha ta đã dựng nước trong một khung cảnh thiên nhiên thích hợp, thuận lợi, trên một dải đất có nhiều núi cao rừng rậm, nhiều sông ngòi hồ ao, đường giao thông thuận lợi, giàu khoáng sản, lâm sản, hải sản, trên những đồng bằng màu mỡ thích hợp  với nghề nông. Những yếu tố thiên nhiên tích cực này đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tiến bộ văn hóa, kinh tế, đưa đến chỗ dựng nước Văn Lang, một nước có đủ sức chống ngoại xâm, có nền văn hóa phát triển ở vùng Đông Nam Á thuở đó.

3. Con người.

Về đại thể, chúng ta đã hình dung được, dù là sơ lược, vùng đất đai chủ yếu của nước Văn Lang. Nhưng còn bản thân những người sống trên đó, thì ra sao? Họ thuộc loại hình nhân chủng nào? Đó còn là một vấn đề phải tìm hiểu. Để có một khái niệm nào đó về những tài liệu của nhân chủng học cũng như của các khoa học khác. Vấn đề phức tạp này đòi hỏi một bản báo cáo riêng (1). Ở đây, chỉ tóm tắt mấy điểm chủ yếu.

(1) Xem Nguyễn Đình Khoa: Con người thời Hùng Vương, cũng đăng trong tập này.

- Không những chỉ các nhà nhân chủng học mà tất cả chúng ta đều thống nhất là nước ta thời Hùng Vương đã là một nước có nhiều dân tộc, trong đó người Việt cổ là chủ thể. Chỉ xem xét bản đồ ngôn ngữ - dân tộc học hiện đại cũng đủ rõ điều đó. Hơn nữa, tính chất phức tạp, đa dạng của các loại tài liệu về ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học và khảo cổ học mà chúng ta có được trong tay khi tìm hiểu thời dựng nước cũng nói lên điều đó. Bộ tộc Văn Lang bao gồm nhiều nhóm tộc khác nhau nhưng có quan hệ gần gũi với nhau về nguồn gốc, về văn hóa, về ngôn ngữ. Cư dân thời Hùng Vương không chỉ là tổ tiên riêng của người Việt mà còn là tổ tiên chung của nhiều dân tộc anh em khác nữa.

- Về phương diện nhân chủng, ngoài loại hình Anh-đô-nê-diêng đã sinh sống trên lãnh thổ Đông Dương từ thời kỳ văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn (hồi đó họ còn cộng cư với những chủng Ô-xtơ-ra-lô Mê-la-nê-diêng), trong thành phần cư dân thời Hùng Vương còn có một loại hình nữa mới hình thành trên đất Việt Nam thời đại đồng – đó là loại hình Nam Á. Hai loại hình kể trên đóng một vai trò quan trọng trong sự cấu thành thành phần nhân chủng của cư dân nhiều dân tộc thời các vua Hùng. Loại hình nam á, một loại hình nhân chủng hoàn toàn mới được nhận định, phân chia thêm căn cứ vào tài liệu mới phát hiện được về nhân học. Hiện nay nó còn chưa được nhiều người bàn đến vì tác giả đã phân biệt ra loại hình Nam Á, thì nó có những đặc trưng sau đây: so với người Anh-đô-nê-diêng, loại hình Nam Á tầm người cao hơn, da sáng màu hơn tóc thường có tỷ lệ uốn thấp hơn, chỉ số đầu lớn, tức là đầu ngắn hơn, mặt ít dô hơn, đặc điểm Mông-gô-lô-ít thể hiện ở vùng mắt với tỷ lệ cao hơn, chỉ số mũi nhỏ hơn. Loại hình này được cấu thành chính trên cơ sở loại hình Anh-đô-nê-diêng bản địa.

- Theo tài liệu rút ra từ sách Trung Quốc thì người Việt cổ có tên là người Lạc Việt, nằm trong khối Bách Việt, khối này phân bố khắp vùng hoa nam và bắc Việt Nam với những tên gọi khác nhau. Các tộc trong nhóm này, về phương diện nhân chủng đều là những loại hình Anh-đô-nê-diêng cổ dưới tác động của một quá trình biến chuyển “vàng hóa” thành Nam Á. Người Lạc Việt chính là những người Nam Á Cổ, hoặc những người Anh-đô-nê-diêng đang trong quá trình chuyển hóa trở thành Nam Á.

- Vậy các tộc người trong nước Văn Lang đã phân bố ra sao? Chúng ta không có trong tay những tài liệu trực tiếp để phán đoán, nhưng dùng những tài liệu ghi chép trong sách sử đời sau, chúng ta có thể hình dung sự phân bố cư dân ở miền núi Bắc Việt Nam như sau:

Vùng Việt Bắc ngày nay là nơi tụ cư của người Tày cổ mà sử sách gọi bằng những tên: Âu Việt, Ô Hử, Di Lão (Phù Nghiêm Di, Lão thời Bắc thuộc).

Miền rừng núi thượng lưu sông Hồng về mạn tây bắc có người Tày cổ, người Thoán (thuộc ngữ hệ Tạng-Miến). Chúng ta cần chú ý nhiều hơn nữa tới vùng này vì tài liệu các mặt về vùng này rất thiếu, mà nơi đây lại là con đường giao lưu văn hóa, di dân rất quan trọng giữa cư dân Văn Lang thời Hùng Vương với các cư dân vùng Tây Nam Trung Quốc thời cổ.

Người Việt cổ chủ yếu sống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và các rẻo đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ An. Người Mườn ở trên một vùng đất liển khoảng kéo dài từ Nghĩa Lộ, Yên Bái qua Hòa Bình và Thanh Hóa, Nghệ An và ở cả ven rìa đồng bằng sát với người Việt.

Dân vùng ven biển và hải đảo có thể là những nhóm cư dân nói tiếng Mã-Lai Đa Đảo (Ma-lay-ô – Pô-ly-nê-diêng). Nhưng đây mới chỉ là ức thuyết mà thôi.

4. Số dân

Sau hết, chúng ta có thể đề cập tới vấn đề số dân nước Văn Lang thời Hùng Vương. Tất nhiên chúng ta chỉ có thể phán đoán về tình trạng phân bố mật độ cư dân dựa vào những tài liệu gián tiếp, thuộc vào những đời sau và bằng lòng với những con số đại khái, nêu lên cho có khái niệm, vì ngoài nó ra chúng ta không có con số nào khác.

Hiện nay, chúng ta có những con số hộ khẩu các quận huyện đời Hán, ghi chép trong Tiền Hán thư, nói lên tình hình số dân ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam – tức là đất Văn Lang trước đó vài thế kỷ. Theo Tiền Hán thư – Địa lý chí, quận Giao Chỉ có 92.440 hộ, 746.237 người. Con số này chắc còn xa sự thật, vì ngay trong thời phong kiến và sau này nữa, vua quan cũng không sao có được con số dân, số ruộng chính xác, huống chi trong thời Bắc thuộc!.

Số dân đó đông gấp đôi số dân 4 quận Nam Trung Quốc thuở đó gộp lại: Hợp Phố, Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, tất cả chỉ có 71.805 hộ và 390.555 người. Nếu cộng cả bao quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật  Nam, thì số dân nước ta thời Hán lên gần 1.000.000 người (981.745 người), nghĩa là gần gấp ba hình dung số dân nước Văn Lang. Chắc chắn tình hình cư dân không đến nỗi ngược hẳn lại trong vài thế kỷ trước đó. Tình hình phân bố cư dân trong nội bộ nước Văn Lang cũng không đồng đều. Vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ đông đúc hơn cả, đồng bằng sông Mã thưa hơn, và thưa nhất là ở các vùng núi và vùng Nghệ An – Hà Tĩnh hiện nay. Không những tình hình phân bố các di tích khảo cổ, mà con số cư dân khác nhau giữa ba vùng kể trên trong Tiền Hán thư cũng cho ta thấy rõ điều này: Ở thời Hán, trong lúc số dân ở Giao Chỉ là 746.237 người, thì số dân ở cả hai quận Cửu Chân và Nhật Nam chỉ có 235.498 người.

Số dân cũng là một chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của nước Văn Lang.

*
*     *

Trước đây, nhóm chúng tôi không những chỉ nói lên những kết quả nghiên cứu về đề tài đất nước và con người thời Hùng Vương, mà còn phản ánh những nhược điểm trong công việc làm của chúng tôi.

Đó là những nhược điểm gì và cần làm gì để khắc phục?

1. Trước hết, phải nói ngay rằng trên bản đồ khảo cổ học còn có những vùng bỏ trống. Đặc biệt là vùng núi Tây Bắc, một vùng rất quan trọng. Sử sách của chúng ta đã ghi lại tính chất quan trọng vùng này với tư cách là cái cầu nối để thông qua đó tiếp xúc với khối cư dân Tạng-Miến và các nước ở xa hơn nữa trong các thời kỳ lịch sử từ thời cổ đại đến thời trung đại. Đó là con đường chủ yếu của các luồng di dân, những cuộc chinh phạt, những cuộc trao đổi văn hóa; đó là vùng phân bố những đám cư dân nổi tiếng Môn – Khơ – Me cổ xưa trên lãnh thổ nước ta trước khi có cuộc thiên di lớn của người Thái. Những tài liệu phát hiện được một cách ngẫu nhiên đã mách với chùng ta tầm quan trọng và sự phong phú của miền này về mặt khảo cổ học.

2. Để có được những cứ liệu khảo cổ học chắc chắn, đặt cơ sở cho mọi sự so sánh đối chiếu với các nguồn tư liệu khác, cần tiến thêm một bước trong công tác phân loại hiện vật khảo cổ, phân chia văn hóa khảo cổ. Trong lĩnh vực này, hiện nay có nhiều giả thuyết, nhưng cơ sở tư liệu của chúng còn yếu. Việc công bố tư liệu khảo cổ cần đẩy mạnh thêm: trong thời gian qua việc này làm chưa được khẩn trương cho nên đã có ảnh hưởng nhất định đến việc dùng tư liệu khảo cổ và những kết quả khai quật mới nhất vào việc nghiên cứu.

3. Cần tiếp tục phát huy quan hệ sẵn có giữa các ngành chuyên môn để xác minh thêm môi trường thiên nhiên mà con người thời Hùng Vương sinh sống. Trên cơ sở so sánh với các vùng chung quanh, phải tìm hiểu tác động của thiên nhiên tới sự phát triển kinh tế, văn hóa của nước Văn Lang.

4. Về phương diện cổ nhân chủng, khảo cổ học cần kết hợp chặt chẽ với các ngành khác như dân tộc học, sử học, để xác định tộc thuộc, thành phần cư dân thời Hùng Vương. Trong lĩnh vực này, việc đối chiếu tài liệu nhân học của toàn bộ Đông Nam Á có ý nghĩa lớn để kiểm tra lại những giả quyết mới đây được nêu lên về sự hình thành một loại hình Nam Á thời đại đồng ở Việt Nam.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1
  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2
  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3
  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4
  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5
  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6
  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7
  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8
  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9
  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11
  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12
  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13
  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu
  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn
  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Ngày càng có nhiều người ao ước một lần được đến dầm lòng ở Lệ Chi Viên để… khóc. Đó là một sự thật không cần giải thích, là những xúc cảm ...

Bài 2: Giải ảo nghi án “quan Thái sư hóa hổ, giết vua”! Người ta bảo, các nhà khảo cổ, các nhà địa chất và mấy bác làm sử là những người tiêu thời ...

Sông Đuống kỳ tích và kỳ ảo cả đôi bờ, cả trong trận mạc xưa lẫn trong ngun ngút thơ văn. Nếu thi sỹ Hoàng Cầm tiếp tục “anh đưa em về Sông ...

Góp bàn về văn hóa Đông Sơn: Văn hóa Đông Sơn nói chung và di chỉ Đông Sơn nói riêng, từ lâu đã trở thành đề tài được các nhà khảo cổ học, sử ...

Các giai đọan phát triển của văn hóa Phùng Nguyên qua hoa văn đồ gốm. Một trong những vấn đề khảo cổ học có tầm quan trọng đáng kể hiện nay là việc ...

Về khái niệm thời Hùng Vương: Thế nào và lúc nào là thời Hùng Vương? Thời gian vừa qua, các nhà nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều suy nghĩ, nhưng chưa có dịp ...

Thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên qua tài liệu khảo cổ học Tới nay, trong khi nghiên cứu vết tích vật chất của thời kỳ Hùng Vương, ta thường ...

Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương: Những truyền thuyết về họ Hồng Bàng, về các vua Hùng, từ lâu, mọi người đều đã biết (tuy chưa đầy ...

Vang Pao và ảnh hưởng của Chú SamPháp bị đại bại tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, đưa đến hiệp định Geneva.  Pháp rút lui dần khỏi địa bàn ...

Hợp tác với Pháp chống NhậtKhi nước Pháp bị Đức Quốc Xã cai trị vào năm 1940, quân Nhật liền chiếm đóng Đông Dương. Toàn quyền Decoux được Nhật để ...