undefined

Định mệnh có thật hay không? - Phần 29

Thứ tư 21/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản văn hóa thông tin

Họ chợt nhận thấy rằng: Hầu hết những dân tộc có nền văn hoá cổ xưa trong lịch sử nhân loại hiện tại, đều có ghi nhận qua truyền thuyết về một trận Đại Hồng Thuỷ. Nếu những di sản văn hoá vật thể nối dài theo trục Đông Tây của Địa cầu mà người viết đã trình bày ở trên, có thể là điều kiện cho một phương pháp minh chứng cho một nền văn minh kỳ vĩ đã từng tồn tại. Một phương pháp nữa chính là những giá trị văn hoá phi vật thể còn sót lại từ những nền văn minh khác nhau, nhưng chúng lại có nội dung giống nhau về những nguyên lý của một lý thuyết thống nhất mà người viết đã trình bày. Trong phần này, xin được giới thiệu với bạn đọc một phương pháp khác, thuộc về những phương tiện của ngành khoa học hiện đại kết hợp với những tri thức của nó, chứng minh cho khả năng tồn tại một trận Đại Hồng Thuỷ.Xin xem đoạn trích dẫn sau đây:

Những thách đố cho khoa học
Về trận Đại Hồng thuỷ , Kinh Thánh viết rằng:”....Tất cả các vòi phun nước từ sâu thẳm đã vỡ ra...” và “mưa liên tục trong 40 ngày đêm liền”. Tiến sĩ người Mỹ Boumgadner mới đây đã xây dựng một chương trình siêu máy tính, chứng minh kịch bản đó là hoàn toàn có thể.

Đại hồng thuỷ truyền thuyết hay sự thật
Chúa Trời trong vòng 6 ngày đã sáng tạo ra vũ trụ và con người, với Adam và Eva là tổ tiên ban đầu của con người hiện nay. Nhưng từ những ngày đầu khi mới được Chúa tạo ra, Eva đã bị con mãng xà quyến rũ, lừa cho vợ chồng họ ăn trái cấm, vi phạm lời căn răn của Chúa. Từ đó, cùng với sự sinh con đàn cháu đống, loài người ngày càng gia tăng tội lỗi, đến mức Chúa Trời cảm thấy đau khổ, không chịu đựng thêm được nữa, đành phải huỷ bỏ mọi sự sống chết trên trái đất. Tuy vậy trong mắt Chúa trời, Noah là người công chính mà Chúa Trời tin tưởng, cho nên thay vì phá huỷ tất cả để làm lại từ đầu sự sống trên trái đất, Chúa đã phải làm một Đại Hồng thuỷ nhằm huỷ diệt tất cả, trừ gia đình Noah cùng với một số động vật (mỗi loại một cặp đực cái). Sóng thần nổi lên, mưa liên tục 40 ngày đêm, tất cả các ngọn núi đều đắm chìm trong nước, lâu đến 150 ngày.


Tiến sĩ Địa vật lý John Baumgardner, hiện làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, trực thuộc Bộ Năng lượng Mỹ, là tác giả của chương trình máy tính có tên Terra, một trương trình đặc biệt có giá trị trong nghiên cứu động đất, núi lửa và sự di chuyển của các mảng thạch quyển. Một trong những lĩnh vực mà ông đã bỏ rất nhiều công sức và gặt hái được một số thành quả là: Kiến tạo vỏ trái đất có liên quan đến trận Đại Hồng thuỷ. Sau đây là tóm tắt các kết quả nghiên cứu của ông.
Để hiểu được nghiên cứu này, trước hết bạn hãy làm quen với cấu trúc quả địa cầu mà chúng ta đang sống trên đó.


Hãy tưởng tượng trái đất giống như một quả trứng luộc lòng đào, với đường kính trung bình 12.750 km. Vỏ cứng ngoài cùng của trái đất (tương tự vỏ trứng) rất mỏng so với các lớp trong, độ dày chỉ từ vài đến 100km. Dưới đại dương là chỗ mỏng nhất của vỏ cứng trái đất (khoảng 3km). Trung bình, lớp vỏ này ở phần lục địa khoảng 30km, còn tại những dãy núi cao có thể lên đến 100km. Cũng giống như vỏ trứng, vỏ cứng trái đất rất giòn và dễ vỡ.


Dưới vỏ cứng là lớp vỏ giữa trái đất (manti) tương tự như lớp lòng trắng trứng, có bề dày 2.900 km. Đây là lớp đá bán đặc ( không chắc chắn hoàn toàn như lớp vỏ cứng) có mật độ vật chất cao. So với lớp vỏ cứng, lớp này chứa nhiều sắt, magie và canxi hơn. Nhiệt độ tất nhiên cũng cao hơn vì càng tiến sâu vào nhân trái Đất, nhiệt độ càng cao.


Tại trung tâm quả Đất, giống như lòng đỏ trứng (ở dạng lòng đào), là phần nhân, hay lõi. Phần này gồm 2 lớp: lớp lỏng ở bên ngoài (2.200 km), lớp đặc biệt ở bên trong (1.250). Nhân qủa đất có mật độ cao hơn nhiều phần vỏ vì nó chứa hợp kim niken.


Lớp vỏ cứng và phần trên của vỏ giữa tạo thành một lớp thạch cầu cứng, có bề dày trung bình là 80 km, nhưng không đồng đều giữa đại dương và lục địa. Các nhà khoa học tin rằng bên dưới lớp thạch bán cầu là một lớp mỏng, khá động của vỏ giữa. Lớp này thường bị nóng lên, mềm đi và có thể trôi chảy dưới lớp thạch cầu. Đúng hơn, lớp thạch cầu phụ thuộc vào độ nhớt của lớp yếu.


Quay lại với công trình của Tiến sĩ Baumgardner và chương trình siêu máy tính Terra. Terra chia vỏ giữa của trái đất thành 10 triệu hình lục giác, mỗi lục giác này được gán cho một giá trị như sức nóng, độ nhớt, phương hướng và các thông số cần tìm kiếm khác. Hãy tưởng tượng một khối rubic tròn với 10 triệu khối lục giác nhỏ cấu thành. Terra bắt đầu chạy từng lục giác theo thời gian, quan sát xem các lục giác đó đi đâu và kết quả sẽ di động các đĩa thạch cầu như thế nào. Với kỹ thuật đồ hoạ máy tính hiện nay, bạn có thể tưởng tượng khi chạy Terra, ta sẽ thấy trên màn hình một hình ảnh thu nhỏ của quá trình di chuyển vỏ trái đất qua hàng triệu năm.


Dựa vào cơ sở lý luận nào mà có thể chạy được các tiểu lục giác cấu thành lớp vỏ giữa trái đất? Như đã nói ở trên, lớp vỏ giữa trái đất được tạo bởi loại đá silicat khá mẫn cảm với nhiệt, tức ở nhiệt độ cao loại đá này dễ dàng hoá lỏng, độ nhớt tăng lên. Càng đi sâu vào trong lòng đất, nhiệt độ càng tăng lên. ở độ sâu khoảng 150 km, đá Silicat của vỏ giữa trái đất có thể đạt đến 70-80 % nhiệt độ nóng chảy. Vật chất (đá) của lớp vỏ giữa bắt đầu một quá trình đối lưu, giống như hiện tượng đối lưu khi ta đun một nồi nước. Vật chất nặng hơn và lạnh hơn ở bề mặt sẽ chìm xuống đáy, trong khi lớp vật chất nhẹ, nóng hơn ở gần nguồn nhiệt sẽ nổi lên bề mặt. Hiện tượng này tạo nên một quá trình đối lưu vật chất trong lòng vỏ giữa trái đất, vì vậy vỏ giữa không còn ở trạng thái tĩnh, mà động.


Một khái niệm địa vật lý mà tiến sĩ Baumgardner đã dùng là quá trình sụt trôi (runaway subduction). Theo đó, lớp vỏ cứng nặng nề của trái đất chứa một năng lượng giống như thế năng có trong một hòn đá được nâng khỏi mặt đất vậy. Thả cho hòn đá rơi, thế năng sẽ biến thành động năng và khi hòn đá chạm đất, động năng sẽ biến thành nhiệt năng. Tương tự như vậy, các đĩa của vỏ trái đất luôn bị lực hấp dẫn của nhân trái đất lôi vào trong, nên luôn chứa trong nó một thế năng khổng lồ. Do bề dày không đồng đều, ở những chỗ mỏng, yếu của vỏ cứng bị nứt, rạn, dẫn đến cả một nền đáy đại dương bị kéo chìm vào phần vật chất nhẹ hơn, nóng hơn của vỏ giữa, là nơi cấu tạo bởi lớp đá silicat. Khi các đĩa vỏ cứng “rơi” vào vỏ giữa, nó tạo nên sự biến dạng của lớp đá Silicat viền xung quanh. Năng lượng này cuối cùng sẽ được chuyển thành nhiệt, dẫn đến một vành đai bao quanh vỏ cứng trỏ nên cực nóng. Do đá silicat nhạy cảm với nhiệt nên nó bị hoá lỏng dưới nhiệt độ cao này, làm cho đĩa vỏ cứng chìm càng nhanh hơn vào lớp vỏ giữa. Khoảng cách rạn nứt giữa các đĩa của lớp vỏ cứng vì thế ngày càng rộng ra, tạo khe hở cho phần vật chất nhẹ nóng và lỏng trong vỏ giữa trái đất phun trào. Quá trình này dẫn đến sự biến dạng toàn bộ bề mặt trái đất. Lục địa vốn là một khối, lúc này tách ra thành các mảng trôi giạt và rời xa nhau như hiện nay. Quá trình suy sụp vỏ cứng này xảy ra rất nhanh. Nước đại dương khi theo các vết sụt là lỗ hổng mới tạo thành ở đáy biển rơi vào lớp vỏ giữa lập tức biến thành những luồng hơi cực nóng và bị phun ngược trở lại không gian với tốc độ siêu âm. Luồng phản lực hơi này khi xuyên qua bề dày đại dương đã cuốn theo nước biển, bắn nước biển lên không trung theo những quỹ đạo mở rộng về mọi phía, tạo ra mưa liên tục cho đến khi quá trình phun hơi nước chấm dứt. Kinh thánh viết: “...tất cả các vòi phun nước từ sâu thẳm đã vỡ ra... “ và “mưa liên tục trong 40 ngày đêm liền” . Kết quả tất yếu của kịch bản này là Đại Hồng Thuỷ.


Để chấp nhận được kịch bản này, vẫn còn 3 câu hỏi lớn cần phải trả lời. Thứ nhất, theo thuyết sụt trôi thì vùng vỏ cứng của đáy đại dương ở những chỗ rạn nứt sẽ có nhiệt độ rất cao, và quá trình chìm sụt tiếp tục mãi, nhưng tại sao sau trận lụt, vỏ trái đất lại nguội ngay và quá trình chìm sụt không diễn ra nữa? Thứ hai, nước từ đâu ra lắm thế để có thể mưa 40 ngày đêm liên tục? Thứ ba, theo cơ chế kích hoạt nào để quá trình sụt trôi có thể bắt đầu.


Để chấp nhận được kịch bản Đại Hồng Thuỷ, TS Baumgardner phải trả lời được 3 câu hỏi lớn: Tại sao sau trận lụt, vỏ trái đất lại nguội ngay và quá trình chìm sụt không tiếp diễn, nước ở đâu nhiều thế để có thể mưa suốt 40 ngày, và cả chế kích hoạt nào để quá trình sụt trôi bắt đầu? Để trả lời câu hỏi thứ nhất, Baumgardner cùng nhà khoa học trẻ Nathanial Morgan tại phòng thí nghiệm quốc gia Los Almos, dựa vào nguyên lý của quá trình truyền nhiệt đa pha đã khẳng định:

1- Việc hình thành cột hơi nước bắn lên với tốc độ siêu âm tại những vết nứt là có căn cứ khoa học.
2- Chính tốc độ cao của các cột hơi nước này đã làm nguội lớp vỏ cứng trái đất. Với tốc độ 14 km/giây, 1kg hơi nước chứa 108 j động năng. Đây chíhh là năng lượng từ đá nóng chuyển qua. Lượng năng lượng này đủ làm nguội đi 1000 độ K của 140 kg đá. Khi lớp thạch cầu nguội lại, quá trình phun hơi nước kết thúc, quá trình chìm sụt cũng bị ngưng, vỏ trái đất trở lại trạng thái tĩnh cho đến ngày nay. Vấn đề thứ hai đã được lý thuyết cuốn nước, tức nước biển bị cuốn theo các cột hơi nước giải đáp. Do các cột hơi nước được phóng ngược ra ngoài vỏ trái đất với tốc độ cực lớn (tốc độ siêu âm), khi xuyên qua lớp nước biển nó rất ít bị hoà trộn vào nước biển, đồng thời cuốn nước biển theo. Cũng vì thế biển chỉ nóng lên chút ít, chứa thể đạt đến nhiệt độ sôi để nước biến thành hơi rồi thành mây, mưa như trong kịch bản “mây - mưa” mà nhiều người đề nghị. Do quá trình sụt trôi diễn ra ở quy mô lớn, vết nứt của lớp thạch cầu xuất hiện liên tục, ngày càng lan rộng ở vị trí biên giới giữa đại dương và đất liền, lượng nước biển bị cuốn theo các cột hơi nước là khổng lồ, đủ sức làm ngập chìm toàn bộ trái đất. Hai câu trả lời trên có thể thuyết phục được bởi tính khoa học của nó, song đến câu hỏi thứ ba, những người theo trường phái sáng tạo chưa thể tìm được băng chứng mang tính khoa học. Thay vì thế, họ khẳng định: Chúa trời tạo ra cơ chế đó, hay nói nôm na, Chúa trời đã kéo cò cho sự sụt trôi vỏ trái đất. Với các dữ liệu cho trước, chương trình Terra đã chứng minh Đại Hồng Thuỷ là chính xác đúng hơn là có thực. Tuy nhiên, chạy Terra theo cách này, ta thấy có Đại Hồng Thuỷ xảy ra cách đây khoảng 6000 năm, chạy theo cách khác ta thấy kết quả là trái đất có tuổi 4,6 tỷ năm như kết luận chung của cộng đồng các nhà địa vật lý hiện nay. Tại sao như vậy ? Tiến sĩ Baumgardner cho rằng, ông đúng và các nhà khoa học khác sai! Cái nhầm lẫn của các nhà khoa học, theo ông ở chỗ các thông số ban đầu nạp cho nó. Các nhà khoa học sở dĩ cho rằng Trái đất đã 4,6 tỷ năm tuổi là vì họ giả thuyết các giá trị địa vật lý là một thông số khá ổn định kể từ khi trái đất được hình thành. Sự thay đổi độ nhớt của lớp yếu trong vỏ giữa (nói cách khác tốc độ thay đổi trạng thái từ dạng đặc cứng sang dạng mềm lỏng của đá silicat) là quá trình chậm chạp và có chu kỳ. Chu kỳ đó theo các nhà khoa học là 100 triệu năm. Điều đó có nghĩa cứ sau 100 triệu năm, quá trình biến dạng vỏ trái đất lại xảy ra một lần. Căn cứ vào tốc độ chuyển của đĩa vỏ cứng (các lục địa chẳng hạn) và với hằng số chu kỳ 100 triệu năm, số tuổi của trái đất đã được ước đoán. Song tiến sĩ Baumgardner lại không cho rằng các quá trình địa chất xảy ra ổn định theo thời gian. Có rất nhiều bằng chứng chứng tỏ đã có sự hoạt động bất thường, rất đột ngột, với quy mô và tốc độ rất lớn, xảy ra trong lịch sử. Ở đây chỉ tạm đưa ra 3 trong số nhiều vấn đề mà tiến sĩ Baumgadner sử dụng để chứng minh ý kiến của mình. Trước hết, các phương pháp dùng chất phóng xạ khác nhau đã cho ra kết quả rất khác nhau về tuổi quả đất. Có 3 nguyên tố phóng xạ được các nhà địa lý dùng phổ biến hiện nay: samarium (tan rã thành neodymium), rubidium (tan rã thành strontium) và potassium (kali) (tan rã thành argon). Tốc độ tan rã của các nguyên tố này được biết rõ. Nhưng oái oăm ở chỗ, cùng một mẫu đá, mỗi phương pháp cho một kết quả khác nhau. Ví dụ, mẫu đá bazan cardenas, một dạng đá núi lửa thuộc thời kỳ tiền cambri (cách đây 4 tỷ đến 750 triệu năm) tìm thấy ở Grand Canyon đã được xác đinh là 1,7 tỷ năm nếu dùng samarium, 1,1 tỷ năm nếu dùng rubidium và 0,7 tỷ năm nếu dùng potassim. Thứ hai, hiện tượng tích tụ “hoá thân của thực vật” ở các mỏ than đã chứng tỏ một điều rằng nhất thiết phải có một Đại Hồng Thuỷ xảy ra. Sức nước mãnh liệt đến mức cuốn theo tất cả rừng trên đường đi của nó, dồn vào những hố trũng trên mặt đất để sau này hình thành các mỏ than. Nếu không, làm sao giải thích được hiện tượng cây cối thì rơi rác khắp nơi, còn than thì lại dồn về một chỗ? thứ ba, sự đồng thời có mặt các vỉa cắt trong đá silicat, đá vôi ở thời Paloezic, Meseozic và thậm chí trong đá Cenozoic đã chứng thực rõ ràng về một sự vận chuyển nhờ năng lượng nước rất cao của các trầm tích này. Thật thú vị, kết cấu , kiểu sắp xếp các trầm tích đá này khá tương đồng với bề mặt hành tinh Venus, đứa em rất giống chị trái đất về kích cỡ và vật liệu cấu thành. Những hình ảnh màu tàu thám hiểm vũ trụ Magellan đầu những năm 1990 thu được khá rõ nét cho thấy, Venus cũng mới trải qua một quá trình sụt trôi, giống hệt kịch bản của Tiến sĩ Baumgardner về Trận Đại Hồng Thuỷ. Đường nhiên, các nhà khoa học vô thần chưa “tâm phục khẩu phục” trước lý thuyết sụt trôi. Tuy cho đến lúc này chưa ai có thể bác bỏ, hoặc tìm ra những sai sót thuộc về toán học, hoặc giả thuyết địa vật lý mà tiến sĩ Baumgarder sử dụng cho Terra, các nhà địa chất học vẫn cho rằng, không thể có quá trình đột biến của kiến tạo vỏ trái đất, mà chỉ có sự thay đổi từ từ với chu kỳ 100 triệu năm mà thôi. Về phía mình, tiến sĩ Buamgarder cương quyết khẳng định giả thuyết như vậy là hoàn toàn sai lầm. Cuộc tranh luận vẫn chưa có hồi kết.

Trích VnExpress 18/2/2004.
(Theo Tia sáng, Nguyễn Tiến Vãn)

* Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng: Những phương pháp tiếp cận khác nhau cùng đưa đến một kết luận giống nhau: Đã từng xảy ra một trận Đại Hồng Thuỷ làm huỷ diệt một nền văn minh trên Địa Cầu.


Như vậy, từ sự luận giải và chứng minh ở trên là cơ sở của một giả thuyết cho rằng: Đã tồn tại một nền văn minh siêu việt của nhân loại trên trái đất. Nền văn minh này đã bị huỷ diệt. Lịch sử văn minh nhân loại hiện nay chỉ là sự tiếp tục lặp lại những gì đã xảy ra có tính quy luật.


Nếu giả thuyết trên đây được coi là đúng và không có một giả thuyết khác hợp lý hơn, người viết hy vọng sẽ là tiền đề cho sự nghiên cứu tìm về những giá trị của một nền văn minh đã bị quên lãng và có thể giúp ích được nhiều cho tương lai. Những ý tưởng này có thể xin được bổ xung thêm phần minh chứng của nó là:


Trong cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” đã rất nhiều lần những tác giả của nó (Hoàng Đế, Quỷ Du Khu, Kỳ Bá...) nhắc tới những cổ thư như là sự biện minh cho những luận giải của mình. Điều này chứng tỏ rằng: Từ thời rất xa xưa, nhân loại đã có một nền văn minh đã xây dựng được học thuyết kinh điển làm cơ sở lý luận cho cuốn Hoàng Đế nội kinh – vốn chỉ là sự vận dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành – trong thực tế ứng dụng của Đông Y và cuốn sách này không phải là nội dung của học thuyết đó.


Phần tiếp theo đây sẽ là sự lý giải cho chủ đề đã được đặt ra “Định mệnh có thật hay không?” và những vấn đề liên quan tới nó.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Định mệnh có thật hay không? - Lời bạch
  2. Định mệnh có thật hay không? - Phần 1
  3. Định mệnh có thật hay không? - Phần 2
  4. Định mệnh có thật hay không? - Phần 3
  5. Định mệnh có thật hay không? - Phần 4
  6. Định mệnh có thật hay không? - Phần 5
  7. Định mệnh có thật hay không? - Phần 6
  8. Định mệnh có thật hay không? - Phần 7
  9. Định mệnh có thật hay không? - Phần 8
  10. Định mệnh có thật hay không? - Phần 9
  11. Định mệnh có thật hay không? - Phần 10
  12. Định mệnh có thật hay không? - Phần 11
  13. Định mệnh có thật hay không? - Phần 12
  14. Định mệnh có thật hay không? - Phần 13
  15. Định mệnh có thật hay không? - Phần 14
  16. Định mệnh có thật hay không? - Phần 15
  17. Định mệnh có thật hay không? - Phần 16
  18. Định mệnh có thật hay không? - Phần 17
  19. Định mệnh có thật hay không? - Phần 18
  20. Định mệnh có thật hay không? - Phần 19
  21. Định mệnh có thật hay không? - Phần 20
  22. Định mệnh có thật hay không? - Phần 21
  23. Định mệnh có thật hay không? - Phần 22
  24. Định mệnh có thật hay không? - Phần 23
  25. Định mệnh có thật hay không? - Phần 24
  26. Định mệnh có thật hay không? - Phần 25
  27. Định mệnh có thật hay không? - Phần 26
  28. Định mệnh có thật hay không? - Phần 27
  29. Định mệnh có thật hay không? - Phần 28
  30. Định mệnh có thật hay không? - Thay phần kết