Hát Xẩm: Tiếng lòng chẳng nhẽ mãi hắt hiu!

Ngày đăng: Thứ hai 05/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

“Xẩm” vừa là tên gọi của thể loại, đồng thời cũng là tên gọi của những nghệ sĩ hành nghề, như anh xẩm, chị xẩm hay bác xẩm... Trong những đồ nghề bất ly thân của mỗi nhóm xẩm truyền thống, bao giờ cũng có một chiếc chậu đồng thau... Các cụ kể rằng, tục truyền ngày xưa, lâu lắm rồi, có lẽ vào khoảng cuối đời Trần, vua cha sinh hạ được hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh (Có nơi gọi là hoàng tử Thiện và Ác).Thương yêu hai con như nhau, không biết nhường ngôi cho ai, nhà vua liền truyền lệnh cho hai hoàng tử lên rừng đại ngàn tìm ngọc quý, ai đem về trước sẽ được nối ngôi vua. Vâng lời vua cha, hai anh em tức tốc lên đường.

Trải qua nghìn trùng gian lao vất vả, cuối cùng hoàng tử Đĩnh đã tìm được viên ngọc quý. Nhưng rồi với lòng gian tham đố kỵ, Toán bèn lừa lúc Đĩnh ngủ say, rút gươm chọc mù hai mắt Đĩnh rồi cướp lấy ngọc đem về. Trong cơn bĩ cực khốn cùng, với cặp mắt mù lòa, hoàng tử Đĩnh đã lần mò trong rừng sâu, nhặt được hai mảnh tre khô, liền gõ vào nhau giả tiếng chim chóc để chúng tha thức ăn đến cho chàng cầm hơi, rồi hoàng tử lần mò dần ra cửa rừng. Vô tình quờ quạng được sợi dây rừng, tước nhỏ, se lại, Đĩnh buộc vào cây song mây hình cánh cung để làm đàn và cất lên những khúc nhạc lòng ai oán. Những người sơn tràng nghe thấy, liền đưa chàng ra khỏi rừng. Từ đó, hàng ngày hoàng tử Đĩnh lần mò ra xóm chợ, ngã ba đường, kiếm sống bằng chính lời ca, tiếng đàn của mình. Tiếng đồn về những khúc nhạc của người nghệ sĩ mù dần vang xa, lan mãi đến tận kinh thành và tới tai nhà vua... Nhờ đó mà vua cha đã tìm được Đĩnh và trừng trị Toán. Nghệ thuật hát xẩm nước Nam ta bắt đầu từ đấy. Trong truyền thuyết về tổ nghề cũng như trong hiện thực, hát xẩm vốn là một loại hình nghệ thuật âm nhạc của những nghệ sĩ hát rong - mà chủ yếu là những người khiếm thị. Trong mỗi nhóm xẩm, ít nhất phải có một người như vậy. “Xẩm” vừa là tên gọi của thể loại, đồng thời cũng là tên gọi của những nghệ sĩ hành nghề, như anh xẩm, chị xẩm hay bác xẩm... Trong những đồ nghề bất ly thân của mỗi nhóm xẩm truyền thống, bao giờ cũng có một chiếc chậu đồng thau. Bên cạnh chức năng vốn có trong sinh hoạt thường nhật, nó còn là vật rất hữu dụng khi xẩm hành nghề. Trước khi an vị nơi xóm chợ, đầu làng để cất lời ca tiếng hát, họ luôn đặt nó ra trước mặt để khách vãng lai bỏ tiền thưởng. Bởi thời trước, người ta hay dùng tiền kim loại. Khi người xem ném tiền thưởng vào chậu, người nghệ sĩ khiếm thị nghe thấy sẽ biết mình đạt được “thành quả” lao động như thế nào để còn hứng khởi tiếp xướng. Đó quả là một hiện tượng hết sức thú vị!

Theo thời gian, xẩm đã dần phát triển và định hình thành một nghệ thuật âm nhạc độc đáo với hệ thống làn điệu riêng. Bởi thế, tên những điệu hát này thường hay kèm theo chữ “xẩm”, như những làn điệu xẩm xoan, xẩm chợ… với tính chất lạc quan, khỏe khoắn, tươi vui, yêu đời.

Trong hệ thống làn điệu của Xẩm, có những làn điệu hấp dẫn, đặc sắc đến mức các bộ môn nghệ thuật khác như Chèo, Quan họ và thậm chí Ca trù đều phải “vay mượn”, như các điệu xẩm huê tình, xẩm chợ, xẩm xoan... Bài xẩm huê tình khi được các đào nương, kép đàn ca trù du nhập vào trong hình thức ca quán thính phòng, thường gọi là điệu xẩm cô đầu (hay xẩm nhà trò). Nói vậy để thấy các nghệ sĩ giáo phường ca trù rất tôn trọng nghệ thuật xẩm, họ vẫn giữ chữ “Xẩm” ở làn điệu này nhằm chỉ rõ gốc gác của làn điệu.

Nhìn chung, dung lượng lời ca các bài xẩm thường khá dài, đủ để chuyển tải nhiều nội dung khác nhau, mang đậm phong cách hát kể chuyện. Không tìm thấy những bài ca ngắn gọn ở đây. Điều này có thể hiểu được, bởi trong môi trường diễn xướng hỗn tạp đông người nơi đầu chợ, bến đò, góc phố.., sự “dài hơi” của những bài ca là điều tối cần thiết. Người ta sẽ không thể cảm nhận kịp những bài ca ngắn (kiểu cấu trúc ca khúc). Thế nên các nghệ sĩ xẩm luôn phải sáng tạo thật nhiều lời ca dài khác nhau để câu khách. Ngay đến câu ngâm sa mạc - một làn điệu mà chỉ cần một cặp lục bát là đủ một đơn vị tối thiểu, xẩm đã dùng để ngâm cả một chuyện thơ dài, như bài Anh khóa chẳng hạn, đến vài chục câu thơ lục bát. Tính kể chuyện - câu khách dường như là một sự thích ứng hoàn hảo trong bộ môn nghệ thuật này. Làn điệu “trường thiên”, nổi tiếng nhất của Xẩm có lẽ là điệu xẩm thập ân. Nội dung kể về công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục, từ lúc phôi thai, mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn cho đến lúc trưởng thành như thế nào... Với tính chất da diết, xoáy sâu vào lòng người, xẩm thập ân được xem như làn điệu đặc trưng nhất của nghệ thuật Xẩm. Nó được coi như một trường ca giáo hiếu hoàn hảo. Nếu hát liền mạch đủ từ một ân đến mười ân, dễ phải đến nửa giờ đồng hồ. Trong những làn điệu man mác buồn, day dứt, còn phải kể đến điệu hà liễu - chuyên dùng cho những bài thơ tự sự, giãi bày nỗi niềm, thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa… Bên cạnh những làn điệu riêng, trên đường phiêu diêu lang bạt kỳ hồ, xẩm còn du nhập nhiều làn điệu dân ca khác, bên cạnh những làn điệu vay mượn ở những thể loại bạn như hát ví, trống quân, sa mạc, hành vân, lưu thủy... Điều đặc biệt, những làn điệu đó đều được “xẩm hóa” cho đúng với phong cách dân dã, giang hồ của các nghệ sĩ. Như điệu hát trống quân chẳng hạn, vốn là một điệu hát đối đáp trai gái trữ tình, xẩm đã chuyên dùng làn điệu này để chuyển tải những nội dung châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội, như bài Dâu lười hay Rể lười... Cũng có khi là cả một bài thơ cập nhật những sự kiện nóng hổi mang tính thời sự.

Nghệ nhân Hà Thị Cầu

Về nhạc cụ, điều đáng nói trước nhất là cây đàn bầu. Theo truyền thuyết, nó được coi là nhạc cụ đặc trưng của xẩm lúc ban đầu (thế nên người ta còn gọi nó là đàn xẩm). Một nhóm xẩm thuộc loại “vai vế” trong vùng không thể thiếu được nhạc cụ này. Song, phần vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm xẩm nào cũng sử dụng đàn bầu. Chồng bà Hà Thị Cầu - nghệ nhân xẩm Nguyễn Văn Mậu là một trùm phường xẩm chơi đàn bầu nổi tiếng thời trước ở vùng Ninh Bình. Theo thời gian, về cơ bản, một nhóm xẩm thường phải có đàn nhị, sênh, phách và cặp trống mảnh (trống da một mặt). Tùy vào điều kiện nhân lực, họ cũng có thể chơi đủ cả đàn bầu hay đôi khi thêm vào chiếc trống cơm hoặc sáo. Nhưng với hoàn cảnh lang thang kiếm sống nay đây mai đó, nhiều khi chỉ cần một đàn nhị và cỗ phách đơn hay cặp sênh là đủ tiếng tơ đồng phụ họa. Khi trình diễn, bao giờ cũng có một người hát chính, những người còn lại chơi nhạc cụ đệm hoặc hát đỡ giọng khi cần.

Nói về khả năng trình diễn, xẩm thuộc loại bộ môn mà nghệ nhân luôn phải vừa hát, vừa diễn tấu nhạc cụ cùng lúc. Ở đây, có lẽ tính chất o ép miếng cơm manh áo đã khiến người nghệ sĩ buộc phải rèn luyện tối đa để thích ứng với sự “tinh giảm biên chế”, nhưng vẫn đảm bảo sự phong phú về nghệ thuật. Vừa đàn vừa hát được xem như một tiêu chuẩn “có hạng” của một bác xẩm thực thụ. Bên cạnh đó, cũng không hiếm những nghệ sĩ đa năng hơn, như bu tôi - nghệ nhân Hà Thị Cầu là một ví dụ điển hình. Bà thường vừa hát vừa có thể sử dụng trống phách bằng cả tay… lẫn chân. Ngón chân phải kẹp 1 dùi gõ cỗ phách. Tay trái cầm cặp sênh, đồng thời gác lên thành chiếc trống mảnh thứ nhất, giữ chặt chiếc trống này tỳ vào đùi bên trái theo phương thẳng đứng. Chiếc trống mảnh thứ hai được gác vào bắp vế đùi trái (hoặc gác vào cổ chân như trong ảnh). Tay phải bà cầm dùi vừa gõ trống, vừa gõ phụ trợ vào cặp sênh.

Hãy thử hình dung xem, tay trái giữ sênh đi một chùm tiết tấu riêng, phách dưới chân đi nhịp đồng độ, tay phải lên xuống gõ “bập bung” vào 2 mặt trống, đồng thời gõ cả vào sênh, miệng vẫn bỏm bẻm nhai trầu, hát cứ như không, thật thiện nghệ.

Xẩm hoạt động theo từng gia đình đơn lẻ. Trong những dịp hội làng, họ cũng thường hay kết nhóm để tăng cường khả năng phối hợp nghệ thuật giữa chốn đông người. Trong từng vùng, các nhóm xẩm lại kết thành phường hội với sự sắp đặt trên dưới rất có tổ chức. Trùm phường có nhiệm vụ bảo ban, điều hành các nhóm làm ăn sao cho có nền nếp, trật tự. Bên cạnh đó, họ cũng rất có ý thức trong việc tổ chức truyền nghề cho đám con em. “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” là cái nết ăn, nết ở không thể thiếu để các nghệ sĩ có thể dựa dẫm, đùm bọc lẫn nhau trên mọi nẻo đường sinh nhai.

Xuân thu nhị kỳ, khoảng hạ tuần tháng Hai và tháng Tám âm lịch, cả phường xẩm lại tụ họp với nhau trong những ngày giỗ Tổ nghề. Chẳng có đền đình, miếu điện hay thậm chí một ngôi nhà khang trang nào, họ chỉ “mượn tạm” bãi đất hoang, góc chợ vắng hay ngôi điếm nhỏ ven đường làm nơi dựng đàn tế tổ. Thành tâm, thành ý cầu khấn đức ngài Trần Thánh sư về chứng chiếu phẩm vật, nghe tiếng đàn ca sáo nhị tấu thờ mà phù hộ độ trì cho xẩm, mong sao kiếm đủ miếng cơm manh áo giữa dòng đời xuôi ngược. Tế lễ xong, vợ chồng, cha con lại dắt díu, bồng bế nhau lên đường, tỏa đi khắp nơi để kiếm sống bằng lời ca tiếng hát của mình.

Địa bàn hoạt động của các nhóm xẩm thông thường chỉ cố định tại một tỉnh thành, nơi đông người qua lại. Phần nhiều, các nhóm sẽ “cát cứ”, khoanh vùng hoạt động riêng biệt và không “lấn sân” nhau. Theo lời kể của học giả Tô Ngọc Thanh, hồi còn nhỏ, ông đã từng chứng kiến bốn phường xẩm “trấn giữ” bốn góc hồ Hoàn Kiếm. Có thể nói đó là thời kỳ cực thịnh của nghệ thuật hát xẩm. Tuy nhiên, khi gặp phải thời kỳ làm ăn khó khăn, đặc biệt là lúc giáp hạt, mất mùa, các nhóm xẩm đơn lẻ buộc phải đi tha phương, lưu diễn liên tỉnh. Gặp nơi “đất lành”, họ dừng lại hành nghề. Đến khi vận may không còn, lại khăn gói lên đường như những cánh chim không mỏi.

Lịch sử đau thương nhất của xẩm là thời kỳ nạn đói năm Ất Dậu, rất nhiều nhóm xẩm đã bị xóa sổ. Nhóm của bu tôi, khi đó, với sự sáng suốt của người chồng - Trùm phường vùng Yên Mô - Ninh Bình đã nhanh chóng ly hương vượt dặm trường, thoát lên tới tận vùng người Mường xứ Thanh. Nhờ vậy mà vợ chồng bà mới thoát nạn. Nói vậy để thấy xẩm kiếm sống hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội. Nước nổi, bèo trôi, xẩm không có tấc đất canh tác cũng như bất cứ một nghề phụ nào. Và điều đó cũng có nghĩa, xẩm là loại hình có tính chuyên nghiệp vào bậc nhất trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

Từ một môi trường diễn xướng là hát rong, đã phát sinh ra một loại hình nghệ thuật chuyên biệt quả là một hiện tượng đặc biệt trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Ở đây, cần hiểu rõ tư cách của người hát xẩm. Họ là những nghệ sĩ chân chính, làm đẹp cho đời và kiếm sống bằng chính tài năng nghệ thuật của mình. Xẩm hoàn toàn không phải là những người ăn mày. Họ sống bằng những đồng tiền thù lao tự nguyện của mọi người chứ không bao giờ ngửa tay van xin bố thí.

Nhìn trên diện rộng, xẩm cũng giống như tất cả mọi nghệ sĩ chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ, sân khấu của họ chính là đường phố, là gốc đa, bến nước, sân đình... hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê nghèo. Thù lao không tính trước kiểu “bán vé” mà “tự do thả nổi”, ai muốn trả bao nhiêu thì… tùy! Nghệ nhân ca trù Kim Đức cho tôi hay, thủa còn “đào Hồng đào Tuyết” ở Khâm Thiên, mỗi lần rỗi rãi, thấy nhóm xẩm đi qua, đám đào kép ca trù cũng thường mời xẩm vào nhà trình diễn. Bà cũng thừa nhận xẩm không ăn xin bao giờ, và nếu muốn nghe xẩm hát trong nhà, phải có lời mời đàng hoàng, tử tế, mới hay.

Như vậy, đã có một thời, xẩm là món ăn tinh thần của quần chúng lao động. Với bản chất nghệ thuật ngẫu hứng ứng diễn, hát xẩm có nội dung nghệ thuật rất phong phú và đa dạng. Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Không chỉ phục vụ cho đám đông ngoài xã hội, người nghệ sĩ xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu, nhiều thì trong dịp cưới xin, ma chay, giỗ kỵ.., ít thì đơn giản chỉ là “nhờ bác xẩm đánh tiếng dùm” với cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng... Thế thôi!

Hiện tại Đã có một thời hoàng kim của nghệ thuật hát xẩm trong quá khứ. Lịch sử đã từng ghi nhận như vậy. Còn trong hiện tại, bộ môn nghệ thuật này ra sao? Trước hết, xin hãy quan sát những người hát rong trên đường phố, với cây đàn ghi-ta điện và bộ khuếch đại âm thanh lưu động. Họ chỉ hát những thể loại nhạc mới, trong đó chủ yếu là “nhạc vàng” của miền Nam trước giải phóng hay nhạc Việt hải ngoại... Họ tuyệt nhiên không biết hát xẩm và không thể gọi họ là những nghệ sĩ xẩm truyền thống. Thực tế, từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm, các phường xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Họ được quy tụ lại trong những hợp tác xã vót tăm tre, hay bện… chổi rơm. Các nghệ nhân xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sĩ xẩm không còn nữa. Trong các trường đào tạo nghệ thuật âm nhạc của ta, nhạc cổ truyền dân tộc vốn chỉ được giảng dạy với một dung lượng hạn chế, theo kiểu “mỗi thứ một tí”, trong số đó tuyệt nhiên không có nghệ thuật xẩm. Đây đó, một số đoàn chèo, một vài nghệ sĩ có ý thức giữ gìn nghệ thuật xẩm đã tiếp thu được vài làn điệu để làm vốn trình diễn. Trong số đó, có nghệ sĩ Thanh Hoài, Xuân Hinh, Thanh Ngoan... là những hiện tượng đáng trân trọng và nên phát huy. Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, dung lượng của nghệ thuật xẩm truyền thống ở đây đã bị “nhòa” đi rất nhiều, vì bản thân họ vốn là nghệ sĩ hát chèo. Họ thường xử lý kỹ thuật thanh nhạc trong bài bản có nhiều điểm khác hẳn với nghệ nhân xẩm.

Hiện tại, vâng! Vẫn trong hiện tại, còn một nghệ nhân xẩm cuối cùng của Việt Nam, đó là bu tôi - nghệ nhân Hà Thị Cầu, đã vào cái tuổi bát thập cổ lai hy, hiện đang sống tại Yên Phong - Yên Mô - Ninh Bình. Bà đã được Nhà nước phong tặng Nghệ sĩ ưu tú. Tuy vậy, những người nghiên cứu và bảo vệ văn hóa nghệ thuật cổ truyền vẫn gọi bà là nghệ nhân- cái danh hiệu cao quý mà chỉ có cuộc đời mới phong tặng được cho những bậc tài danh như bà.

Nếu chúng ta không kịp làm những gì mà “thà muộn còn hơn không ” thì, chắc hẳn trong tương lai xa xôi, người đời sau sẽ kể lại rằng: “Ngày xửa ngày xưa, xưa lâu lắm rồi, vào khoảng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, ở Việt Nam ta còn mỗi một nghệ nhân hát xẩm cuối cùng. Mọi người đều ý thức được điều đó. Ấy thế mà nghệ thuật xẩm vẫn bị thất truyền..!”

Bài viết cùng chuyên mục

Một năm có bốn mùa. Mỗi mùa có ba tháng, gọi theo thứ tự là mạnh, trọng, quý. Tứ quý là bốn tháng cuối của bốn mùa. Tháng ba: Quý xuân. Tháng sáu: Quý ...

Tuy chỉ là một lễ hội ở quy mô nhỏ, hội rước pháo làng Đồng Kỵ (xã Đồng Quang, Từ Sơn) vẫn nổi tiếng khắp cả nước bởi duy trì được nét truyền ...

Nhà vua gương mặt uy nghiêm, mình khoác long bào, đầu đội mũ ngự ngồi trên ngai vàng, xung quanh cờ lọng rợp trời, trống chiêng rộn rã, đoàn người kéo dài ...

Lễ rước Mục Đồng - lễ hội dành cho trẻ chăn trâu - ngày xưa được tổ chức ở làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Theo cụ Ngô Tấn Nhã, ...

Hội đua voi diễn ra vào mùa xuân (khoảng tháng 3 âm lịch). Hội đua voi thường diễn ra ở Buôn Ðôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêvepốc (Ðak Lak). Bãi đua là ...

Đồng bào Dao có một số tín ngưỡng về thần linh, ma quỉ và có một số tục lệ thờ cúng truyền từ đời này qua đời khác, một trong các tục thờ cúng ấy ...

Một nét đẹp đã trở thành truyền thống trong đời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên dải đất Việt Nam là lòng tôn kính, yêu thương và biết ơn sâu ...

Trên mỗi làng quê Việt Nam, có biết bao điều kỳ lạ và hấp dẫn quanh tục lệ đón xuân. Dù có khác nhau ở từng dân tộc, song những tục lệ đó đều toát ...

Trong kho tàng những huyền thoại Việt Nam, câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh hay chuyện tình Ngọc Hoa đã trở thành quen thuộc với nhiều người, nhiều thế hệ.

Mbăng Katê là lễ hội của người Chăm, lễ có quy mô lớn và kéo dài nhiều ngày và cũng là dịp để người Chăm tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, các vị ...